Nền Văn Minh Của Nhân Loại (phần II): Văn Minh Cổ Ai Cập

  • Bởi tqvn2004
    09/06/2009
    0 phản hồi

    Thành viên Việt Vân ghi lại từ bài đọc "Nền văn minh nhân loại"


    Bản đồ Ai Cập cổ đại (Nguồn: Wikipedia)

    "Sức quyến rũ của cổ Ai Cập sở dĩ có - không phải là do những gì họ đã làm được, hay là do họ đã làm trước tất cả - mà chính là do phong cách và tư duy của họ. Họ đã lấy những sáng kiến thô sơ nhiều khi từ những quốc gia khác rồi biến chúng thành một cái gì đầy nhân cách và văn minh hơn nhiều. Người cổ Ai Cập tự coi họ là khuôn thước trong mọi cung cách làm việc và ở một mức độ nào đó các nước khác trong vùng cận đông dường như rất đồng ý như thế." Lời giáo sư John Bray thuộc đại học Cambrige, Anh Quốc.

    Các công trình đầy mỹ thuật rất hấp dẫn của tôn giáo Ai Cập luôn luôn kích thích trí tưởng tượng của chúng ta về nền văn minh cổ Ai Cập. Nhưng ngoài việc đầu tiên dùng dương lịch và chia một năm ra làm 365 ngày và 1/4 thì thật sự cổ Ai Cập không có một đóng góp nào vĩ đại cho nền văn minh nhân loại, tương đương như việc phát minh ra chữa viết cách đây hơn 4000 năm của vùng Lưỡng Hà, tức Sumeria. Như vậy thì cái gì đã khiến cho văn minh hiện đại cũng như những nền văn minh cổ đại khác bị cổ Ai Cập quyến rũ?

    Ai Cập là một đất nước dài và hẹp phát triển dọc theo hai bên bờ của con sông Nil. Giáo sư Federey Hashan thuộc đại học Luân Đôn nói: "Sông Nil là một yếu tố then chốt của văn minh Ai cập. Sông Nil là huyết mạch, là nguồn sống của người Ai Cập, từ thời cổ đại đến nay sông Nil là nơi tập trung của nghề chài lưới và ruộng rẫy, ngoài cá thì người Ai Cập còn trồng lúa mì, lúa mạch, nuôi gia súc, cừu, trâu bò và heo. Đối với người Ai Cập thì sông Nil không những chỉ có vai trò kinh tế mà còn là trọng tâm của nền tư duy. Mỗi năm cứ theo chu kỳ, sau hạn hán sông Nil lại dâng lên, nước ròng lại mang phù sa bồi dưỡng cho những ruộng đồng khô cháy, đó là biểu tượng của sự phục sinh."

    Cổ Ai Cập đã tồn tại suốt 3000 năm. Thời hoàng kim của nền văn minh này kéo dài từ khoảng trước năm 2700 đến năm 1000 trước Công Nguyên, và được xem như bao gồm các vương triều gọi là Đại Cổ, Trung Cổ và Cận Kim, là giai đoạn được xem là huy hoàng nhất của nền văn minh Ai Cập. Xã hội Ai Cập thời đó đã khá bền vững tuy cũng có lúc suy lúc thịnh. Giáo Sư Hashan: "Sở dĩ Ai Cập tồn tại được là do sự phì nhiêu của lưu vực sông Nil nhờ đó mà dù cho dưới sự cai trị của ai chăng nữa thì lưu vực này cũng có thể nuôi sống được một số dân to lớn và Ai Cập luôn luôn có khả năng phục hồi. Nhưng còn một yếu tố then chốt khác nữa, đó là dân cổ Ai Cập tin vào một Vương Quyền thần thánh. Niềm tin này bền bỉ đến nỗi cho dù triều đại có suy vong, nó luôn được phục hồi theo một khuôn mẫu đã có từ trước."

    Nhà vua của xứ cổ Ai Cập gọi là Pharaon không phải chỉ là Giáo Chủ như tại cổ Lưỡng Hà mà còn là một vị thần linh. Cái chết của một vị vua chẳng ảnh hưởng gì tới khái niệm của một Vương Quyền thần thánh cả. Giáo sư John Bray: "Người Ai Cập cổ đại xem chuyện vua này mất vua kia lên kế vị chỉ là sự tuần hoàn như mặt trời lặn và mọc, bất biến kể từ khi có thời gian. Mỗi nhà vua là một biểu tượng mới của cùng một vị Thần Mặt Trời. Thành ra tất cả những vị vua của Ai Cập kể từ khi khởi thủy là một biểu tượng của thần linh và họ cùng nhau bảo vệ đất nước Ai Cập.".

    Niềm tin vào một Vương Quyền thần thánh thấm nhuần tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Elena Vacseleka thuộc viện bảo tàng Fitzwilliam tại Cambrige giải thích khái niệm này đã ảnh hưởng đến nghệ thuật Ai Cập ra sao: "Khuôn mặt của Nhà Vua là chuẩn mực của lý tưởng thánh thiện, cho nên từ thần thánh đến quan quyền, đến dân dã ai ai cũng muốn mang vẻ mặt của Nhà Vua. Và hình ảnh Vua thường xuyên ngự trị các tác phẩm mỹ thuật một cách oai phong. Chẳng hạn như bên ngoài các đền thờ lăng tẩm ta thường thấy hình ảnh Nhà Vua một tay nắm chóp bu của một nhóm người nước ngoài, thông thường là ngưới Á, người Nubia, Palestine, Lybia...vv, và tay kia Nhà Vua giương cao một cái chùy như sắp đánh vào họ. Hình ảnh này có nghĩa là Nhà Vua đang vững tay cai trị để bảo đảm là Đến Thờ không bị người nước ngoài làm ô nhiễm. Và có vậy thì thiên địa mới hài hòa. Ngưới Ai Cập cổ đại coi chiến thắng chống ngoại nhân của họ là cần thiết để bảo đảm sự điều hòa của trời đất vì họ sợ tất cả những gì ngoại lai sẽ đem đến sự bất ổn."

    Các vị vua cổ Ai Cập vừa là vua, vừa là thần thánh, vừa là người mẫu, vừa là người bảo trợ cho các bộ môn nghệ thuật. Trong nhiều thế kỷ các vị Pharaon của Ai Cập là những người giàu có nhất thế giới và mọi hoạt động nghệ thuật đều cần đến nguồn tài trợ của họ. Các Pharaon và giới nhà giàu đã đặt ra nhiều đồ xa xỉ bằng đủ mọi vật liệu, và các nghệ nhân thời đó đã tỏ ra thật khéo léo trong việc sử dụng các kỷ thuật này." Trong quá trình chế tạo các món đồ xa xỉ người Ai Cập đã thử nghiệm và sử dụng nhiều kỷ thuật và vật liệu, chẳng hạn như là họ đã chế ra thủy tinh và đưa màu sắc sặc sỡ vào các đồ sành như màu xanh Ai Cập. Họ cũng biết tráng men. Về kỷ thuật thạch khí, người Ai Cập có thể tạo ra những chiếc bình cầu kỳ và tinh vi không ngờ được! Dù nó có cứng và dễ vỡ đến đâu họ cũng có thể tạo ra những bình lọ có thành mỏng như vỏ trứng. Họ cũng rất giỏi làm hợp kim, giỏi đúc và họ cũng giỏi về kỷ thuật khảm kim loại, nói chung kỷ thuật trang trí nội thất của cổ Ai Cập đã phát triển rất nhiều."-Elena Vacseleka cho biết tiếp.

    Người cổ Ai Cập tự cho mình là văn minh và xem thường những ai họ coi là man di mọi rợ. Thời đó ngoại nhân bị xem như là một thứ gây ô nhiễm cho nền văn hóa. Nhưng theo giáo sư John Bray thì người Ai Cập cũng tỏ ra bao dung trong một khía cạnh khác: "Về văn hóa thì phải nói cái tự phụ của người cổ Ai Cập là cao vòi vọi. Nhưng nếu họ tự phụ về văn hóa đến đâu thì họ lại hòa đồng về sắc tộc đến đấy. Chính vì thế mà cổ Ai Cập đã thu hút nhiều sắc dân từ Syria, Nubia, Lybia v.v... Để giữ cái xã hội đa sắc tộc đó bền vững người Ai Cập đã nhấn mạnh đến sự thuần nhất về văn hóa, tức là dân tứ xứ có thể được xem là con dân Ai Cập nếu họ hội nhập với nền văn hóa và chia sẻ các giá trị của xã hội Ai Cập, mà quan trọng nhất là sự tôn thờ nhà vua-cái gạch nối giữa thế tục và thế giới siêu hình. Có như vậy họ mới đóng góp được vào sự phồn vinh của xã hội."

    Nhà vua thay mặt thần linh cai dân trị nước điều hành vạn vật. Nhưng người Ai Cập cũng biết là trong cái lốt của một con người thì một ông vua cũng có thể phạm những lỗi lầm trần tục. Thành ra trong lịch sử Ai Cập có những ông vua vô tài, ngu đần hay là nghiện ngập. Nhưng đối với cách suy nghĩ của người cổ Ai Cập thì những ông vua đó vẫn đại diện cho cái tinh túy của Vương Quyền, và cái tinh túy đó thì bất biến và toàn hảo. "Vì vậy nhà vua có một quyền lực khủng khiếp, nhưng quyền lực này phải được sử dụng hài hòa với những kế hoạch mà các thần linh đặt ra cho đất nước. Dĩ nhiên có nhiều vị vua đã đi quá xa và bị ghi trong lịch sử như những hôn quân, nhưng nói chung thì người cổ Ai Cập tin rằng nhà vua phải chịu sự phán xét của thần linh." Lời của giáo sư John Bray.

    Cái vĩ đại của nền văn minh cổ Ai Cập là họ đã đưa ra một khái niệm về công lý xã hội rất sớm. Nếu không có khái niệm công lý này thì không có điều gì có thể ngăn chặn một Pharaon có quyền uy vô biên trở thành một hung thần độc đoán. Chính vì khái niệm công lý xã hội mà một Pharaon đã ghi lại rằng thành quả lớn nhất của triều đại ông là không ai bị lâm vào cảnh cơ hàn. Giáo sư Federey Hashan xem đó là nền tảng của văn minh: "Nền văn minh nào cũng phải dựa trên tiền thuế mà dân chúng đóng góp cho một chính quyền trung ương để tài trợ cho giáo dục, nghệ thuật v.v..., tất cả những dịch vụ mà ta cho là cần có của một xã hội văn minh. Nhưng ta hay có một quan điểm thiên lệch khi tìm hiểu một nền văn minh, đó là ta thường không nhìn vào cái hạ tầng cơ sở của nó mà nhìn vào các đền đài cung điện, các tác phẩm nghệ thuật. Đúng ra ta phải xem xét tất cả các tác phẩm này được tạo ra trong bối cảnh nào. Có phải là nhà cai trị đã bóc lột dân chúng để xây những đền đài tráng lệ, những thánh đường vĩ đại, những Kim Tự Tháp hay không? Nếu quả thật là một chế độ độc tài, bức chế đã thực hiện công trình xây dựng đó thì nền văn minh dù có huy hoàng đến mấy cuối cùng cũng sụp đổ, vì áp bức không thể nào kéo dài trong bất cứ hệ thống cai trị nào. Tôi cho đó là bài học then chốt của nền văn minh.".


    Những kim tự tháp là biểu tượng được nhiều người biết tới của Văn minh Cổ Ai Cập (Nguồn: Wikipedia)

    Trong văn minh cổ Ai Cập tài nguyên khổng lồ đã được dùng để xây dựng những Kim Tự Tháp bề thế, nhưng các học giả tin rằng các công trình này không vượt quá mức chịu đựng của xã hội, tức là ý thức hệ chung về một vương quyền thần thánh đã khiến cho người cổ Ai Cập chấp nhận chuyện này. Không những vậy, một khi khái niệm đã ăn sâu vào tiềm thức của dân chúng là vương quyền chỉ được thể hiện qua các kiến trúc vĩ đại thì áp lực buộc mỗi Pharaon mới lên ngôi phải xây dựng một cái gì đó to tát cho mình hầu như là một áp lực không thể cưỡng lại được.

    Đền thờ thần Amun tại Canat là ngôi đền khổng lồ nhất thế giới. Vị Pharaon nào cũng muốn xây một lăng tẩm không lồ cho mình, như là một cái cữa ngõ để đi sang thế giới bên kia. Trong thời cổ Ai Cập việc chăm sóc cho người chết nhất là người chết trong giới giàu sang thì vẫn có tính cách chăm sóc linh đình không kém gì việc chăm sóc người sống. Đó là do họ tin rằng người chết vẫn có thể chi phối cuộc đời của người sống.

    Giáo sư John Theiy của đại học Luân Đôn cho biết đối với người cổ Ai Cập cuốn sách gọi là "Cẩm Nang Cho Người Quá Cố" đóng một vai trò quan trọng vì nó vạch ra những nghi thức mà họ phải tuân theo. Cuốn Cẩm Nang Cho Người Quá Cố bao gồm một loạt các câu chú để giúp cho người mới chết tránh được các yêu ma và quỷ dữ đang chực chờ để hủy diệt họ tại cõi âm. Người chết cũng phải ra tòa, trong cuốn cẩm nang này có nhiều tranh vẽ thần Osiris đang phân xử. Đứng trước vị chánh án tối hậu này người chết phải mạnh dạn khẳng định là họ đã không phạm những tội lỗi gì đó trong cuộc đời. Nhưng nếu thần Osiris chứng minh được là họ nói láo, họ sẽ bị hủy diệt ngay.

    Cũng như những nơi khác trong thế giới cổ đại, ma lực phù thủy đóng một vai trò quan trọng tại Ai Cập. Ngay cả nền Y Học cổ nổi tiếng thế giới của Ai cập cũng đi liền với ma lực. Lương y thời đó không những chỉ sắc thuốc mà còn phải đọc một câu chú để chữa cho bệnh nhân. Ta có thể coi đây là một cách để trấn an tâm lý như là các bác sĩ hiện đại đôi khi phải làm. Thần chú là những lời khấn vái thần linh, và các vị thần của Ai Cập thường được diễn tả như là một hỗn hợp kỳ lạ giữa con người và con thú. "Bạn không cần phải là một người đam mê thú vật mới cảm thấy rằng tiềm tàng trong thú vật có một cái gì đó thần bí. Người Ai Cập nhạy cảm với điều đó thành ra họ tin rằng loài thú có thể biểu hiện ý chí của thần linh, và có thể làm tiên tri. Họ cho là chúng có những hiểu biết mà con người không có, chẳng hạn như Thần Chó Sói, chó sói có vẻ như có khả năng theo dõi sự vật một cách thần kỳ như có thể ngửi ra lối trên sa mạc trống trải hoang sơ, đó là khả năng đầy ma lực của thần linh. Các hình ảnh trên tường của các đền cổ Ai Cập cho thấy những hình ảnh thân người đầu thú, mà cái đầu thú đó dường như có dấu cắt rất rõ ở cổ tựa như một tấm mặt nạ. Những hình tượng đó dường như muốn mô tả một vị thần có một số khả năng đặc trưng của loài thú như mắt tinh, mũi thính v.v..., nhưng đây chỉ là một biểu tượng." Lời giáo sư John Theiy.

    Các tác phẩm hội họa và điêu khắc tại các đền đài và lăng tẩm còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các vị vua và các đấng thần linh. Nhưng những công trình xây dựng đó cũng bị giới thư lại chỉ trích. Nên biết là trong thời cổ Ai Cập thì thành phần biết đọc biết viết để làm thư lại thật là hiếm hoi, cho nên họ có một loại quyền lực đặc biệt trong vương quốc này. Theo giáo sư John Bray giới thư lại biện luận như thế này: "Hãy nhìn vào các Kim Tự Tháp nơi chôn cất các vị vua đời xưa nay vừa suy tàn vừa bị trộm cướp, không còn gì để chứng tỏ là các vị vua đó một thời đã sống cho nên nếu muốn thật sự bất tử thì ta hãy trở thành một người cầm bút, hãy noi gương những nhà hiền triết thuở xưa, sau khi qua đòi còn để lại cái túi khôn của họ cho đời sau qua sách vở. Và như thế họ cứ sống mãi mãi.".

    Đã dám khinh vua như vậy đám thư lại dĩ nhiên coi thường những giai cấp khác, nhất là thành phần lao động chân tay. Giáo sư John Bray nói tiếp: "Tại hầu hết thế giới cổ đại giới thư lại sống bằng nghề ghi lại những kiến thức của thời xưa để học hỏi thật kỹ càng, và họ chỉ đi xa thêm khi họ cản thấy vị thế của họ đã khá vững chãi. Đối với họ việc học hành phải tuân thủ những khuôn khổ cổ truyền, có người cho rằng tiến bộ sở dĩ có được là nhờ những người có đầu óc sáng tạo phóng khoáng và sẵn sàng phá rào để thách thức truyền thống. Nhưng nếu ta muốn duy trì ổn định xã hội thì tốt hơn cả là hãy có một sự đồng thuận trong đa số an phận bình thường dù có một thiểu số ưu tú muốn vươn lên.".

    Giới thư lại cổ Ai Cập đã để lại những áng văn quan trọng mà nội dung là dạy cách xử thế. Chẳng hạn như:

    Thấy người mù đừng khinh, thấy người lùn đừng cười, thấy người què tránh lối, thần linh ít khi nương.

    Thấy người bệnh thì thương, chẳng ai không lầm lỡ, đừng ới ơi chỉ trỏ, có người là cục đất, có người là rơm rác, nhờ thượng đế mà nên.

    Văn học cũng được dùng để diễn tả một số giá trị tinh thần, trong đó có một khái niệm đặc biệt gọi là "MAT" nói về sự hài hòa trong xã hội và vũ trụ. Trong một câu chuyện nổi tiềng, một nông dân đã vận dụng khái niệm này để đòi công lý. Khi chuyện này đến tai vua ngài lấy làm khâm phục và ra lệnh cho quan phải đối xử với anh nông dân như thế này:

    Hãy giữ yên lặng để cho y tiếp tục và ghi chép tất cả những gì y nói cho Trẫm xem. Trong khi ta cứu xét trường hợp của y hãy cung cấp đầy đủ cho gia đình y nhưng ngươi phải cung cấp làm sao cho kín đáo để y không biết đó là lộc của nhà vua mà thay đổi luận điệu.

    Trong nền văn minh cổ Ai Cập các giai tầng thấp bé của xã hội cũng đã hưởng được công lý của nhà vua. Cho nên so với các xã hội cổ đại thành phần bần cùng của cổ Ai Cập cũng không đến nỗi khốn khổ. Và đặc biệt là địa vị của phụ nữ trong xã hội đó cũng tương đối khá. Giáo sư John Bray: "Một trong những lý do khiến cho phụ nữ có vai trò khá vì cổ Ai Cập là một xã hội nông nghiệp đã ổn định. Nơi đó đàn bà không những điều hành mọi việc trong nhà, nuôi dạy con cái mà còn lo việc đồng áng, vì vậy họ tượng trưng cho sự liên tục của xã hội. Trong khi các bộ lạc du mục lang thang trong các sa mạc ở vùng Cận Đông xem đàn bà như một gánh nặng thì người cổ Ai Cập lại coi trọng đàn bà. Ví dụ như nếu một người vợ bị chồng li dị người đàn bà đó có quyền lấy lại tất cả của hồi môn, và bà ta cũng được chia 1/3 gia tài chung của gia đình.".

    Trong tay các ông vua cổ Ai Cập không những là công lý tối hậu mà còn là những quyền hành thực dụng như thu thuế và chu cấp để nuôi dân. Hệ thống thuế má và an sinh thực phẩm của cổ Ai Cập đã trở nên khá có tổ chức. Nhờ vậy mà trong thời buổi đói kém nhân dân cũng có thể nhờ vào miếng ăn do nhà vua ban phát. Nhưng ngay một vị thiên tử có thần linh hổ trợ cũng không thể nào có thể nuôi tất cả dân chúng trong mọi tình huống. Giáo sư Federey Hashan: "Nếu nạn đói xảy ra liên tiếp thì xã hội sẽ bị xáo trộn, lúc đó các quan chức địa phương vì mất tin tưởng vào trung ương sẽ tìm cách giữ lại các khoản thuế mà họ thu được. Thế là triều đình không những mất đi khả năng cứu đói mà còn khó lòng thực hiện được các nghĩa vụ khác. Trong những trường hợp như vậy thành phần giáo sĩ và tướng lãnh có thể dần dần tiếm quyền vua.".

    Trong khoảng từ 1500 đến 1000 năm trước Công Nguyên đã có lúc một vị tướng lên giành ngôi vua và trở thành một Pharaon mới. Nhưng khái niệm về vương quyền thần thánh vẫn tồn tại, cố nhiên là qua một nhân vật khác. Lâu lâu quân đội Ba Tư, Hy Lạp, La Mã cũng đến xâm lăng và sát nhập Ai Cập vào đế quốc của họ nhưng nền văn minh Ai Cập vẫn tồn tại vì nói chung những nước xâm lược này vẫn tôn trọng nền văn minh cổ Ai Cập và cho nó được tiếp tục. Nhưng cổ Ai Cập đã không tồn tại nổi khi đế quốc La Mã chuyển theo Thiên Chúa Giáo. "Quan niệm vương quyền của Ai Cập đã lung lay trước ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo. Trước Thượng Đế của Thiên Chúa Giáo các Pharaon không còn là thần linh nữa. Tín ngưỡng về tang ma của người Ai Cập biểu hiện qua việc ướp xác cũng mâu thuẫn với nhiều điều trong Thiên Chúa Giáo. Những mâu thuẫn cơ bản đó đã đưa tới hành động, các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo đã dần dần đóng cữa tất cả đền đài lăng tẩm tôn vinh các vị vua cổ ai Cập. Và khi quan niệm vương quyền thần linh không còn nữa thì nền văn minh cổ Ai Cập tàn lụi.".

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi