Nguyên tắc suy đoán vô tội

  • Bởi tqvn2004
    17/06/2009
    5 phản hồi

    Lê Minh Phiếu

    Có một nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 (Điều 72) và cả trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (Điều 9). Nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Hiến pháp, Điều 72:

    “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

    Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”

    Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 9:

    “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.

    Như vậy:

    Theo nguyên tắc đó, một người chỉ bị coi là có tội khi:

    - Đã có một bản án của tòa án; và:

    - Bản án đó đã có hiệu lực, tức là sau 15 ngày đối với bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị hoặc sau khi có bản án phúc thẩm (bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên).

    =============================

    Bình luận

    Trên thực tế, có nhiều vụ việc, một người Việt Nam bị coi như là có tội khi:

    - Bị công an coi là CÓ DẤU HIỆU PHẠM TỘI, rồi sau đó ra quyết định truy tố (có trường hợp bắt khi/sau khi có quyết định truy tố); (1)

    - Báo chí kết tội. (2)

    Việc (1) hay (2) có khi diễn ra đơn lẻ, có khi (1) xảy ra trước (2) và có khi (2) xảy ra trước (1).

    Tuy nhiên, dù gì đi nữa, việc cho một người là có tội bằng các cách thức trên là hoàn toàn sai, dù đó là tội gì.

    Hãy nhớ: Một người chỉ bị coi là có tội khi có một bản án đã có hiệu lực của tòa án!

    Từ khóa: Lê Minh Phiếu

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Phản hồi: 

    Thế này bác Tê Cu ạ.

    Các nhà làm luật biết rõ rằng cơ quan điều tra, công tố có trách nhiệm buộc tội nên thường có khuynh hướng buộc tội (bác đừng nhầm nhé, họ có quyền “buộc tội”, nhưng “kết tội” mới là quyền của Tòa án), vì thế đòi hỏi họ coi "suy đoán vô tội" là phương châm hành động thì đúng là vớ vẩn. Mỗi khi cơ quan điều tra quyết định khởi tố và đề nghị truy tố ai đó, là họ đã có căn cứ để tin rằng người đó phạm tội. Vấn đề ở chỗ: hội đồng xét xử sẽ xem xét các căn cứ do hai bên đưa ra như thế nào?

    Thông thường người ta đòi hỏi hội đồng xét xử phải khách quan, vô tư, để có phán quyết chuẩn nhất. Nhưng chỉ đòi hỏi khách quan, vô tư thôi thì chưa đủ, các nhà làm luật nghĩ vậy. Họ đòi hỏi hội đồng xét xử phải không hoàn toàn khách quan, mà thiên vị cho bị cáo một chút, bằng cách luôn cho rằng bị cáo vô tội, các căn cứ luôn xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo. Cái gì bị cáo nói hơi có vẻ có lý một chút, là họ gật. Cái gì bên công tố nói có vẻ chưa vững lắm, là họ lắc. Cho nên mới gọi là nguyên tắc "suy đoán vô tội", bác hiểu chứ. Chính vì thế mà nguyên tắc này chỉ là phương châm của riêng hội đồng xét xử mà thôi - những người quyết định trực tiếp số phận con người. Nếu phương châm này được thực thi đàng hoàng, thì cho dù cơ quan điều tra, công tố cứ “suy đoán có tội” thoải mái đi, vẫn rất khó đưa ai đó vào tù.

    Cho nên cái vị quan chức nào đó của Bộ CA nói rằng có nhiều vụ án oan sai vì cơ quan điều tra quá mải buộc tội mà không chú ý đến các tình tiết gỡ tội, thì chỉ đúng một nửa. Đó là: lẽ ra họ đã có thể không khởi tố vụ án, hoặc đình chỉ điều tra kịp thời, khi thấy các căn cứ buộc tội rõ ràng là quá yếu.

    Thế nhưng nếu các căn cứ đó, theo quan điểm của cơ quan điều tra, là đủ vững, thì sao? Lúc đó phải chờ ra tòa để xem phía bị can nhận xét các căn cứ đó như thế nào, và bản thân hội đồng xét xử thấy thế nào nữa. Mà nguyên tắc ở đây là: không cần căn cứ buộc tội phải quá yếu, chỉ cần thấy căn cứ buộc tội chưa thật mạnh, hoặc nếu thấy căn cứ của hai bên mạnh bằng nhau, là Tòa phải ngả theo phía bị cáo.

    Thành ra, một khi vụ án được đưa ra xét xử, thì trách nhiệm hoàn toàn thuộc về hội đồng xét xử. Tại sao thấy căn cứ buộc tội yếu như thế, căn cứ gỡ tội mạnh như thế, mà còn tuyên án để rồi oan sai? Rõ ràng hội đồng xét xử đã không tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội chứ còn sao nữa. Nếu họ tuân theo nguyên tắc này thì cơ quan điều tra, công tố sẽ phải nỗ lực tìm kiếm những căn cứ vững chắc ngay từ đầu, nếu không sẽ thua ngay.

    Còn báo chí, dư luận v.v... thì sao? Chúng chỉ cần khách quan, bình tĩnh khi đưa tin và nghe tin là tốt lắm rồi. Họ không nên vội vã tin rằng ai đó nhất định phạm tội đã đành, mà cũng không nên khăng khăng cho rằng không phạm tội. Tức là không thể áp dụng nguyên tắc “suy đoán vô tội” vào đây được, bác hiểu chứ.

    Kép Tư Bền

    Phản hồi: 

    Và nếu suy luận cho kỹ đọan này : Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã kết tội luật sư Lê Công Định chỉ vì luật sư này đã đấu tranh một cách ôn hoà bất bạo động ...

    Thì tôi e rằng không chính xác .
    Đến giờ nay, chỉ có LS Định tự ý nhận tội chứ chưa có kết luận chính thức của tòa .

    Phản hồi: 

    Trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003 dành hẳn một chương là Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” từ điều 3 đến điều 32 để nói về những nguyên tắc của tố tụng hình sự. Thế nhưng, tất cả những điều đó có phải đều là nguyên tắc cơ bản hay không thì cần phải xem xét lại.

    Theo quan niệm chung, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự hoặc đối với một loại hoạt động nhất định ; “là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về tố tụng hình sự” ; hoặc đó là “những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự và được các văn bản pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận”.

    Trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng thì nguyên tắc suy đoán vô tội được xem là quan trọng và chủ đạo suốt quá trình tố tụng. Suy đoán vô tộiniềm tin nội tâm là hai mặt của quá trình đánh giá vụ án, nói cách khác là mối liên hệ giữa ý thức chủ quan và đòi hỏi khách quan. Trong khi người tiến hành tố tụng có quyền và thậm chí tin vào bị can, bị cáo là người có tội thì đồng thời phải xác định nếu không đủ chứng cứ để khẳng định được điều đó thì phải tuyên bố bị cáo vô tội.

    Đối với nhiều nước đây là một nguyên tắc hiến định. Trong tố tụng hình sự Xô Viết và XHCN trước đây trong một thời gian dài, nguyên tắc này được coi là biểu hiện của quan điểm pháp lý tư sản. Mãi đến năm 1989, Liên Xô mới ghi nhận vào Điều 14 của đạo luật “Những nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự” với chính thuật ngữ La tinh gốc: “Praesumptio” – có nghĩa là giả định.

    Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên báo chí, trước câu hỏi : “Bộ luật Tố tụng HS có nhiều quy định khá chặt chẽ để phòng chống kết oan người vô tội, vì sao vẫn “lọt” những vụ án oan sai?”. Một vị quan nhớn của cơ quan điều tra Bộ Phú Lít trả lời : “Trong nhiều vụ án, anh em điều tra chúng tôi còn nặng suy diễn chủ quan, chỉ chú ý cột tội, chưa chú ý cởi tội cho đối tượng tình nghi”.

    Đấy nhá ! Nếu theo lời Kép Tư Bền : “Còn cơ quan điều tra, cơ quan công tố không cần tuân theo nguyên tắc này” (nguyên tắc suy đoán vô tội - người viết), thì… là… mà… chết dân “thấp cổ bé họng”, và nhà nước này còn phải “hao tài” để đền bù thiệt hại cho người bị kết án oan sai.

    Vài ví dụ :

    - Khi người bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam không thừa nhận có hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan điều tra (CA) áp dụng “nguyên tắc suy đoán vô tội” sẽ phải cho họ được viết đơn kêu oan, được quyền đề nghị cung cấp hoặc thu thập vật chứng, triệu tập nhân chứng có lợi cho lời kêu oan của mình.
    - CQĐT phải tham khảo ý kiến kiểm sát viên, người bào chữa trong việc đánh giá chứng cứ, trước khi kết luận vụ án; lời kêu oan của bị can, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa cần được CQĐT đưa vào hồ sơ vụ án.
    - Khi nhận thấy các chứng cứ cột tội do Điều Tra Viên thu thập thiếu thuyết phục (nói theo ngôn ngữ điều tra là 50/50), khi thời hiệu điều tra (kể cả gia hạn) đã hết mà việc điều tra không có được chứng cứ mới, Thủ trưởng CQĐT cần áp dụng nguyên tắc “suy đoán vô tội” để ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can.
    - Khi vụ án được đưa ra xét xử, nếu thấy các chứng cứ cột tội yếu, thiếu khách quan, nặng về suy diễn, bồi thẩm đoàn, thẩm phán cần áp dụng nguyên tắc “suy đoán vô tội” để tuyên bị cáo không phạm tội.
    - Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Trường hợp LS Lê Công Định vừa đọc bản nhận tội và xin khoan hồng phải được xem xét theo khía cạnh này và không được xem là chứng cứ để kết tội.
    - Ngoài ra, một khía cạnh đặc biệt quan trọng khác của suy đoán vô tội là yêu cầu mọi nghi ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo. Nếu có sự nghi ngờ mà không thể bổ sung gì hơn được về chứng cứ thì phải tuyên là bị cáo vô tội chứ không đòi hỏi phải “có căn cứ xác định bị cáo vô tội”. Được biết, khía cạnh này sẽ được quy định vào Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi sắp tới.

    Phản hồi: 

    Tôi vẫn chưa hiểu lập luận của bác Kép cho lắm:

    - Bác cho rằng "nguyên tắc suy đoán vô tội" chỉ áp dụng cho Hội đồng xét xử, còn các đối tượng khác (điều tra, công tố, báo giới, công luận, nhân dân v.v...) không cần để ý tới nó?

    - Hay bác đồng ý "nguyên tắc suy đoán vô tội" phải áp dụng cho mọi đối tượng, TRỪ cơ quan điều tra?

    Theo tôi hiểu, "nguyên tắc suy đoán vô tội" này áp dụng cho mọi đối tượng, ngay cả với cơ quan điều tra. Về mặt phương pháp, cơ quan điều tra BUỘC PHẢI nghi ngờ mọi đối tượng, mọi đầu mối và mọi động cơ liên quan đến vụ án, để thực hiện nhiệm vụ chính của mình là tìm ra thủ phạm. Nhưng họ không có quyền buộc tội, ngay cả khi chứng cứ rành rành rằng anh A phạm tội - đó là thẩm quyền của tòa án. Trước khi có phán quyết của tòa, thì anh A vẫn là người vô tội trước pháp luật. Tôi nghĩ bác Kép đã nhầm lẫn giữa phương pháp điều tra và quyền được tuyên bố "ai phạm tội" mất rồi...

    Đó là nói về quyền và trách nhiệm của cơ quan điều tra. Còn quyền và trách nhiệm của phóng viên, của báo giới thì sao? Họ có trách nhiệm đưa tin khách quan và công bằng, nhưng báo giới trong nước đã thực sự làm được như vậy chưa, khi đăng tải những bài viết như thế này?

    http://danluan.org/node/1595

    "Đã điều tra, xét xử đâu mà biết phạm tội hay không?" - Vâng, tôi cũng rất muốn có một phiên tòa công bằng và công khai cho luật sư Định, để xác định xem ai là người có tội trong vụ này. Đó cũng là ý kiến của tôi nêu ở đây:

    http://danluan.org/comment_redirect/2101

    [quote=Khách]Viết như tác giả bài này là chưa hiểu rõ về nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Điều luật nói rằng "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" có nghĩa rằng chỉ duy nhất Tòa án là cơ quan có thẩm quyền phán quyết ai đó có tội hay không, và chỉ sau khi có phán quyết của Tòa thì một người mới bị coi là có tội và bị trừng phạt. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không có quyền này.

    Còn thế nào là nguyên tắc suy đoán vô tội?

    Cần biết, nguyên tắc này được áp dụng trong hoạt động xét xử, là kim chỉ nam cho hội đồng xét xử, và cũng chỉ hội đồng xét xử mới phải tuân theo nguyên tắc này. Còn cơ quan điều tra, cơ quan công tố không cần tuân theo nguyên tắc này. Thậm chí là trái lại: nguyên tắc của cơ quan điều tra là "nghi ngờ tất cả". Xem phim trinh thám thường thấy các chú thám tử nói với mọi người: Từ giờ phút này, tất cả các vị đều trong vòng nghi ngờ, cho tới khi chúng tôi tìm ra thủ phạm!

    Nguyên tắc suy đoán vô tội trong hoạt động xét xử có nghĩa là Hội đồng xét xử phải luôn xuất phát từ giả định rằng bị cáo là người vô tội, mọi chứng cứ, lập luận đều phải xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo. Chỉ đến khi nào phía công tố đưa ra được những bằng chứng, lý lẽ một cách hết sức thuyết phục, khiến hội đồng xét xử không thể không tin rằng bị cáo đúng là phạm tội thật, thì lúc đó họ mới ra phán quyết tương ứng. Còn hễ thấy chứng cớ, lý lẽ của phía công tố hơi non non một chút, là họ tuyên bố bị cáo vô tội. Cho nên phía công tố phải cố hết sức để bảo vệ bản cáo trạng của mình, còn chú luật sư thì chỉ nhăm nhăm đá đểu, tìm ra một vài điểm chưa vững lắm trong luận cứ của chú công tố viên, là cứu được thân chủ rồi.

    Lấy ví dụ: cáo trạng nói rằng bị cáo lấy xe của nạn nhân rồi bỏ trốn, còn bị cáo nói rằng không định trốn, chỉ định đi uống cà phê một chốc rồi quay về trả xe, thì hội đồng xét xử phải tin lời bị cáo, chứ đừng có tin lời công tố viên.

    Nguyên tắc này dĩ nhiên gây khó cho bên công tố, chính là để tránh việc kết án oan người vô tội, chấp nhận bỏ lọt tội phạm cũng được.
    Trong vụ Ls Lê Công Định, nếu là người thấm nhuần nguyên tắc này, thì khi thấy LCD bị bắt tất nhiên không nên vội tin rằng LCD có hành vi phạm tội, bất kể báo chí có viết gì đi nữa (đúng ra báo chí phải thấm nhuần hơn ai hết nguyên tắc này). Và cũng không nên lập tức khăng khăng cho rằng LCD không phạm tội, rồi viết đơn đòi trả tự do ngay lập tức cho LCD. Đã điều tra, xét xử đâu mà biết phạm tội hay không?

    Đồng thời, giờ đây khi tận mắt thấy LCD đọc bản tường trình xin khoan hồng, thì cũng đừng vội cho rằng LCD là người hèn nhát, vân vân.

    Bởi mọi sự thường phức tạp, sâu xa hơn những gì biểu hiện ra bên ngoài rất nhiều, đồng chí Tê Cu nhể. Nói như cụ Marx mà Tê Cu một thời từng nhạo báng, thì biểu hiện bề ngoài thường không nhất trí với bản chất bên trong, và nhiều khi thể hiện trái ngược hẳn, khiến người ta rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ căn cứ trên các biểu hiện bề ngoài.

    Kép Tư Bền[/quote]

    Phản hồi: 

    Viết như tác giả bài này là chưa hiểu rõ về nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Điều luật nói rằng "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" có nghĩa rằng chỉ duy nhất Tòa án là cơ quan có thẩm quyền phán quyết ai đó có tội hay không, và chỉ sau khi có phán quyết của Tòa thì một người mới bị coi là có tội và bị trừng phạt. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không có quyền này.

    Còn thế nào là nguyên tắc suy đoán vô tội?

    Cần biết, nguyên tắc này được áp dụng trong hoạt động xét xử, là kim chỉ nam cho hội đồng xét xử, và cũng chỉ hội đồng xét xử mới phải tuân theo nguyên tắc này. Còn cơ quan điều tra, cơ quan công tố không cần tuân theo nguyên tắc này. Thậm chí là trái lại: nguyên tắc của cơ quan điều tra là "nghi ngờ tất cả". Xem phim trinh thám thường thấy các chú thám tử nói với mọi người: Từ giờ phút này, tất cả các vị đều trong vòng nghi ngờ, cho tới khi chúng tôi tìm ra thủ phạm!

    Nguyên tắc suy đoán vô tội trong hoạt động xét xử có nghĩa là Hội đồng xét xử phải luôn xuất phát từ giả định rằng bị cáo là người vô tội, mọi chứng cứ, lập luận đều phải xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo. Chỉ đến khi nào phía công tố đưa ra được những bằng chứng, lý lẽ một cách hết sức thuyết phục, khiến hội đồng xét xử không thể không tin rằng bị cáo đúng là phạm tội thật, thì lúc đó họ mới ra phán quyết tương ứng. Còn hễ thấy chứng cớ, lý lẽ của phía công tố hơi non non một chút, là họ tuyên bố bị cáo vô tội. Cho nên phía công tố phải cố hết sức để bảo vệ bản cáo trạng của mình, còn chú luật sư thì chỉ nhăm nhăm đá đểu, tìm ra một vài điểm chưa vững lắm trong luận cứ của chú công tố viên, là cứu được thân chủ rồi.

    Lấy ví dụ: cáo trạng nói rằng bị cáo lấy xe của nạn nhân rồi bỏ trốn, còn bị cáo nói rằng không định trốn, chỉ định đi uống cà phê một chốc rồi quay về trả xe, thì hội đồng xét xử phải tin lời bị cáo, chứ đừng có tin lời công tố viên.

    Nguyên tắc này dĩ nhiên gây khó cho bên công tố, chính là để tránh việc kết án oan người vô tội, chấp nhận bỏ lọt tội phạm cũng được.
    Trong vụ Ls Lê Công Định, nếu là người thấm nhuần nguyên tắc này, thì khi thấy LCD bị bắt tất nhiên không nên vội tin rằng LCD có hành vi phạm tội, bất kể báo chí có viết gì đi nữa (đúng ra báo chí phải thấm nhuần hơn ai hết nguyên tắc này). Và cũng không nên lập tức khăng khăng cho rằng LCD không phạm tội, rồi viết đơn đòi trả tự do ngay lập tức cho LCD. Đã điều tra, xét xử đâu mà biết phạm tội hay không?

    Đồng thời, giờ đây khi tận mắt thấy LCD đọc bản tường trình xin khoan hồng, thì cũng đừng vội cho rằng LCD là người hèn nhát, vân vân.

    Bởi mọi sự thường phức tạp, sâu xa hơn những gì biểu hiện ra bên ngoài rất nhiều, đồng chí Tê Cu nhể. Nói như cụ Marx mà Tê Cu một thời từng nhạo báng, thì biểu hiện bề ngoài thường không nhất trí với bản chất bên trong, và nhiều khi thể hiện trái ngược hẳn, khiến người ta rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ căn cứ trên các biểu hiện bề ngoài.

    Kép Tư Bền