Tăng Giá Hay Xóa Hạn Điền

  • Bởi tqvn2004
    23/07/2009
    0 phản hồi

    Huy Đức

    Giá đền bù đất nông nghiệp, có nơi, sẽ “cao gấp 2 lần giá đất thổ cư” nếu như “dự thảo” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trở thành nghị định. Mục đích của việc nâng giá là nhằm hạn chế đất ruộng bị “chuyển mục đích” kể cả chuyển cho “công nghiệp hóa”, sau khi diện tích đất lúa bị mất hơn nửa triệu hecta trong giai đoạn 2000-2007.

    Khi nghĩ, giá đất nông nghiệp cao gấp đôi đất thổ cư sẽ “làm nản lòng các nhà đầu tư”, không rõ các tác giả của dự thảo nghị định này có điều tra từ phía nông dân để làm rõ tiến trình sang nhượng đất ở nông thôn. Nhưng, chỉ cần loanh quanh Hà Nội thôi, sẽ thấy, ở nhiều nơi, chính nông dân phản đối việc thu hồi ruộng đất của họ để giao cho các nhà đầu tư chứ không phải là sẵn sàng bán đất bằng mọi giá.

    Tăng giá đất đền bù tuy “đánh” vào kinh tế nhưng bản chất lại là một công cụ hành chánh. Nó cũng mang cung cách mà lâu nay chính quyền vẫn làm là phê duyệt dự án cho các nhà đầu tư, thu hồi đất của dân, giao cho họ và áp đặt một mức giá đền bù. Nhiều nơi, phải “cưỡng chế” nông dân mới “chuyển”- không chỉ vì nông dân đã phải nhận một mức đền bù quá thấp mà còn vì họ không hề muốn bán đất của cha ông. Nếu quyền sử dụng đất Nhà nước trao cho nông dân được tôn trọng, ai muốn sang nhượng thì phải gặp họ mà thương lượng, chắc chắn những “lão nông tri điền” không bao giờ bán đi “bờ xôi ruộng mật” rồi chẳng biết con cháu sẽ làm gì để sống.

    Tất nhiên, cũng có không ít nông dân không cưỡng lại được những cám dỗ của xe wave, điện thoại viettel, nhà tầng… đã chủ động trong quá trình bán đất. Nhưng, nông dân cần được tư vấn thay vì hạn chế bằng các công cụ hành chánh như: chỉ có Thủ tướng mới có quyền cho chuyển mục đích với diện tích ruộng lớn hơn 5 hecta; cấm chuyển mục đích phần đất đã quy hoạch cứng cho nông nghiệp… Vì những quy định ấy sẽ chỉ làm tăng thêm chi phí thủ tục hành chánh cho các nhà đầu tư và gây phiền hà cho những nông dân muốn xắn một khoảnh vườn của mình cho những đứa con xây tổ ấm.

    Dự thảo chính sách này dựa trên căn cứ: dân số Việt Nam năm 2030, khoảng 110 triệu người; tổng nhu cầu thóc, 37,3 triệu tấn; lượng gạo xuất khẩu hàng năm, khoảng 8-9 triệu tấn. Đấy là những con số rất cần được xem xét, nhất là phần xuất khẩu. Việt Nam có nhất thiết phải có trách nhiệm giữ gìn an ninh lương thực cho thế giới nếu như phần ruộng đất để làm ra 8-9 triệu tấn gạo ấy đem xây nhà máy hay làm du lịch sẽ có hiệu quả hơn.

    Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tại phía Bắc, Hải Dương là tỉnh có tỷ lệ đất nông nghiệp giảm lớn nhất, bình quân 1.569 ha/năm, Hưng Yên 939 ha/năm, Hà Nội (cũ) là 653 ha/năm… Hải Dương, Hưng Yên cũng là một trong những nơi ruộng đất của nông dân được chia phân tán và manh mún nhất. Ở Hải Dương, mỗi một hộ có chưa tới nửa hecta mà nằm rải rác, trung bình, tới 10,3 ô thửa; nhiều hộ có trên 15 thửa ruộng, diện tích mỗi thửa rất nhỏ, chủ yếu là dưới 400 m2 (chiếm 92%). Hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng manh mún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7-0,8 hecta mà nằm phân tán trên năm bảy thửa. Với tình trạng đất đai như vậy, tương lai nông nghiệp không thể sáng sủa và không thể trách nông dân nếu như họ bán ruộng đất đi.

    Ở ngay những tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hải Dương, Hưng Yên… những hộ tích tụ được năm ba hecta cũng đang canh tác có hiệu quả hơn rất nhiều so với những hộ chỉ có năm bảy sào mà ruộng nương lại nằm rải rác. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, như chúng tôi đã từng đề cập, chỉ những hộ có mức tích tụ ruộng đất từ hàng chục tới hàng trăm hecta mới có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và kết quả: không những sản lượng lương thực làm ra trên một diện tích cao hơn mà chất lượng lúa gạo làm ra cũng khác.

    Một nông dân có 70 hecta ruộng ở An Giang, ông Nguyễn Lợi Đức, đã giảm được chi phí sản xuất một hecta, từ khoảng 20 triệu xuống 15 triệu, nhờ sử dụng máy san ruộng điều khiển bằng tia la-ze (lazer). Không chỉ tiết kiệm chi phí và tăng năng suất, những nông dân tích tụ ruộng đất lớn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đang khởi động tiến trình “công nghiệp hóa”; trước hết là tự “cơ giới hóa” các quy trình sản xuất, sau đó là đầu tư xây nhà máy…

    Xung quanh những trang trại trồng lúa của những người như ông Nguyễn Lợi Đức còn xuất hiện các loại hình dịch vụ khác, từ mua bán vật tư, xăng dầu, sửa chữa máy móc… cho đến các dịch vụ ăn uống, vui chơi. Người dân ở đây không nhất thiết phải có ruộng mới có việc. Có khá nhiều thanh niên đã tìm kiếm được thu nhập thông qua những việc làm “ly nông” mà không phải “ly hương”. Vậy nhưng, tích tụ ruộng đất như họ chưa được coi là “hợp pháp”.

    Nếu như, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mua ruộng đất rồi xây dựng nhà máy, đã hình thành được một tiến trình công nghiệp hóa, theo đó, chủ yếu “tích lũy” bằng cách khai thác đất đai giá rẻ ở nông thôn và sức lao động giá rẻ của con em nông dân. Thì, tiến trình công nghiệp hóa mà những người như ông Đức tạo ra, tuy không rầm rộ, nhưng khá là bền vững.

    Tuy không thể loại bỏ một trong hai cách công nghiệp hóa này, nhưng, nếu các nhà làm chính sách nhìn thấy tận mắt tại những khu công nghiệp, công nhân đang phải chen chúc 5-7 người trong một căn phòng cho thuê; làm việc 9-10 tiếng để tích lũy 5-7 trăm nghìn/tháng gửi về; thì mới thấy, tiến trình công nghiệp hóa bằng chính sách cho nông dân được tích tụ ruộng đất, không những cũng hiệu quả mà còn rất là nhân bản. Đảm bảo an ninh lương thực vì vậy, không chỉ là tăng giá đất mà là chính sách để nông dân được quyền “suy nghĩ”, quyết định và đi lên từ ruộng đất.

    Huy Đức

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi