Trần Duy - Một câu hỏi còn chưa được trả lời (1)

  • Bởi tqvn2004
    14/07/2009
    0 phản hồi

    Trần Duy

    Ông Trần Duy, hoạ sĩ, nhà báo và thư kí toà soạn của 5 số báo Nhân văn, là một trong những người trực tiếp tham gia và trở thành nạn nhân của Vụ Nhân văn - Giai phẩm. Đây là lần đầu tiên sau hơn nửa thế kỉ im lặng, ông công khai đưa ra cái nhìn hồi tưởng của mình về sự việc này. Chúng tôi tin rằng bài viết của ông sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin bổ ích không phải chỉ cho việc đánh giá quá khứ mà còn cho nhận thức về những sự kiện đang diễn ra tại Việt Nam hôm nay. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

    talawas blog

    Từ khi tôi rời nhà trường phổ thông trung học và gia đình, có một nơi không bao giờ phụ tôi, lúc nào cũng an ủi tôi và vực tôi dậy. Đó là Mỹ thuật! Không có Mỹ thuật, không có cái đẹp, tôi cũng không có một cửa mở nào để bước vào cuộc đời. Cái đẹp ấy đúng là cái cuống rốn đã thay mẹ tôi nuôi dưỡng tôi và cho tôi tiếp xúc với cuộc sống, với con người.

    Tôi không theo một tôn giáo nào, một chủ nghĩa nào. Vì theo bất cứ một cái gì, không ít thì nhiều, mình cũng tự biến mình thành nô lệ của những điều mình chủ trương suy nghĩ hay hành động.

    Tôi thành người, thành một người yêu đất nước, yêu dân tộc chính là nhờ Mỹ thuật - vì ngay cái chủ nghĩa yêu nước của tôi cũng là chủ nghĩa yêu cái đẹp của đất nước, con người của đất nước mà thôi.

    Gia đình tôi là một gia đình phong kiến suy tàn, tôi mang theo cái buồn của sự suy tàn ấy mong tìm một lối thoát và trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là cánh cửa thoát nạn của đời tôi. Những sự rủi ro vẫn đeo đẳng tôi từng bước…

    Cách mạng lên, cha tôi bị bắt (sau cha tôi được tha là nhờ cụ Huỳnh Thúc Kháng can thiệp, cụ vẫn chưa quên người cộng sự trong tòa soạn báo Tiếng dân của cụ ở Huế). Tôi đang học bị mất nguồn tài trợ gia đình. Chính phủ Pháp bị Nhật lật đổ thì tiền học bổng của tôi cũng bị cắt. Tôi học đến năm thứ 3 thì trường Mỹ thuật Đông Dương không còn nữa. Năm 1946 tôi không muốn học khóa Tô Ngọc Vân ở Xuân Áng, do đó khóa học của tôi cũng dở dang.

    Tôi gặp anh Lê Hữu Kiều, nguyên là hướng đạo sinh, anh giới thiệu tôi vào Việt Minh. Dưới sự điều động của Thành bộ Việt Minh Hà Nội, tôi được giới thiệu vào Đảng Dân chủ. Lúc ấy tôi không có ý thức gì về đảng phái, tôi chỉ cần một tổ chức giúp tôi làm việc, đóng góp khả năng của tôi phục vụ đất nước. Ông Hoàng Minh Chính điều động tôi làm công tác mua vũ khí cho Việt Minh. Tôi liên lạc với quân đội Nhật tù binh của Đồng Minh, tiếp đó là với lính Tàu Tưởng đóng ở Hải Dương để mua một số lượng vũ khí khá nhiều, được chở về Hà Nội cho ông Hoàng Minh Chính.

    Đến ngày toàn quốc kháng chiến, ông Hoàng Minh Chính điều tôi vào bộ phận Quyết tử Quân đánh trường bay Gia Lâm mà ông là người chỉ huy. Tôi tham gia cùng ông Hoàng Minh Chính và các ông Đặng Việt Châu, Lê Minh Nghĩa trong mấy trận tập kích cho đến trận cuối cùng, ông Hoàng Minh Chính bị trọng thương, mọi người tin là ông đã chết tại sân bay. Tôi mang chiếc ví, bút máy và giấy tờ kỷ niệm mà ông Hoàng Minh Chính trước khi ra trận ủy tôi mang đưa lại cho vợ ông là bà Hồng Ngọc; tôi đến gặp bà Ngọc tại trạm cứu thương Vân Đình trao những kỷ vật trên và báo tin anh Chính đã bị tử thương. Bà Ngọc vừa khóc vừa cười bảo tôi: “Anh Chính còn sống và đang nằm điều trị ở đây”.

    Ban chỉ huy đánh trường bay Gia Lâm giải tán, ông Đặng Việt Châu giới thiệu tôi với ban chỉ huy Khu 10 lúc đó đóng ở Tuyên Quang - Phú Thọ. Khoảng cuối 1946 đầu 1947 tôi đến ban chỉ huy Khu 10 gặp ông Song Hào và được điều vào làm tại ban địch vận. Tôi tham gia những chiến dịch ở Khu 10, viết, vẽ cho báo Sông Lô, được giới thiệu làm việc cùng ông Đặng Văn Việt, người chỉ huy chiến dịch đường số 4.

    Sau chiến dịch Điên Biên Phủ tôi được cử về Tuyên Quang cộng tác với ông Chiến Sỹ, một trí thức người Đức tên là Erwin Borchers, bỏ hàng ngũ quân đội Pháp sang tham gia kháng chiến từ thời kỳ bí mật. Ông là người phụ trách trại tù binh Pháp ở Núi Cố, tôi là phiên dịch. Vào khoảng tháng 3 năm 1950 ông Nguyễn Huy Tưởng nhận tôi về Hội Văn nghệ Việt Nam. Cùng thời kỳ ấy Cục trưởng Cục Quân y là bác sĩ Vũ Văn Cẩn có đề nghị đưa tôi về giúp ông Từ Giấy trình bày và vẽ cho báo Vui sống, tuyên truyền cổ động cho phong trào vệ sinh phòng bệnh.

    Năm 1950 Hội Văn nghệ cử tôi và một số cán bộ của Hội tham gia đoàn cải cách ruộng đất tại Yên Thế, Bắc Giang. Những điều tôi chứng kiến ở các buổi đấu tố, về cách xử án, cách đối xử với các đối tượng bị quy là địa chủ, khiến tôi không mấy đồng tình và từ đó trong tôi đã có những suy nghĩ không hay về cải cách ruộng đất. Do đó tôi bị thải hồi và giao trả về Hội Văn nghệ với án kỷ luật: chống cải cách ruộng đất.

    Tôi còn nhớ, người ta bố trí hai nhân viên có mang súng đưa tôi trả về Hội Văn nghệ. Đến một quãng đường nào đó thì may quá, gặp tướng Đàm Quang Trung đi ngựa cùng hai người nữa. Anh ấy nhận ra tôi, ngạc nhiên hỏi đi đâu mà lại có lính gác thế này, tôi nói tôi đi cải cách, bị thải hồi về. Anh ấy bảo thế thì đi cùng với anh ấy, rồi đưa giấy tờ của anh cho hai nhân viên đi với tôi xem để biết chắc anh là Đàm Quang Trung (lúc ấy là một vị chỉ huy quân đội vùng Đông Bắc), và nhận sẽ đưa giúp tôi về tận Hội Văn nghệ ở Thái Nguyên. Khi hai nhân viên ấy quay về rồi, anh Đàm Quang Trung bảo tôi: May cho cậu là trên đường chưa gặp máy bay Pháp đi tuần, chứ trên con đường chỉ cách đồn Ngô vài chục cây số thế này, hễ có máy bay, hai cậu kia nó sẽ “feu” (bắn) cậu đấy!

    Tiếp theo sự buồn phiền về đợt tham gia cải cách ruộng đất là cuộc cải tạo và vận động tư sản trong những năm tiếp quản thủ đô.

    Tôi có một người bạn tên là Lê Chất phụ trách ban thương nghiệp, anh rủ tôi tham gia vận động những tư sản có tiền, có cơ sở, có tâm huyết để họ gia nhập các tổ chức kinh doanh mới lập ra. Sau một thời gian chưa đầy một năm, các tổ chức này đã lật ngược lại những điều quy ước và biến những tư sản bỏ vốn ấy thành đối tượng đấu tố của cuộc vận động đánh đổ tư sản. Thế là tôi lâm vào một tình thế mà phía nào cũng xem tôi là kẻ địch. Tôi buồn và tự hỏi mình nên hành động như thế nào để tồn tại? Tôi hầu như không có bạn bè, có nghĩa là không có nơi nương tựa về tâm hồn.

    Đi theo mong ước làm điều gì đó có ích cho đất nước, cho dân tộc, tôi đã gặp nhiều điều không may, gây ra những tình huống đẩy tôi thành ra đối lập với thời cuộc. Và trong sự bế tắc ấy, tôi muốn đi tìm một lối thoát, đó lại chính là con đường đưa tôi tham gia nhóm Nhân văn.

    Phải nói cho minh bạch, khi tham gia Nhân văn cùng ông Phan Khôi, tôi vẫn ước mong đóng góp một tiếng nói cho dân chủ, cho sáng tác và may ra cũng là một con đường nghệ thuật mà tôi mong nương tựa nên tôi rất tích cực hoạt động cho tờ báo ra đời.

    Nhiều ngưới nghĩ rằng tôi là một họa sĩ, sao lại có thể làm thư ký cho một tờ báo? Thật ra hoàn cảnh lúc ấy của Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao, Hoàng Cầm, những nhà văn nhà thơ đã có tên tuổi, đều khiến họ không thể đứng tên xin ra báo. Họ là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có thể được cử đến làm ở các tờ báo của Đảng, của các đoàn thể, nhưng lại không thể đứng tên xin ra báo tư nhân. Họ đã tìm đến ông Phan Khôi và tôi; ông Phan có danh nghĩa một nhân sĩ nổi tiếng, tôi thì có nghề họa để lên khuôn tờ báo, để làm các công việc cụ thể với nhà in.

    Có thể nói tờ báo Nhân văn ra đời mà không có bất cứ một cơ sở kinh tế nào tài trợ. Tôi đi gặp từng nhà in, không mấy ai mặn mà ủng hộ. Tờ báo ra đời chính là nhờ vào giấy phép của Sở Văn hóa Hà Nội. Tôi đến cửa hàng văn phòng phẩm ở Tràng Tiền mua đươc 5 ram giấy. Tiền mua giấy đó là của ông Minh Đức, mặc dù lúc này ông ấy cũng túng thiếu, chỉ vì trước sau vẫn cảm phục Nguyễn Hữu Đang nên ông ấy hết lòng giúp đỡ (một đời ông ấy tan nhà nát cửa, lâm vòng lao lý, chỉ vì chí tình với bạn). Việc in các số đầu là nhờ ông Đỗ Huân, chủ một nhà in ở đường Nguyễn Thái Học.

    Tờ báo xuất bản được nhưng mâu thuẫn và bất đồng giữa Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang ngày càng tăng. Nói chung mọi người trong tòa soạn đều cảm thấy cùng đi trên một chuyến xe mà người lái xe chạy không theo lộ trình mong muốn của những người cùng đi trên xe. Ngoài chủ nhiệm (là ông Phan Khôi) và thư ký tòa soạn (là tôi), số còn lại chia làm hai phái: các văn nghệ sĩ (Lê Đạt, Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác) một nhóm; một mình Nguyễn Hữu Đang một nhóm.

    Nguyễn Hữu Đang vốn chỉ mới được điều động về Hội Văn nghệ, về báo Văn nghệ từ hồi tiếp quản thủ đô (tháng 10/1954), tuy có tên trong thành viên tòa soạn nhưng không có chức quyền gì cụ thể rõ ràng. Lê Đạt là phái viên được điều từ Văn phòng Tổng Bí thư Đảng xuống Hội Văn nghệ. Theo ông Đào Duy Kỳ cho tôi biết thì hồi kháng chiến, khi còn làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng, Lê Đạt lúc đi tham gia cải cách ruộng đất đã cưới một cô cốt cán; đến khi về tiếp quản thủ đô, anh làm quen và yêu một cô văn công rồi bỏ cô cốt cán kia; vì việc ấy, anh bị kỷ luật, bị điều động khỏi Văn phòng Trung ương, xuống Hội Văn nghệ. Tại tòa soạn báo Văn nghệ, tuy không giữ chức vụ gì cụ thể, nhưng Lê Đạt thường nổi bật bên cạnh những biên tập viên hiền lành như dạng Trọng Hứa; một vài anh em trong báo còn nhận ra rằng các cấp trên muốn qua Lê Đạt để kiềm chế Nguyễn Hữu Đang. Nhưng Đang là người có kiến thức rộng, có hoài bão lớn, là người không dễ nghe theo ai, nên khi tham gia báo Nhân văn, Đang có chủ trương của Đang, cũng như Lê Đạt và mấy văn nghệ sĩ kia đều có chủ trương riêng của họ. Số văn nghệ sĩ tham gia Nhân văn hầu như không có mấy quyền hạn với tờ báo, nên các việc của tờ báo là do Đang và Đạt quyết định.

    Lê Đạt tính trịch thượng, nói năng quyết đoán, coi thường mọi người; nhưng Nguyễn Hữu Đang cũng không phải tay vừa. Kết quả là Đang và Đạt không mấy khi nhất trí với nhau về bất kỳ một vấn đề nào.

    Lê Đạt phàn nàn với tôi:

    “Cậu phải có ý kiến với Đang… Tờ báo không phải của Đang!”

    Tôi hỏi :

    “Vậy thật ra tờ báo là của ai…?”

    Có thể nói, tờ Nhân văn trên thực tế nằm trong tay một số người thường xuyên cãi vã nhau.

    Đến khi chuẩn bị làm số 6, tôi và Lê Đạt, Văn Cao bàn đổi hướng để tờ báo nói về hội họa, nên đã chuẩn bị cho số báo chuyên về tranh áp-phích của Ba Lan. Tôi đến làm việc với sứ quán Ba Lan và có đủ tài liệu về tranh áp-phích của Ba Lan. Ngay ngày hôm sau đó có giấy của Thủ tướng triệu tập… (về việc này tôi đã viết trong bài tưởng niệm ông Phan Khôi năm 2007). Tôi được mọi người cử đi và đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi về nói lại với Lê Đạt, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang những điều căn dặn của Thủ tướng. Nguyễn Hữu Đang bỏ cuộc họp tự động đến nhà in. Văn Cao và Lê Đạt cùng nói với tôi:

    “Thế là Đang sẽ thay đổi nội dung tờ báo, sẽ hướng về tình hình chính trị Đông Âu, Ba Lan, Tiệp Khắc…”

    Nhưng số 6 chưa kịp in đã bị đình chỉ tại nhà in, ngoài sự hiểu biết và lo liệu của chúng tôi. Lê Đạt và Văn Cao bảo tôi:

    “Cậu đứng ra xin đình bản tờ báo!”

    Tôi đáp:

    “Vì tờ báo không do tôi chủ trương và khi nó ra đời là do nhóm các cậu, vậy việc đình bản tờ báo phải do các cậu!”

    Ngày 15 tháng 12 năm 1956 có lệnh đóng cửa tờ báo. Mọi người cảm thấy thoát nạn, nhưng cảm thấy không có nghĩa là đã có thể thoát được nạn.

    Trong thời gian tờ báo gặp nhiều khó khăn, tôi có đến gặp ông Dương Đức Hiền và Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục…, các ông này đều bảo tôi:

    “Các cậu có bao giờ lường được những nguy hiểm của công việc các cậu đang làm?”

    Tôi đáp:

    “Tờ báo chúng tôi ra cũng như tờ Độc lập của Đảng Dân chủ… Có điều gì đáng nguy hiểm?”

    Anh Hoàng Văn Đức, người thật thà và cởi mở nói thẳng với tôi:

    “Việc nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của việc ấy!”

    Và nói thêm một câu bằng tiếng Pháp “Vous cherchez à franchir le Rubicon”.

    (Rubicon là tên con sông ngăn cách nước Ý và xứ Gaule (nước Pháp cũ); César đưa quân La Mã sang bình định xứ Gaule, theo chỉ thị của Thượng nghị viện La Mã, César lúc rút quân về không được vượt qua sông Rubicon, trước đêm 11 và 12 năm 49 trước Công nguyên. César bất tuân thượng lệnh đã cho đại quân vượt sông Rubicon tiến thẳng về La Mã, do đó đã nổ ra cuộc binh biến chống Pompée và Thượng nghị viện La Mã. Thành ngữ “vượt qua Rubicon” có nghĩa cảnh báo một việc làm táo bạo chắc chắn sẽ mang đến một hậu quả nguy hại.)

    Tôi về thuật chuyện với ông Phan Khôi. Nghe xong ông chép miệng và im lặng. ông Phan Khôi tỏ ra rất lo sợ. Càng lo sợ hơn là lúc được tin ngày 10 tháng 4 năm 1958 Sở Công an Hà Nội đã tiến hành khám xét và bắt những Thụy An, Phan Tại, Minh Đức, Nguyễn Hữu Đang. Trước đó đã có tin lớp chỉnh huấn được tổ chức tại ấp Thái Hà vào tháng 2 tháng 3 năm 1958. Trong số các văn nghệ sĩ được triệu tập không có tên tôi, cũng không có tên ông Phan Khôi. Ngay sau khi lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp được tổ chức thì cũng bắt đầu những ngày tôi bị xét hỏi tại Bộ Công an.

    Tôi bị gọi đến Bộ Công an, bị nhân viên của Bộ Công an và của Viện Công tố tra hỏi những nghi vấn về tờ báo Nhân văn do lớp chỉnh huấn Thái Hà cung cấp. Tôi biết gì thì trả lời biết, không thì trả lời không. Được đối đáp rành rọt như vậy một phần cũng nhờ cách hỏi cung và đặt vấn đề thẩm tra của Bộ Công an không o ép, không dùng phương pháp dọa nạt. Họ bảo tôi: “Chúng tôi cần anh nói thật, không thêm bớt tội trạng cho ai”. Tôi làm đúng theo lời của những người có trách nhiệm hỏi cung. Người theo dõi hỏi cung luôn luôn thay đổi, nhưng theo tôi nhận thấy ai cũng tỏ ra có thiện ý muốn biết rõ sự thật của vụ việc.

    Có một điều làm tôi ngạc nhiên là trong thời gian thẩm vấn, không ai hỏi tôi một lần nào, một câu nào về ông Phan Khôi. Tất nhiên, kể từ thời gian đó, cả cái lương cấp cho một nhân sĩ lẫn tiêu chuẩn có người phục vụ của ông Phan Khôi cũng bị cắt hết.

    Anh Văn Cao và một số anh em khác cho tôi biết ở lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp có người tố giác tôi là gián điệp, nhận tiền của Pháp do ông Durand cấp và của quốc tế. Nhưng những người hỏi cung tôi không hỏi về vấn đề này. Tôi có ý kiến với họ và đề nghị được minh oan thì họ trả lời:

    “Anh là gián điệp hay không thì chúng tôi đã có cách đối xử với anh, còn việc mọi người đấu tranh phát hiện là quyền của mọi người và của báo chí; chúng tôi không có trách nhiệm minh oan cho ai. Cách minh oan lớn nhất là cho đến nay là anh chưa bị bắt giam. Còn sau này anh có bị bắt giam hay không là do hành động của anh sau này.”

    Tuy nói vậy, tôi biết sự đi lại và quan hệ của tôi đều có người theo rõi. Và suốt hơn mấy mươi năm trời cuộc đời tôi luôn luôn bị đặt dưới sự theo rõi của cơ quan công an. Âu đó cũng là một phương pháp vô hiệu hóa những phần tử bị xem là không tốt.

    Qua tiếp xúc với một số anh em từng dự lớp chỉnh huấn ở ấp Thái Hà, tôi được biết ban lãnh đạo lớp học có thâm ý chia mọi người ra từng thành phần: tốp cơ bản, người lưng chừng, người xấu muốn trở thành người tốt, người tốt muốn trở thành người ưu việt. Do đó sau vụ đấu Nhân văn đã có những người cơ hội được đưa lên thành cấp lãnh đạo, thành người phụ trách, có chức vụ. Ban lãnh đạo lớp học dựa vào lòng yêu nước, yêu kháng chiến để kích động lòng căm thù, từ đó có những phát hiện và tố giác; họ đưa lên hội trường các bản báo cáo tham luận tố giác những ai có những hành động gì đó tỏ ra là làm gián điệp mật thám tay sai do địch cài lại… Do thế, không khí lớp học trở nên ngột ngạt. Có trường hợp, nhà điêu khắc Phạm Xuân Thi đã bị đánh chảy cả máu mũi, chỉ vì người ta cho rằng anh không chịu hăng hái đấu tranh! Và anh Tạ Thúc Bình phải khóc lên: “Anh em cùng đi kháng chiến với nhau nay lại đối xử với nhau như kẻ thù!” (Những tin này đều do các anh Phạm Xuân Thi, Tạ Thúc Bình, Phùng Quán nói lại cho tôi biết; người đã đấm anh Thi là một họa sĩ hiện còn sống, tôi miễn nêu tên.)

    Trong năm 1958, việc một số người như Thụy An, Phan Tại, v.v… bị bắt mà theo thông báo là do có liên quan đến chính trị, gián điệp, phá hoại đã gây một không khí khiếp sợ cho những văn nghệ sĩ từng tham gia báo Nhân văn hoặc các tập Giai phẩm, khiến họ không những bỏ cuộc mà còn đi ngược lại nguyện vọng lành mạnh, những ước nguyện đẹp đẽ muốn xây dựng một nền văn học nghệ thuật đổi mới, để biến thành những kẻ vô trách nhiệm trước phong trào do họ khởi xướng, bỏ rơi một số văn nghệ sĩ và trí thức nhiệt tình với phong trào mở rộng dân chủ và tự do sáng tác do họ nêu ra.

    Thật ra, theo chỗ tôi biết, tại lớp chỉnh huấn ở ấp Thái Hà cũng vẫn ít nhiều có cơ hội để tranh cãi, phản đối trước những lời buộc tội, vu khống vô căn cứ. Song chính do sự khiếp sợ, khiếp nhược, những người lẽ ra phải làm như vậy đã không còn giữ được nhân phẩm để lên tiếng tự vệ, để bảo vệ sự chính đáng trong tư duy, trí tuệ của mình.

    Lãnh đạo lớp học Thái Hà ấp, giống như những đối thủ của Achille, đã nắm rõ chỗ yếu của người anh hùng này là cái gót chân. (Achille là người anh hùng trong Iliade của Hy Lạp, - lúc sinh ra Achille, bà mẹ là Pélée đã cầm gót chân nhúng vào nước thần có phép biến Achille thành người không bao giờ bị tử thương, trừ cái gót chân nơi Pélée đã cầm để nhúng con vào nước phép. - Thành ngữ “gót Achille” trỏ cái nơi mà con người dễ bị tổn thương nhất.) “Gót chân Achille” của những người trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam là lòng đất nước, yêu tổ quốc, đã bị khai thác và lạm dụng. “Đất nước”, “Tổ quốc” bị đồng nhất với thể chế, với những người lãnh đạo, cả lãnh đạo Đảng, Nhà nước lẫn lãnh đạo từng ngành, kể cả lãnh đạo ngành văn nghệ! Thắc mắc với lãnh đạo, không tán thành với lãnh đạo, chê trách lãnh đạo, v.v…, - đều có thể bị quy dần, từ thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, đến chống chủ trương đường lối, chống cách mạng, chống Đảng, chống Tổ quốc. Lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp của Tố Hữu đã quy Nhân văn - Giai phẩm thành một biểu tượng về hoạt động chống Đảng, chống cách mạng, xem hoạt động Nhân văn - Giai phẩm là đi ngược lại tình cảm yêu đất nước, yêu tổ quốc. Lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp của Tố Hữu đã thành công trong chiến thuật ly gián một tầng lớp văn nghệ sĩ, nhưng đã thất bại về chiến lược vì đã để lộ bản chất gian độc của họ.

    Như vậy thông qua lớp chỉnh huấn Thái Hà ấp, lãnh đạo lớp đã gặt hái được một kết quả trái ngược với ý muốn của Đảng và Nhà nước. Một kết quả không thật, một kết quả ảo, để lại một hậu quả không hay cả cho anh em văn nghệ sĩ lẫn dư luận nước ngoài.

    (Còn 1 kì)

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi