Đông Nam Á chỉnh đốn hệ thống chính trị

  • Bởi tqvn2004
    04/07/2009
    0 phản hồi

    Hal Hill<br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Đông Nam Á đã từng là tâm điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế lớn gần đây tại Châu Á những năm 1997-98, cuộc khủng hoảng xuất phát từ Thái Lan và nhanh chóng lan sang các quốc gia xung quanh. Tại Indonesia, nó đã dẫn tới sự sụp đổ của thể chế Suharto tưởng như không gì lay chuyển được, tiếp theo đó là quá trình chuyển đổi nhanh chóng và tương đối thành công sang dân chủ [của quốc gia này]. Một cách gián tiếp, cuộc khủng hoảng đã đưa Thaksin Sinawatra lên nắm quyền, và tạo ra một thời kỳ hoàn toàn mới trong chính trường Thái Lan. Malaysia cũng bị chấn động bởi những sự kiện diễn ra sau vụ việc nổi đình nổi đám của Anwar Ibrahim [1]. Cuộc khủng hoảng cũng dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm hơn một cách rõ ràng tại ba nền kinh tế lớn của khu vực: Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Một thập niên trước, một loạt các sự kiện tương tự -- một cuộc khủng hoảng đã làm đảo lộn thể chế toàn trị tưởng chừng rất vững chắc -- đã xảy ra ở Phillipines.


    Điều gì đang chờ đợi Đông Nam Á trong cuộc khủng hoảng lần này? Liệu cuộc khủng hoảng toàn cầu có thay đổi vĩnh viễn các hệ thống kinh tế - chính trị và động lực phát triển của khu vực này? Có phải đây là chỉ dấu báo hiệu sự chấm dứt của cái gọi là mô hình Đông Á, hay ít nhất cũng là sự thay đổi đáng kể của nó? Và điều gì xảy ra với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, hay ASEAN?

    Ba điểm chung cần được nhấn mạnh trước khi đi vào chi tiết. Thứ nhất, sự đa dạng của Đông Nam Á khiến việc khái quát hóa trở nên khó khăn. Mười quốc gia ở khu vực khác biệt rất xa về cấu tạo chính trị, cấu trúc kinh tế, mức độ về phát triển và thể chế. Điều có thể là đúng cho Singapore lại khó có thể áp dụng cho Burma hay Việt Nam. Thứ hai, nguồn gốc của cuộc khủng hoảng hiện tại cũng hoàn toàn khác với cuộc khủng hoảng những năm 1997-98. Cuộc khủng hoảng hiện tại phát triển trong thị trường tài sản (asset market) và khu vực tài chính của các nền kinh tế tiên tiên, đặc biệt là Hoa Kỳ và Anh, trên bối cảnh mất cân bằng toàn cầu khổng lồ. Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á trước đây xuất phát từ Đông Nam Á, và có thể được giải thích bởi hàng loạt các yếu tố nội địa và quốc tế. Thứ ba, các nghiên cứu phân tích lịch sử các cuộc khủng hoảng và hệ quả của chúng còn rất chia rẽ. Một trường phái có ảnh hưởng lớn coi khủng hoảng là cơ hội, theo cách hiểu của Olson, để xã hội loại bỏ các thể chế cổ lỗ đã hết hạn sử dụng, hoặc thúc đẩy các chính quyền rụt rè, sơ cứng thực hiện các cải cách táo bạo hơn. Một trường phái khác nhấn mạnh thực tế rằng các cuộc khủng hoảng có thể làm chính quyền tan rã và bất lực trong việc kiểm soát xã hội, đặc biệt nếu sự co rút kinh tế sâu rộng lại đi kèm với bất an và hoảng loạn chính trị.

    Cho tới nay, chúng ta mới chỉ ở bắt đầu nhìn thấy phần nào câu chuyện xác đáng về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bởi sự thiếu vắng dữ kiện kịp thời và tin cậy ở nhiều quốc gia, và bởi sự lo ngại rằng sẽ còn những quả bom tài chính hẹn giờ khác nổ tung ở Hoa Kỳ hay Châu Âu. Đồng thời, một số dữ liệu công bố gần đây rất khó phân tích. Lấy ví dụ, xuất khẩu giảm đáng báo động vào tháng Giêng 2009 (bằng khoảng 35%, tính trung bình cùng kỳ trong khu vực). Nhưng con số này có thể -- hi vọng là vậy -- phản ánh tình trạng khan hàng hóa tại các kho trên toàn thế giới, thay vì là điềm báo trước cho xu hướng của toàn năm 2009.

    Câu chuyện [mà chúng ta mới chỉ bắt đầu nhìn thấy] thay đổi rất nhanh, và có hai lực mâu thuẫn đang tác động vào Đông Nam Á. Những yếu tố tiêu cực bao gồm sự cởi mở về thương mại của khu vực này, và do đó cả sự dễ tổn thương của khu vực trước lượng thương mại toàn cầu giảm sút nhanh chóng, kết hợp với hiệu ứng "bay tới nơi an toàn": trong khi thị trường tài chính của khu vực nhìn chung được đánh giá là chưa phát triển, thì nguồn vốn tư bản sẽ chuyển tới khu vực mà nhà đầu tư đánh giá rằng tại đó vốn của họ được bảo vệ tốt hơn (đây là một biến thể của "giả định về chủ nghĩa bảo hộ tài chính" đáng lo ngại của Gordon Brown). Còn yếu tố tích cực bao gồm, như một kết quả của những kinh nghiệm đau xót năm 1997-98, chính quyền và nhà đầu tư Đông Nam Á nhìn chung đã "tiết kiệm" hơn trong thập niên vừa qua. Các quốc gia đều có thặng dư tài khoản vãng lai; thâm hụt tài chính ở mức thấp và được bù đắp đầy đủ; ngân hàng đã tỏ ra thận trọng khi cho vay; tỉ giá hối đoái được thả tự do hơn; và doanh nghiệp nhìn chung đều cố tránh sử dụng phương thức đòn bẩy tài chính mạnh (high-leverage). Do đó, hiệu ứng gợn sóng trực tiếp từ vụ khủng hoảng [cho vay] dưới chuẩn ở Hoa Kỳ, cho dù có lây lan tới khu vực này, nhưng chỉ ảnh hưởng ở mức hữu hạn. Một số ít ngân hàng đã gặp khó khăn, như Ngân hàng Century ở Indonesia, và một số khác rơi vào tình trạng bấp bênh. Nhưng sáu tháng kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng, đã không xảy ra tình trạng sụp đổ tài chính ở tầm cỡ như Hoa Kỳ và Anh Quốc.

    Trong vòng vài tháng tới, cho dù cuộc khủng hoảng sẽ tạo ra một số căng thẳng về kinh tế và xã hội, ảnh hưởng của nó tới khu vực này có lẽ sẽ bị kiềm chế. Thật khó có thể nhìn trước được các hiệu ứng "mang tính thay đổi" lớn. Động lực chính trị trong nước, điều đang chuyển động tại một số quốc gia, sẽ tiếp tục thống trị môi trường chính trị ở quốc gia đó. Indonesia sẽ có bầu cử quốc hội và tổng thống từ tháng 4 tới tháng 9 (hoặc tháng 7 nếu Tổng thống Susilo bambang Yudhoyono chiếm được đa số phiếu trong vòng đầu cuộc bầu cử tổng thống). Tại Malaysia, vấn đề quan trọng là liệu sự chuyển giao quyền lực từ Abdullah Badawi sang Najib Razak tiến triển thuận lợi, và liệu liên minh hấp dẫn - nhưng cũng mong manh - của ông Anwar có áp đảo được Tổ chức Quốc gia Malay Thống nhất (United Malays National Organization) vốn đã nắm quyền 51 năm nay? Thái Lan được lãnh đạo bởi một liên minh yếu, cồng kềnh, và tuy có đa số ghế trong quốc hội nhưng không vượt chội. Quốc gia này cũng đang bế tắc trong cuộc cạnh tranh chính trị giữa hai màu áo "đỏ" và "vàng", và nếu một cuộc bầu cử phổ thông khác được thực hiện, nó rất có thể một lần nữa khẳng định sự ủng hộ của đa số cho một chính quyền thân Thaksin. Ở Philippines, chỉ còn một năm nữa là cuộc bầu cử Tổng thống sẽ diễn ra, và cuộc tranh luận chính trị bây giờ xoay quanh sự kiện này, cùng với thiên hướng dường như vô địch của quốc gia này là trừng phạt các vụ tham nhũng lớn và nhỏ. Các quốc gia toàn trị ở Đông Dương dường như không chịu ảnh hưởng từ áp lực chính trị xuất phát từ suy thoái, ngay cả với một thể chế dân chủ trên danh nghĩa như Campuchia. thêm vào đó, nền kinh tế của họ vẫn nặng về nông nghiệp, và như thế ít chịu ảnh hưởng bởi các xu hướng toàn cầu, và cả ba đều có tốc độ phát triển tương đối nhanh trong vòng hơn một thập niên.

    Đó là nói về tầm nhìn ngắn hạn. Trừ phi cuộc khủng hoảng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn -- và điều này ngày càng tỏ ra là khó xảy ra -- điều gì là những thách thức cho khu vực, xét theo trung hạn và xa hơn? Ít nhất có 4 hậu quả có thể nhìn thấy được.

    Thứ nhất, người ta sẽ trông đợi nhiều hơn ở các chính phủ trong thời điểm khó khăn. Sẽ có nhu cầu về một chính phủ tốt hơn, một sự tập trung lớn hơn vào các chương trình hỗ trợ xã hội có định hướng, và một nhận thức rằng phát triển [phải] đem tới sự tiến bộ cho đông đảo quần chúng. Cụ thể hơn, điều đó có nghĩa là phải lo lắng tới các nhóm lợi ích và khu vực "bất mãn" nằm bên ngoài các thành phần tinh túy ở thủ đô. Vấn đề này thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau trong khu vực. Ví dụ, ở Thái Lan, ông Thaksin đã khôn ngoan khai thác mối bất bình của các khu vực Bắc và Đông Bắc, nơi chiếm số phiếu đông đảo. Ở Malaysia, các thành viên nghèo hơn trong cộng đồng gốc Ấn cảm thấy bị bỏ rơi, đặc biệt là những người có thu nhập bị đe dọa bởi khoảng 20% lực lượng lao động vốn là những người mới nhập cư, trình độ thấp. Cũng có những lời phàn nàn từ thành viên của cộng đồng Bumiputera (người bản xứ ở Malaysia) "không có các mối quan hệ", những người được được hưởng lợi ích ít ỏi từ chương trình hỗ trợ người bản xứ đã kéo dài 38 năm nay. Ở Philippines, đó là mong mỏi của những khu vực bị bỏ rơi, đặc biệt là các vùng xung đột diễn ra liên tục ở Mindanao. Tỷ lệ học sinh bỏ học tăng cao, và chất lượng giáo dục thấp tại hệ thống trường công tiểu học cũng là một mối lo ngại lớn. Ở Cămpuchia, người ta cần phải lo lắng về những người "vô sản" do vấn đề "cướp đất" đang ra tăng ở quốc gia này, cộng thêm sự bất bình đẳng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là giữa Phnom Penh và phần lớn vùng nông thôn. Ở Indonesia, thất nghiệp là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là đối với giới trẻ thành thị có học vấn trung bình. Khu vực tụt hậu ở quốc gia này, chủ yếu là phía Tây, cũng là điều đáng lo ngại. Ở Lào và Việt Nam, các sắc tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa tỏ ra không nhận được lợi ích gì từ sự phát triển. Ở Singapore, hoàn cảnh của những công dân lớn tuổi vốn ít được đào tạo cũng là một mối quan tâm.

    Các thách thức phát triển của khu vực, tất nhiên, phức tạp hơn nhiều, nhưng danh sách phía trên chí ít cũng đủ để minh họa. Trong thời kỳ thuận lợi, với tăng trưởng, thì người ta có thể tìm cách che đậy những sự bất bình đó. Nói một cách "kỹ thuật", thì dù chỉ số Gini (chỉ số thường được dùng nhất để đánh giá sự bất bình đẳng) có tăng, như nó vẫn xảy ra với phần lớn các quốc gia trong khu vực, nhưng tốc độ tăng trưởng thường đủ để đảm bảo rằng số lượng dân chúng trong cảnh nghèo khó vẫn giảm. Khi tăng trưởng biến mất, đây biến thành trò chơi có tổng bằng không (thậm chí âm), và chính trị "phân bố" trở nên quan trọng hơn, và chính phủ sẽ bị đánh giá khắt khe trước những nhược điểm của mình.

    Liệu những ảnh hưởng của khủng hoảng như vậy có dẫn tới thay đổi thể chế, như những năm 1997-98? Như đã nêu, khủng hoảng có thể có những hiệu ứng trái chiều. Đối với thể chế có chính danh và được sự ủng hộ rộng rãi, và không bị coi là nguyên nhân dẫn tới vấn đề, đồng thời giải quyết hoặc chí ít chế ngự được các hiệu ứng, khủng hoảng thường đứng về phía các nhà lãnh đạo. Trong thời điểm có quá nhiều sự không chắc chắn, thì người bỏ phiếu có xu hướng "ghét rủi ro", và làm theo nguyên tắc "chọn người mình biết, còn hơn là chọn người chưa biết". Chứng cứ cho bốn tham số nói trên ở Đông Nam Á đến nay vẫn chưa rõ ràng. Tôi chưa thấy có lập luận nghiêm trọng nào tại Đông Nam Á đổ lỗi cho chính quyền tạo ra khủng hoảng hiện tại. Tất nhiên, có nhiều lời phê phán về cách xử lý, cũng như tốc độ xử lý, của chính phủ trước khủng hoảng. Ít nhất, sẽ cần có các lưới phúc lợi xã hội được xây dựng, cho dù có thô sơ đi nữa, để giảm bớt sự căng thẳng xã hội đang dâng cao. Có lẽ không ai ngờ, Indonesia đã là một quốc gia hiệu quả nhất trong khía cạnh này, với các chương trình việc làm cho chính quyền, gạo giá rẻ, chuyển tiền và các biện pháp giữ học sinh không bỏ học của mình.

    Tiên đoán thay đổi thể chế là một việc làm mạo hiểm. Hai quốc gia Đông Nam Á tỏ ra dễ tổn thương nhất hiện nay là Malaysia và Thái Lan. Thật trớ trêu, họ là hai quốc gia giàu có hơn trong khu vực với hàng thập niên phát triển thành công kể từ những năm 1950. Họ cũng có các thể chế chính trị rất khác nhau -- một bên liên tục nắm quyền 51 năm kể từ khi độc lập, một bên là liên minh mỏng manh, được dựng lên không qua bầu cử. Xét về mặt chính trị, cả hai đều xử lý cuộc khủng hoảng 1997-98 rất hiệu quả, mặc dầu theo những cách khác nhau. Nhưng hiện đang có sự bất bình lan rộng ở hai quốc gia này, và nếu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng không được kiểm soát một cách chuyên nghiệp -- ví dụ, nếu việc cứu các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên các nhà tư bản thân hữu (có liên hệ với các vị lãnh đạo), hoặc các chương trình phúc lợi xã hội bị thâm thụt -- thì các chính phủ này có thể sụp đổ. Ngoài ra, trong cả hai trường hợp, có các nhân vật và phong trào đối lập, sẵn sàng chiếm quyền lực ngay khi có cơ hội.

    Thứ hai, liệu cuộc khủng hoảng có dẫn tới sự thay đổi quan trọng trong chiến lược phát triển của Đông Nam Á? Chúng ta thường xuyên nghe thấy những lời quả quyết rằng cuộc khủng hoảng này đánh dấu "sự kết thúc của mô hình Đông Á", rằng những nền kinh tế này cần phải "tái cân bằng", hoặc rằng mô hình hướng xuất khẩu sẽ bị vứt bỏ. Những chỉ trích đối với "đồng thuận Washington" mỗi ngày một nhiều, và thái độ trước toàn cầu hóa bỗng nhanh chóng chuyển sang tiêu cực.

    Liệu những lập luận này có ý nghĩa hay không? Vấn đề này lớn và phức tạp, và đa số những bài hùng biện của người theo chủ nghĩa dân túy đều trống rỗng và ngụy biện. Thứ nhất, ai lại muốn từ bỏ một mô hình mà kể từ năm 1950 đã đem lại thành tích xóa đói giảm nghèo nhanh nhất trong lịch sử nhân loại? Thứ hai, những bằng chứng thực tế cho thấy các nền kinh tế càng mở tăng trưởng càng nhanh hơn những nền kinh tế đóng, ngoài trừ trường hợp tất nhiên là khi kinh tế toàn cầu đang trong khủng hoảng. Trừ phi ai đó muốn chấp nhận quan điểm cực đoan -- mặc dù phải thừa nhận rằng quan điểm đó không phải hoàn toàn vô lý -- rằng cuộc khủng hoảng hiện tại đang cho thấy một sự co rút dài hạn của nền kinh tế thế giới, thì các nền kinh tế mở sẽ tiếp tục thắng thế trong tầm nhìn dài hạn. Thêm vào đó, khi mà kinh tế bắt đầu hồi phục, các nền kinh tế này sẽ phục hồi nhanh hơn so với các nền kinh tế kém cởi mở.

    Sẽ là ngụy biện nếu cả quyết, như một số bây giờ đang làm, rằng những người ủng hộ các chính sách kinh tế tự do luôn cho rằng cởi mở sẽ tự động đảm bảo giàu có hơn. Các thuộc địa đa số đều cởi mở, nhưng điều này không giúp ích gì cho họ. Nói tổng quát hơn, cởi mở đương nhiên là con dao hai lưỡi. Toàn cầu hóa nhanh chóng chuyển tải “điều tốt” cũng như những “cái xấu”. Cái xấu không chỉ bao gồm cúm gia cầm hay ma túy, mà còn cả những bệnh tật truyền nhiễm trong lĩnh vực tài chính. Chính phủ cần phải kiểm soát toàn cầu hóa một cách có chiến lược, gặt hái những ưu điểm trong khi thực hiện những hành động ngăn chặn cái xấu. Cơ hội giáo dục cần phải được đẩy mạnh – đây vốn là một sức mạnh truyền thống của Đông Á – để đảm bảo rằng toàn bộ dân số có thể tham gia vào những cơ hội tạo ra bởi toàn cầu hóa. Những thể chế chia sẻ rủi ro, giữa nhà nước và tư nhân, phải được thiết lập để đối phó với những thay đổi đột ngột của thị trường. Bên cạnh đó, một số giao dịch quốc tế, ví dụ như luồng vốn ngắn hạn, chắc chắn phải có sự giám sát, nếu không muốn nói là điều tiết.

    Khủng hoảng hiện thời cũng dẫn tới việc xử dụng bừa bãi các thuật ngữ, đặc biệt phải kể đến việc sử dụng thuật ngữ “chính sách hướng xuất khẩu”. Nếu thuật ngữ này mang nghĩa đơn giản là “cởi mở”, tức là giảm tối thiểu các rào cản thương mại, thì chẳng cần gì phải thay đổi phương sách. Nhưng nếu nó có nghĩa là “chủ nghĩa trọng thương” (mercantilism), tức là chính sách cố ý ưu tiên xuất khẩu hơn là nhập khẩu trong quá trình tích lũy dự trữ quốc tế, thì chính sách đó chẳng phục vụ lợi ích của ai cả -- cộng đồng thương mại quốc tế cũng như người dân trong nước. Một điều đáng chú ý liên quan đến ý nghĩa thứ hai của từ “chính sách hướng xuất khẩu”, bởi vì nó ảnh hưởng tới Đông Nam Á. Khi khủng hoảng 1997-98 nổ ra, các quốc gia ở đây đã nhìn nhận, có thể đúng hoặc sai, rằng sự tích lũy dự trữ là cách để họ tránh khỏi những cuộc khủng hoảng kế tiếp do sự trốn chạy bất ngờ của dòng vốn ngắn hạn.

    Các nhà lãnh đạo Đông Nam Á cảm thấy tức tối – chúng ta có thể thông cảm với họ - về đường lối toàn cầu hiện nay. Một thập niên trước, họ được lên lớp bởi “Washington” (cả chính quyền Hoa Kỳ cũng như các thể chế tài chính quốc tế đặt trụ sở ở đây) về nhu cầu cần cải tổ và quản lý tốt hơn, và về sự chiến thắng của chủ nghĩa tự do kinh tế theo phiên bản Anglo-Saxon. Đến bây giờ, cuộc khủng hoảng lại đang bắt nguồn từ chính những quốc gia đó, và họ thậm chí còn xát muối vào vết thương của các nước Đông Nam Á, khi họ bảo vệ khu vực tài chính của riêng mình, với luồng vốn tạo ra từ sự bảo vệ đó làm trầm trọng thêm sự mong manh về tài chính của các thị trường đang nổi lên. Kết quả là các thị trường mới nổi trong khu vực phải trả giá đắt. Gần đây, lấy ví dụ, Indonesia đã phải tăng 3 tỷ USD để trả lãi cao lịch sử 11,2% cho trái phiếu 10 năm và 10,5% cho trái phiếu 5 năm của mình; đây tương đương với 600 điểm cơ bản trên trái phiếu của Ngân Khố Hoa Kỳ (US Treasurys). Trước đó, Phillipines cũng buộc phải trả cao hơn tỷ giá Ngân Khố Hoa Kỳ khi nó đi vay 1,5 tỷ USD.

    Dù sao, điều quan trọng là đừng vứt bỏ tất cả những gì chúng ta đang theo đuổi chỉ vì một vài sai lầm trong đó. Các chính sách đầu tư và thương mại cần tiếp tục cởi mở, đồng thời phải cân nhắc các hình thức điều tiết tài chính và giám sát tiết kiệm mới trong nước, cùng với một đường lối quản lý quốc tế mới. Đặc biệt quan trọng, các quốc gia Đông Nam Á phần lớn đã không quay lại với chủ nghĩa bảo hộ hoặc đánh tụt giá đồng nội tệ theo chủ nghĩa “mặc kệ hàng xóm” – cho dù các lãnh đạo Đông Nam Á đã gửi đi những tín hiệu có thể nói là lẫn lộn về phương án bảo hộ tại cuộc họp thượng đỉnh ASEAN hàng năm tại Hua Hin, Thái Lan vào đầu tháng Ba vừa rồi, và quan điểm “dùng hàng Mỹ” của chính quyền Obama đã vang dội tại phần lớn khu vực này. Do đó, những bài học rút ra là: hãy cởi mở; điều khiển toàn cầu hóa thay vì lẩn trốn nó; và khuyến khích các nỗ lực hợp tác quốc tế hướng tới một trật tự thế giới công bằng hơn và được điều tiết tốt hơn.

    Thứ ba, ASEAN giữ vai trò thế nào trong bối cảnh này? Một cuộc khủng hoảng toàn cầu cần có đáp ứng mang tính phối hợp trên toàn cầu. Không ai trong số các nền kinh tế Đông Nam Á thực sự nằm trong nhóm các ông lớn, mặc dù xét tổng thể thì ASEAN là một hiệp hội có ảnh hưởng ở khu vực, và Indonesia là thành viên của nhóm G-20, và nhóm đang tiến triển để trở thành một nhóm quan trọng trong việc đưa ra quyết định mang tính toàn cầu.

    Khi ASEAN đang tiến tới ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 42, nó có thể tự hào về những thành tựu của mình như là một nhóm dai dẳng và có ảnh hưởng nhất trong số các quốc gia đang phát triển. Nhưng cuộc khủng hoảng đang tạo ra thử thách nghiêm trọng đối với uy tín của nó. Một sức mạnh của ASEAN là cách tiếp cận nhẹ nhàng và không đe dọa đối với các vấn đề, và sự hài hòa mà nó đem lại cho khu vực vốn có lịch sử sóng gió này. Nhưng lịch sử chứng tỏ rằng ASEAN không được thiết lập để giải quyết các vấn đề quan trọng như cuộc khủng hoảng hiện tại. Nó gần như bất lực trước cuộc khủng hoảng 1997-98, giống như nó đã bất lực trước các vấn đề khó khăn khác, từ việc đòi độc lập của East Timor và cháy rừng ở Indonesia tới vấn đề Miến Điện.

    Trong cuộc khủng hoảng hiện tại, giọng nói của ASEAN được biết tới như là sự im lặng. Và giống như trong cuộc khủng lần trước, nó không có tư thế để lãnh đạo về tài chính cũng như trí tuệ. ASEAN có hai công cụ chính là Quỹ Tiền Tệ Châu Á (Asian Monetary Fund) và Sáng Kiến Chiềng Mai (Chiang Mai Initiative), cả hai công cụ này được đưa ra sau sự kiện 1997-98. Nhưng Quỹ tiền tệ thì còn quá non trẻ, trong khi Sáng kiến thì coi như không có khả năng hoạt động. Hơn nữa, nhiều thỏa thuận hỗ trợ đáng kể đang diễn ra lại không liên quan gì tới hợp tác bên trong ASEAN. Lấy ví dụ, Indonesia gần đây ký kết thỏa thuận với Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, Nhật Bản, Ngân Hàng Thế Giới và Úc, mặc dù Singapore và Malaysia có dự trữ ngoại hối rất lớn. Các vụ thương thuyết về trao đổi song phương cũng đang diễn ra khắp khu vực, cho thấy các vấn đề điều hành, quản trị và kỹ trị đang vẫn còn chưa được giải quyết.

    Điều quan trọng hơn cả là các nhà lãnh đạo tại khu vực vẫn chưa định ra được một tầm nhìn cho quãng đường trước mắt. Là một tổ chức, họ có thể cố gắng sử dụng sự tiết chế về chính sách thương mại một cách chiến lược, như một vũ khí để đưa ra một chương trình nghị sự toàn cầu rộng hơn nhằm tham gia vào phản ứng phối hợp với cuộc khủng hoảng. Bất kể các diễn đàn quốc tế đang có trọng lượng hiện thời như G2, G7 hay G20, không ai dám quay lưng với tiếng nói thống nhất từ khu vực có 550 triệu người dân, bao gồm những đất nước có mô hình phát triển thành công trong thế giới thứ ba.

    Còn cần quan sát nhiều hơn nữa để kết luận rằng ASEAN sẽ bị hủy hoại vĩnh viễn vì thiếu vắng hành động. Một quan điểm khoan dung là nó sẽ không bao giờ đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ giải quyết khủng hoảng phức tạp. Một đánh giá tiêu cực hơn là ASEAN sẽ mất dần ảnh hưởng – ít nhất là xét trên khía cạnh hợp tác kinh tế.

    Cuối cùng, Trung Quốc có thể duy trì sức tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong suốt cuộc khủng hoảng và tạo ra tác động thay đổi cấu trúc chiến lược khu vực, và thậm chí là toàn cầu.

    Cuối cùng, nếu – điều này có nhiều khả năng xảy ra – Trung Quốc có thể duy trì sức tăng trưởng kinh tế tương đối mạnh trong suốt cuộc khủng hoảng, và tạo ra hiệu ứng làm thay đổi cấu trúc chiến lược của khu vực, thậm chí là toàn cầu, một cách không thể quay ngược lại được. Khác với nhưng năm 1997-98, khi cả khu vực vẫn còn nghi ngại đối với Trung Quốc, cả về mặt chính trị cũng như là một đối thủ cạnh tranh, giờ đây nó được coi là niềm hy vọng chính để hồi phục, và là đầu tầu kinh tế chủ đạo. Trong tiến trình này, nó ngày càng được coi là đối tác phát triển hấp dẫn, theo thời gian sẽ thay thế hai cường quốc có vị trí thống trị truyền thống ở Đông Nam Á là Hoa Kỳ và Nhật Bản, như một đối tác thương mại, đầu tư và tài trợ chính. Về trí tuệ mà nói, thời kỳ suy thoái kéo dài ở Nhật Bản những năm đầu 1990 có hiệu ứng quan trọng tới cách suy nghĩ của Đông Nam Á về “mô hình Nhật Bản”, đặc biệt là sự mong muốn học hỏi các chính sách xúc tiến và lập kế hoạch công nghiệp của Nhật. Cuộc khủng hoảng hiện tại cũng dẫn tới sự cân nhắc lại tương tự đối với “mô hình Mỹ”, đặc biệt là quan điểm thị trường tài chính ít có điều tiết. Trong cả hai trường hợp, việc cân nhắc lại có ý nghĩa lớn hơn về ngoại giao thương mại cũng như địa chiến lược. Trong tiến trình đó, “quyền lực mềm” của Trung Quốc sẽ được tăng cường đáng kể. Tất nhiên là trừ trường hợp nó chơi sai lá bài của mình, ví dụ can thiệp chiến lược quá đáng ở nước ngoài, hoặc thất bại trong việc thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân bên trong Trung Quốc.

    Ông Hill là giáo sư về Kinh tế Đông Nam Á tại Trường Đại Học Quốc Gia Úc ở Canberra.

    ___________________________

    [1] Năm 1998, Anwar Ibrahim là phó Thủ tướng Malaysia, được coi là người kế nhiệm Thủ tướng Mahathir Mohammed. Nhưng rồi căng thẳng giữa hai người nổ ra, chủ yếu do bất đồng về các chính sách kinh tế. Thủ tướng Mahathir đã ra lệnh cách chức và bắt giữ Anwar Ibrahim, và có bằng chứng ông này đã bị đánh đập tra khảo. Anwar Ibrahim đã bị kết án 6 năm về tội tham nhũng, 9 năm về tội quan hệ tình dục đồng giới. Anwar kháng cáo cả hai tội danh, và tới năm 2004, Tòa Tối Cao Malaysia hủy bỏ bản án quan hệ tình dục đồng giới, trả tự do cho Anwar. Sau khi được trả tự do, Anwar tiếp tục tham gia chính trường, và tới năm 2008 trở thành đại biểu quốc hội Malaysia.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi