ODA và tham nhũng: Điều chưa nói trong báo cáo

  • Bởi Bien-Tap
    11/06/2009
    0 phản hồi

    Jonathan Pincus (*)

    Nhân Hội nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức tại Buôn Ma Thuột vào hai ngày đầu tuần này, chuyên mục Sự kiện & Vấn đề số báo này tập trung vào hai vấn đề: Cập nhật diễn biến phát triển kinh tế dựa vào báo cáo của các tổ chức quốc tế và những nỗ lực phòng chống tham nhũng để nâng cao hiệu quả các dự án sử dụng vốn ODA.

    Ngân hàng Thế giới (WB) vừa đưa ra một đánh giá lạc quan về nền kinh tế Việt Nam trong một báo cáo chuẩn bị cho Hội nghị nhóm tư vấn các tổ chức viện trợ quốc tế và chính phủ vào đầu tuần này (Xem chi tiết trong bài “Kích cầu ở Việt Nam dưới góc nhìn của WB” tr.11)… Tuy nhiên, những gì đáng lưu ý về báo cáo này là những điểm WB bỏ qua hơn là những điểm được đưa vào báo cáo.

    Chính sách tỷ giá WB tập trung vào vấn đề thâm hụt tài khóa và tìm nguồn tài trợ trong ngắn hạn là cách tiếp cận chính xác. Tuy nhiên, báo cáo lại hầu như không nói gì nhiều về các vấn đề chính sách tiền tệ, đặc biệt việc quản lý tỷ giá hối đoái.

    Thông thường người ta nghĩ chính sách tiền tệ không có hiệu quả dưới cơ chế tỷ giá cố định. Lý giải cho suy nghĩ này không có gì khó hiểu. Nếu tỷ giá linh hoạt, lãi suất thấp sẽ dẫn đến việc đồng vốn chảy ra khỏi các tài sản nội địa cũng như việc phải giảm giá đồng tiền, nhằm kích thích xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Nhưng dưới một cơ chế tỷ giá cố định, lãi suất nội tệ có giảm cũng không ảnh hưởng đến giá trị danh nghĩa của đồng tiền.

    Nhà xuất khẩu không được hỗ trợ gì và nhà nhập khẩu vẫn cứ nhập hàng. Nhưng người tiết kiệm, đối diện với lãi suất nội tệ thấp, sẽ chuyển sang đồng đô la hay mua tài sản như vàng, nhà đất. Ngân hàng trung ương phải mua nội tệ để bảo vệ tỷ giá, và do đó giảm lượng cung tiền. Còn nếu ngân hàng trung ương không can thiệp, kết quả là lạm phát.

    Từ phân tích này, dễ hiểu tại sao chính sách nới lỏng tiền tệ đã gây ra bong bóng trên thị trường chứng khoán và áp lực lên tỷ giá. Nhà sản xuất nội địa cũng thấy ngày càng khó cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu giá rẻ tràn ngập. Nếu tăng trưởng tín dụng tiếp tục gia tăng, lạm phát sẽ bắt đầu tăng tốc. Người tiết kiệm sẽ quay lưng với tài sản bằng tiền đồng, lại tạo thêm áp lực lên tỷ giá.


    Tỷ giá liên ngân hàng từ ngày 1-7-2008 đến 31-5-2009

    Nói điều này không có nghĩa không cần cắt giảm lãi suất danh nghĩa vào cuối năm ngoái hay đầu năm nay. Vấn đề là cần cắt giảm bao nhiêu, và nền kinh tế nên chấp nhận mức độ tăng trưởng tín dụng nhanh đến mức nào. Chỉ số quan trọng cần theo dõi là lãi suất thật hay lãi suất thị trường trừ lạm phát. Bởi tỷ lệ lạm phát đã giảm vào năm nay, ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa để giảm lãi suất danh nghĩa mà vẫn duy trì được lãi suất thực dương. Họ không cần hỗ trợ lãi suất để đạt được điều này.

    Giảm lãi suất danh nghĩa cũng tạo điều kiện cho người vay tái tài trợ các khoản vay cũ bằng các khoản vay mới, rẻ hơn. WB lập luận rằng doanh nghiệp ở Việt Nam có thể tái tài trợ các khoản vay trong năm nay nhờ chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Tuy nhiên, một phần lớn việc tái tài trợ này dù sao cũng đã diễn ra - mà không làm thâm hụt ngân sách tăng lên - khi ngân hàng giảm lãi suất danh nghĩa.

    Một số nhà kinh tế cho rằng Việt Nam có thể giải quyết các vấn đề này thông qua tỷ giá linh hoạt hay chuyển sang cơ chế tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Tuy nhiên, điều này là không khả thi trong ngắn hạn hay ngay cả trong trung hạn.

    Quản lý một cơ chế tỷ giá linh hoạt đòi hỏi thị trường tín dụng chín muồi và các thể chế tài chính phát triển mạnh, bao gồm một ngân hàng trung ương tương đối độc lập có trong tay nhiều công cụ chính sách. Khi thiếu vắng những điều kiện này, một tỷ giá thả nổi sẽ dao động quá nhiều. Thương mại và đầu tư sẽ bị ảnh hưởng.

    Một giải pháp tốt hơn là cho phép tiền đồng giảm giá dần dần so với đồng tiền của các đối tác thương mại chính, sau đó ấn định tỷ giá ở mức kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng giá rẻ mà không gây ra lạm phát quá cao.

    Vào cuối năm 2008, tỷ giá thật - là tỷ giá sau khi điều chỉnh sai biệt lạm phát giữa nội địa và nước ngoài - là cao hơn khoảng 33% so với mức ghi nhận được vào tháng 1-2004. Nhà xuất khẩu Việt Nam chịu thiệt thòi và hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn khá nhiều. Cách điều chỉnh dần dần là tốt nhất nhưng cơ quan quản lý tiền tệ phải sẵn sàng can thiệp nếu giới đầu cơ đặt cược mạnh vào mức tỷ giá cố định.

    Ngân hàng Nhà nước từng giảm tỷ giá danh nghĩa trong năm qua. Tỷ giá tiền đồng - đô la Mỹ giảm khoảng 7% tính từ tháng 10-2008 đến tháng 5-2009. Nhưng lạm phát vẫn cao hơn ở Việt Nam so với ở Mỹ, điều này có nghĩa tỷ giá thật không thay đổi nhiều.

    Trong lúc đó, đồng won của Hàn Quốc mất giá 18% so với đô la Mỹ trong năm rồi và đồng rupiah của Indonesia giảm giá chừng 11%.

    Chất lượng đầu tư

    Một vấn đề khác cần quan tâm là mức độ và chất lượng đầu tư trong nước. Nhìn từ góc cạnh cầu của nền kinh tế, mức tăng trưởng nhanh của Việt Nam trong nhiều năm qua ngày càng mang tính “do đầu tư” hơn là “hướng về xuất khẩu”. Mặc dù giá trị xuất khẩu tăng nhanh sau năm 2005, nhập khẩu tăng còn nhanh hơn. Cho nên thương mại ròng lại tác động lên cầu nội địa.

    Dễ hiểu tại sao chính sách nới lỏng tiền tệ đã gây ra bong bóng trên thị trường chứng khoán và áp lực lên tỷ giá.Nếu đầu tư là không hiệu quả hay tài trợ chủ yếu nhờ vốn vay, tăng trưởng do đầu tư có thể dẫn đến lạm phát tài sản, giá cả và sự bất ổn tài chính.


    Trong cùng thời kỳ, khoảng cách giữa tiết kiệm nội địa và đầu tư lại tăng nhanh. Tiết kiệm nội địa vẫn ổn định nhưng đầu tư tăng bình quân hơn 15% mỗi năm. Tăng trưởng “do đầu tư” là mạnh nhất vào năm 2007, dẫn đến các bong bóng bất động sản và chứng khoán và lạm phát năm 2008. Quá nhiều dự án đầu tư đuổi theo quá ít cơ hội đầu tư tốt.

    Tăng trưởng do đầu tư không nhất thiết là điều xấu. Nếu quyết định đầu tư là tốt và tài chính có đủ, tỷ lệ đầu tư cao ngày nay có nghĩa thu nhập sẽ cao hơn trong tương lai. Nhưng nếu đầu tư là không hiệu quả hay tài trợ chủ yếu nhờ vốn vay, tăng trưởng do đầu tư có thể dẫn đến lạm phát tài sản, giá cả và sự bất ổn tài chính.Năm nay nhập siêu giảm dần, có nghĩa sẽ ít có “mức rò rỉ” cầu từ ngoại thương. Cùng lúc, tiêu dùng chính phủ gia tăng cũng bơm một lượng cầu lớn vào hệ thống. Nếu đầu tư và tiết kiệm không được đưa về mức cân bằng, nền kinh tế Việt Nam có thể sốt nóng ngay cả ở mức tăng trưởng thấp.

    Việc cân đối này phần nào sẽ được tự động điều chỉnh do đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm sút. Chính phủ phải chú ý bảo đảm không để tăng trưởng tín dụng đi quá nhanh trước tăng trưởng kinh tế, và đầu tư công phải tập trung vào các dự án có hiệu quả và có nguồn tài chính lành mạnh.

    Nói cho công bằng, WB cũng khuyến nghị chính phủ “củng cố quy trình đầu tư công, giải quyết những yếu kém bộc lộ trong giai đoạn tăng trưởng nóng”. Đây là một khuyến nghị hơi rụt rè, đưa vào một ô trên trang cuối của báo cáo.

    Các nhà tài trợ cho Việt Nam sẽ giúp ích thật sự cho đất nước này nếu họ chú ý nhiều hơn nữa vào chất lượng và tính hiệu quả của đầu tư công vào hạ tầng và các doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam sẽ tiếp tục trải qua các chu kỳ tăng trưởng nóng rồi vỡ bong bóng về mặt vĩ mô chừng nào các quyết định [đầu tư] này chưa minh bạch và chưa mang tính giải trình.

    (*) Giám đốc đào tạo, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi