Trần Duy - Một câu hỏi còn chưa được trả lời (2)

  • Bởi tqvn2004
    15/07/2009
    0 phản hồi

    Trần Duy

    Viết về “trăm hoa đua nở”, và phong trào đấu tranh cho dân chủ, cho tự do sáng tác của Nhân văn - Giai phẩm, nhiều tác giả nước ngoài tuy có nêu lên nhiều góc cạnh, nhưng rõ ràng chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng hợp được về sự cố Nhân văn - Giai phẩm, chưa nói đúng được về cái hoàn cảnh đã sinh ra Nhân văn - Giai phẩm, những hoàn cảnh của từng con người, từng cảnh ngộ.

    Chính việc anh Phùng Cung bị bắt làm tôi rất lo sợ và đau buồn, vì Phùng Cung không tham gia Nhân văn ngoài bài viết “Con ngựa già của Chúa Trịnh” nhằm vào một nhân vật có tên tuổi trong Hội Nhà văn (Nguyễn Tuân). Nhưng vì anh Phùng Cung có một số bài viết đầu tay đã chuyển cho một số đàn anh xem để biết, rồi không hiểu bằng cách nào đó những bản thảo ấy lại vào tay lãnh đạo (tôi không được đọc những bài viết ấy). Phùng Cung bị bắt giam vào năm tháng nào không ai rõ, không có phiên tòa nào xét xử, không rõ tội trạng, chỉ biết theo lời anh Phùng Cung thuật lại thì anh bị giam trong một trại giam đặc biệt dành cho những tội phạm quốc gia nguy hiểm; việc đối xử trong trại giam như thế nào không ai biết, chỉ biết anh Phùng Cung sau 10 năm bị giam được thả về suốt ngày không nói với ai một lời nào, như người câm, vì theo lời anh: đã ngót 10 năm anh “không được làm người”.

    Các anh lúc bình thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra thì các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!

    » Nguyên Hồng

    Tôi nhớ một cuộc họp tại trụ sở Hội Nhà văn ở đường Nguyễn Du năm 1957 dưới sự chủ tọa của Hà Minh Tuân, Nguyên Hồng… người đến họp có đông văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần…, qua những câu hỏi, những lời xác minh của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần thì đúng Phùng Cung là tác giả của những bài viết kể trên, và như vậy bản án đã úp lên đời Phùng Cung một tội trạng. Tôi còn nhớ câu của Nguyên Hồng nói sau khi kết thúc buổi họp: “Các anh lúc bình thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra thì các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!”. Ra đến cổng anh Nguyên Hồng vỗ vào vai tôi và bảo: “Đã biết sợ chưa!”.

    Quả tình tôi rất sợ, tất nhiên sợ về pháp luật là chính nhưng sợ hơn nữa là nhân tâm con người, sự tàn nhẫn của những con người đã bán rẻ nhân phẩm của mình để tự cứu mình, giẫm lên sinh mạng của những người khác để tự thoát thân.

    Con người tôi lúc bấy giờ xen lẫn sự tuyệt vọng, sự chán nản cùng với sự sợ hãi, nghèo khó và cô đơn…

    Tôi nhìn lại đống bút và màu bỏ xó ngót một năm, bỗng nhiên tôi thấy mình đã phụ bỏ một ai đó đã từng lẽo đẽo theo mình! Tôi thử cầm lại bút… nhưng việc trở lại với nghệ thuật không đơn giản như tôi muốn… Vẽ cái gì? Vẽ cho ai? Vẽ để làm gì? Và bản thân mình phải biết rõ mình là ai để vẽ!

    Tôi có ý định viết thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi có một thầy dạy học cũ tên là Phạm Cư Hài nguyên làm việc tại ngân hàng, là bạn thân với Thủ tướng. Tôi viết thư cho Thủ tướng trình bày những khó khăn trong đời sống trong nghề nghiệp, và đề nghị được Thủ tướng giúp đỡ. Tôi nhờ thầy dạy chuyển hộ lá thư. Trong thời gian chưa quá một tuần Phủ Thủ tướng trả lời tôi qua Đảng ủy Bộ Văn hóa do ông Võ Hồng Cương phụ trách. Tôi được gọi đến nhà riêng ông Võ Hồng Cương ở đường Lý Thường Kiệt; ông Võ Hồng Cương vẫn nằm trên võng hỏi tôi như mắng: “Tại sao anh lại có đơn trực tiếp lên Thủ tướng?”, tiếp đó ông hỏi tôi “Anh còn vẽ được không?” và giới thiệu tôi đến Sở Văn hóa Hà Nội.

    Tôi đến làm việc tại Công ty Mỹ thuật, tham gia những triển lãm: đấu tranh thống nhất đất nước, chống Mỹ Diệm, vẽ tranh áp-phích chính trị nhưng không được ký tên Trần Duy vào tranh. Với tôi, tham gia đề tài chính trị là cơ hội để có sự hiện diện của tôi trong cuộc đấu tranh cùng đất nước và dân tộc, mà có những tổ chức lúc bấy giờ muốn gạt bỏ tôi. Tôi cũng biết ở Công ty Mỹ thuật của Sở Văn hóa Hà Nội, ban lãnh đạo sử dụng tôi chỉ như một người thợ vẽ; thời gian ấy cơ quan văn hóa dùng tôi như dùng một người đang trong thời gian cải tạo lao động.

    Tôi làm việc ở Công ty Mỹ thuật được ít lâu, thấy không kham nổi vì phải vẽ ngày này qua ngày nọ theo đơn đặt hàng như một cái máy… Đề tài cạn kiệt, bút pháp trở nên nhàm chán và tôi đã xin thôi việc, mà hễ nghỉ việc là không có lương. Cùng thời gian đó tôi được gọi lên Bộ Công an và được hỏi:

    Hiện nay anh có yêu cầu gì? Nguyện vọng của anh là gì?

    Tôi trả lời: “Tôi chỉ muốn được đi vẽ”, và thuật lại việc tôi đi vẽ Chùa Thầy bị bắt giam ở một điểm gác, may sao hôm ấy có ô-tô của ông Song Hào đi qua, ông thấy tôi và nhận cho tôi về. Do đó tôi có đề nghị được cấp giấy cho phép đi vẽ, vì lúc ấy Hội Mỹ thuật đã khai trừ tôi. Bộ Công an cho tôi giấy được đi vẽ với lời dặn: “Giấy này anh chỉ được dùng lúc có công an và an ninh địa phương xét hỏi”. Tôi cũng không hiểu tại sao lại có lời dặn như vậy?

    Trong thời gian khó khăn ấy có nhiều cơ quan như XUNHASABA đặt tôi làm bưu thiếp, tranh lụa nhỏ của tôi ký bằng một tên khác: “Nhị Hà”, tên con gái tôi. Nhà xuất bản Quân đội cho tôi dịch và trả tiền đếm theo nghìn chữ. Tôi đã dịch những cuốn: Người Lô Lô, Histore d’une paix manquée (Lịch sử một nền hòa bình bị phá sản), các bản dịch này được trả công nhưng sách thì không được xuất bản. Có nơi thuê tôi khắc tranh gỗ (báo Vietnam, En Marche). Như vậy, tôi hiểu rằng, tuy có sự đố kỵ trong từng địa hạt, nhưng nói chung trên đất nước này và giữa dân tộc này, tôi và gia đình tôi vẫn còn được che chở, được giúp đỡ để có thể sống qua những tháng ngày gian khổ. Đó là một động lực giúp tôi sống và làm việc.

    Tôi nghĩ: Cái phản bội lớn nhất là mình phản bội mình. Tôi không phản những gì tôi đã làm, đã viết, đã vẽ trong quá trình phục vụ dân tộc và đất nước tôi. Đó là lý do trong một thời gian dài tôi không quan tâm đến những điều mà nhiều người đã hiểu lầm về tôi, hiểu sai về tôi, người thì xem tôi là công an, người lại cho tôi là gián điệp, là phản động, là tất cả những gì xấu xa về một con người tham gia chính trị.

    Tôi cam chịu mọi đối xử bất công cho đến năm 1987 ông Nguyễn Văn Linh có lệnh “cởi trói”, tôi được phục hồi tư cách Hội viên Hội Mỹ thuật, được vẽ như mọi người được vẽ, viết như mọi người được viết… Các bài báo tôi viết, khi đăng đều không có một ý nào bị bác bỏ. Hai cuộc triển lãm của tôi (vào các năm 1997, 2004) được công chúng và các cơ quan hữu quan ủng hộ, cổ vũ. Các sách tôi viết được in ra, bán các nơi không gặp trở ngại nào.

    Những điều ấy tôi có được không do tôi xin xỏ và cầu cạnh, mà chính là những quyền và khả năng của tôi đã bị một số người tước bỏ thì nay cuộc sống công bằng đã trả lại cho tôi.

    Trong thời gian im lặng của tôi, có người cho là tôi đã cộng tác với công an và phản bội phong trào… Tôi không phản bội ai, nhưng tự tôi thấy, tôi không thể đứng cùng hàng ngũ những người đã phản bội ngay chính cái tư tưởng đẹp mà họ đã từng có. Tôi đã được biết thời kỳ các anh Trần Dần, Tử Phác bị bắt giam, bị xử lý bất công. Hình ảnh của các anh ấy trong thời kỳ đấu tranh cho tự do sáng tác văn nghệ đã để lại trong tôi một niềm mến phục. Bỗng, với những tin tức về lớp chỉnh huấn ở Thái Hà ấp, những tâm hồn ấy, ở những con người ấy, đã không còn nữa!

    Và như vậy, sự thay đổi ở tôi không có nghĩa là tôi đã cộng tác với công an và bán rẻ anh em. Cơ quan công an qua nhiều kinh nghiệm đã bình tĩnh nghe và cân nhắc nên không nhất nhất dựa vào những tố giác của lớp Thái Hà ấp, do đó đã không có những bắt bớ tràn lan.

    Nếu có những vụ bắt các anh Trần Dần, Tử Phác lúc còn ở Văn nghệ Quân đội thì đó là do ông Tố Hữu ra lệnh cho Văn Phác bắt. Trần Dần dùng dao cứa cổ, được đưa đi bệnh viện; việc ấy đến tai ông Nguyễn Chí Thanh nên Trần Dần và Tử Phác được tha. Như vậy ngày các anh Trần Dần và Tử Phác bị bắt (tháng 2/1956) xảy ra trước ngày báo Nhân văn ra đời (20/9/1956) hơn 7 tháng. Tất nhiên không thể nói các anh bị bắt vì báo Nhân văn.

    Vụ bắt bà Thụy An và các ông Phan Tại, Minh Đức và sau cùng là Nguyễn Hữu Đang (tháng 4/1958), theo tôi, là do nhiều nguyên nhân chính trị mà một người như tôi không thể biết rõ hết được. Khi xử án 5 nhân vật này (người thứ 5 là Lê Nguyên Chí, bị tố giác là tìm đường chạy trốn cho Nguyễn Hữu Đang, phiên tòa diễn ra ngày 19/1/1960), tòa đã kết họ vào tội “gián điệp chính trị”, “phá hoại hiện hành”, nhưng tựu trung, trung tâm sự việc “phá hoại hiện hành” có thể kể tên ra được vẫn là việc ra báo Nhân văn. Tại phiên xử ấy chỉ có một người của Nhân văn (Nguyễn Hữu Đang) là bị cáo, nhưng tòa gọi đến 5 người khác trong Nhân văn ra hầu tòa với tư cách nhân chứng (Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Duy, Trần Dần, Tử Phác). Đây cũng là cách xử cả bọn “cua cùng một rọ”. Án tuyên xử tuy khác nhau, nhưng lời răn đe của bản án cũng chỉ là một.

    Có điều này, tôi cũng đã trình bày ở các phiên hỏi cung tại Bộ Công an. Tôi đã khai: suốt trong thời kỳ báo Nhân văn phát hành, tờ báo không có một quan hệ nào với bà Thụy An về bài vở, về thơ văn. Đó là sự thật.

    Tôi còn nhớ có lần anh Lê Đạt đưa tôi bài thơ “Cái lược” ký tên Thụy An và nói: “Cậu thu xếp đăng bài này”. - Tôi hỏi ý kiến ông Phan Khôi, ông ấy bảo tôi: “Không nên cộng sự với những người trước đây ở nội thành”. - Và tôi đã trả lại bài thơ này cho Lê Đạt…

    Tôi cũng có thể nói: báo Nhân văn không có quan hệ gì với Phan Tại và đoàn kịch của ông này. Thời kỳ làm báo Nhân văn tôi có nhận được một số giấy mời xem những đêm kịch do đoàn Phan Tại tổ chức tại rạp Tháng Tám. Nhưng tôi không đến xem một đêm diễn nào. Chỉ biết sau khi Nhân văn đã bị đình bản, thì mới có việc một số văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Thúy (vợ Lê Đạt) và Nguyễn Hữu Đang có đến chơi với bà Thụy An tại nhà Phan Tại ở phố Trần Quốc Toản (trong chuyện này, mối quan tâm chủ yếu của Đạt hình như chỉ là tìm kiếm một vài món phấn son cho cô vợ trẻ đẹp, giữa một Hà Nội đang hiếm dần các mặt hàng trang điểm “xa xỉ phẩm” mà thôi). Quan hệ ấy là do cá nhân những người ấy chịu trách nhiệm, không thể mang danh nghĩa báo Nhân văn, vì lúc ấy Nhân văn đã bị đình bản rồi.

    Bà Thụy An không cùng thế hệ với tôi, nhưng thời bà phụ trách báo Đàn bà trụ sở ở góc đường Wiellé (nay là đường Tô Hiến Thành), tôi cũng được biết ít nhiều về vai trò của bà trong giới cai trị người Pháp ở Hà Nội vào những năm 1939 - 1943. Do đó tôi tự xem không cùng vai vế để quan hệ với bà Thụy An.

    Như vậy, bà Thụy An và Phan Tại không hề có quan hệ nào với báo Nhân văn. Việc ghép cho thành mối quan hệ chính trị giữa một nhóm văn nghệ sĩ đấu tranh cho tự do sáng tác lành mạnh (vừa đi kháng chiến chống Pháp về) với nhóm Thụy An có tiền sử chính trị gắn với đế quốc chỉ là một chủ trương tuyên truyền, nhằm biến Nhân văn - Giai phẩm thành một bọn xấu, bị bọn tay sai đế quốc nằm vùng chỉ đạo và sử dụng.

    Cùng lúc tờ báo bị đóng cửa thì cũng là lúc người thủ quỹ của báo trốn đi mang theo số tiền bán báo. Lai lịch người này tôi không biết rõ, chỉ biết là người được Nguyễn Hữu Đang nhận vào. Ông Phan Khôi nói với tôi: số ngân phiếu bưu điện của độc giả gửi đến mua báo và ủng hộ báo thì nên đem nộp trả lại người gửi qua bưu điện, để tránh những liên quan về tài chính với những nơi mình không quen biết. Như vậy khi tờ báo bị đóng cửa là lúc mọi người đều trắng tay. Cũng may mà không còn công nợ với ai, với tổ chức nào.

    Nói như vậy để kết luận báo Nhân văn không có bất cứ một quan hệ tài chính nào với bất kỳ một tổ chức ngoại quốc nào, một cá nhân người nước ngoài nào. Nó tự nuôi nó và lúc chết trắng tay.

    Nếu muốn nhìn lại thì theo tôi, cần nhìn lại từ những ngày đầu tháng 3 năm 1955, thời gian mà Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Hoàng Yến ở Phòng Văn nghệ Quân đội chủ trương phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Trong lúc ấy thì Xuân Trường trên báo Nhân dân, Xuân Diệu trong 2 số báo Văn nghệ (tháng 2/1955) lại tung hô hết lời khen tập thơ này. Ông Phan Khôi nói với tôi: “Không ai cấm người làm thơ dở. Nhưng cái không may là người làm thơ dở lại làm người lãnh đạo”!

    Bản dự thảo của nhóm văn nghệ sĩ là quân nhân (Trần Dần, Tử Phác, Đỗ Nhuận, Trúc Lâm, v.v…, sau đó Đỗ Nhuận đã từ bỏ các chủ trương của dự thảo này, quay lại đánh Trần Dần, Tử Phác) đề nghị một số chính sách văn hóa văn nghệ trong quân đội như trả quyền lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ, đòi quyền tự do sáng tác, tách văn nghệ sĩ ra khỏi quy chế quân nhân - là những yêu cầu tiến bộ nhằm tạo điều kiện cho tự do tư tưởng, cho việc đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật. Chỉ có điều là nó trái ngược với chủ trương của nhóm văn nghệ sĩ đang nắm quyền lãnh đạo văn nghệ từ Việt Bắc trở về, muốn lấy thơ Tố Hữu với tập Việt Bắc làm mẫu mực duy nhất, muốn tạo ra một nền văn nghệ chỉ huy với Tố Hữu là thống soái.

    Việc đề nghị cải cách chính sách văn nghệ (trong quân đội) rốt cuộc đã bị xem là hoạt động của bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ (đây là kết luận trong báo cáo kết quả chống Nhân văn - Giai phẩm của Tố Hữu). Và việc phê bình tập thơ Việt Bắc củaTố Hữu bị xem là đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng! Rõ ràng đây là sự hoàn tất một mưu toan loại trừ một bộ phận văn nghệ sĩ bằng cách quy kết họ là thuộc hàng ngũ kẻ thù chống cách mạng, chống kháng chiến! Tố Hữu đã tự phong cho mình là thần tượng văn thơ cách mạng Việt Nam, và những ai chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu nghĩa là chống cách mạng, chống Đảng, chống lại tổ quốc!

    Nói một cách khác, vụ việc Nhân văn đã không được xét xử theo luật pháp nhà nước mà được xét xử theo yêu ghét của một số người lãnh đạo văn học nghệ thuật; theo chữ nghĩa thì đó là lynchage (là một thứ luật ở châu Mỹ dùng để xử gọn một đối tượng có lỗi đối với một số người), do đó sẽ thấy được việc một số người có quyền phán xử đối với những người yếu thế và không cùng xu hướng nghệ thuật với họ.

    Vụ việc phê bình tập thơ Việt Bắc nổ ra hoàn toàn không phải là do một nhóm chống Đảng hay phản động nào mà thật ra là do một nhóm văn nghệ sĩ dám công khai phê phán thơ của Tố Hữu, thơ của một nhà lãnh đạo văn nghệ, là thiếu chất sống thực tế, là nhạt nhẽo, là nịnh lãnh tụ một cách đao to búa lớn, là lười tìm tòi, v.v… Điều nguy hại nhất là việc Lê Đạt buộc tội thơ của nhà cách mạng này là có “tính chất tiểu tư sản”, và Trần Dần châm biếm: “tí ti căm thù, tí ti tình cảm”, v.v…

    Như vậy lớp học Thái Hà ấp chỉ nhằm đánh chết nhóm cầm đầu chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu. Chính vì họ chống Tố Hữu và thơ Tố Hữu nên Tố Hữu đã tìm mọi cách quy nhóm này vào tội chống cách mạng, chống Đảng, phản quốc. Một số nhà thơ trẻ và mới như Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Văn Cao chẳng có tư tưởng và hành động gì chống Đảng mà chỉ có ý đồ chống “lối đàn anh” trong văn đàn của nhà thơ Tố Hữu. Vụ việc Nhân văn - Giai phẩm bắt đầu chỉ từ mâu thuẫn giữa các thi sĩ sáng tác và thi sĩ lãnh đạo! Giới văn nghệ sĩ lãnh đạo đã dựa vào những luật bất thành văn để o ép, nạt nộ và chụp mũ chính trị lên đầu giới văn nghệ sĩ sáng tác. Tôi cũng chỉ là một người bất hạnh nằm trong số những người bất hạnh muốn đi tìm một cánh cửa mở để được thở không khí trong lành.

    Vì sự trừng phạt ấy, tôi khốn khổ cả một cuộc đời. Vì tôi dính Nhân văn mà gia đình bên nội bên ngoại liểng xiểng; thằng em tôi, một đại tá quân đội, đã khai chệch tên đệm (lẽ ra Trần Quang…, nhưng đổi ra Trần Hoàng…) đồng thời khai rằng chỉ là con nuôi của bố mẹ tôi, tất cả chỉ để khỏi liên đới, liên quan; anh em không nhìn mặt nhau vì cái lý lịch dính Nhân văn của tôi, mẹ tôi biết, đau khổ nên mất sớm. Cái lý lịch dính Nhân văn của tôi cũng gây khốn đốn cho chuyên môn của vợ tôi, một phiên dịch tiếng Đức kỳ cựu của Bộ Văn hóa từ thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám; lại thêm việc tôi bắt vợ tôi ra khỏi Đảng, thành ra sự tiến thân của vợ tôi càng khó khăn, chứ lẽ ra với học vấn rất tốt của mình, bà ấy phải hanh thông lắm. Cho đến sau này, vì lý lịch tôi dính Nhân văn mà thằng con tôi được giải kiến trúc của nước ngoài, lúc đầu không được nhận, phải nhờ can thiệp, mãi sau mới được nhận.

    Sau vụ bom Mỹ cuối 1972, nhà 62 Khâm Thiên của gia đình tôi bị sập nát, vợ tôi được mang con cái vào ở tạm tại khu nhà nhân viên trong khuôn viên Bộ Văn hóa ở phố Ngô Quyền, riêng tôi thì bị cấm không được vào đó. Thời kỳ miền Bắc bị chiến tranh phá hoại, mỗi khi trận ném bom đang diễn ra trên đầu mình, nhất là khi bom đang ném xuống phố Khâm Thiên mà tôi đang ở, tôi thường tự hỏi: nếu bị bom giết chết, tôi sẽ được chết như một người Việt ngay hay là người Việt gian?

    Trôi lên giạt xuống trong một thời gian dài với một số lương trợ cấp là 50 đồng/tháng của Ban Tuyên giáo Trung ương cho 5 người: Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Trần Duy, thì một hôm, sau ngày “cởi trói”, Lê Đạt báo cho tôi biết: “Có thể theo chỉ thị của ông Lê Đức Thọ, bọn chúng mình được xét về hưu”!

    Hôm ký lương hưu, sau khi đã xem những giấy tờ chứng nhận hoạt động của tôi trên các chiến trường, anh Nguyễn Đình Thi, chủ tịch Ủy ban Toàn quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nói với tôi:

    “Việc lương hưu của anh không do Hội quyết định; chúng tôi chỉ biết thi hành.”

    Và mức lương hưu của tôi được hưởng là mức lương hưu cho cán bộ cấp huyện. Như vậy thời gian đóng góp cho kháng chiến chống Pháp của tôi xem như bị xóa sổ.

    Nhưng oan khổ ấy, phần tôi, tôi xin chịu.

    Riêng điều làm tôi ân hận suốt đời là việc tôi, là phóng viên báo Nhân văn, đã mời các ông Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường và bác sĩ Đặng Văn Ngữ cho ý kiến về tự do, dân chủ, nhằm đưa ra kiến nghị để lãnh đạo tạo cho họ những phương tiện thuận lợi trong việc nghiên cứu về khoa học. Sự tố giác của lớp học Thái Hà ấp quy Nhân văn thành một tổ chức phản cách mạng đã bôi nhọ ý nguyện đẹp đẽ ấy và khiến cho các nhà trí thức kể trên bị đối xử trong một thời gian dài là những phần tử xấu.

    Gặp tôi, bác sĩ Đặng Văn Ngữ khi còn sống, lần nào cũng băn khoăn hỏi:

    “Anh nói rõ cho tôi biết Nhân văn của các anh là thế nào?”

    Câu hỏi ấy, tôi nghĩ, là câu hỏi của Đất Nước mà cho đến nay vẫn còn chưa được trả lời.

    Thiết nghĩ, những người nên sớm trả lời sẽ không phải ai khác hơn là những người đã có lần lên tiếng, dù do nhận thức lúc ấy hay chỉ do a dua, đã lên án phong trào Nhân văn - Giai phẩm là gián điệp, là chống Đảng, là phản cách mạng, là phản quốc.

    Thời gian đã trôi qua tròn nửa thế kỷ. Ngày mai, liệu có còn ai hiểu vấn đề và biết sự việc để có thể trả lời?

    Tháng 5 - tháng 6/2009

    © 2009 Trần Duy

    © 2009 talawas blog

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi