Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (3)

  • Bởi Billy
    26/04/2009
    0 phản hồi

    Hoàng Hải Vân,

    Từ những phân tích của mình, Hayek cho những biến động chu kỳ trong kinh tế là không thể tránh, cho nên không thể tránh khủng hoảng. Khi khủng hoảng nổ ra, theo Hayek, giải pháp đối phó với khủng hoảng là “không làm gì hết”, tức là không cần can thiệp. Khủng hoảng sẽ cho phép loại trừ các yếu tố mất cân bằng sinh ra trong giai đoạn hưng phấn của nền kinh tế trước đó và chính nó là cơ chế phân bố lại các nguồn lực.

    Như đã nói, dù bắt đầu từ bất cứ lý do gì thì, theo Hayek, nguyên nhân khủng hoảng truy cho cùng đều do “mụ phù thủy” tiền tệ.

    Ngặt nỗi các chính trị gia lại không nghĩ đến tương lai. Phần lớn trong số họ đều “tư duy theo nhiệm kỳ”. Và chính Keynes cũng từng tuyên bố “trong dài hạn tất cả chúng ta đều chết”.

    Bởi vậy mà Hayek trước sau vẫn ủng hộ hệ thống bản vị vàng (hoặc hệ thống tiền tệ tương tự, sẽ nói sau). Hệ thống bản vị vàng chính là cái phanh kìm hãm có hiệu quả việc tùy tiện phát hành tiền tệ. Tuy nhiên, trong và sau Đại chiến I, hàng loạt các nước đã từ bỏ bản vị vàng để dễ dàng phát hành tiền tài trợ cho chiến tranh và bồi thường chiến tranh. Bỏ hệ thống bản vị vàng đồng nghĩa với việc trao quá nhiều quyền cho các nhà chính trị và các ngân hàng trung ương thao túng chính sách tiền tệ. Điều này, theo Hayek, là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Đại khủng hoảng.

    Đối với Hayek, đối phó với khủng hoảng trước hết là chống chủ nghĩa can thiệp, là rút Nhà nước ra khỏi sự vận hành của thị trường. Muốn vậy, phải đặt vấn đề ở một tầm nhìn dài hạn. Hayek cho rằng sự can thiệp có thể giải quyết vấn đề trong ngắn hạn nhưng sẽ làm cho những vấn đề đó trầm trọng thêm trong tương lai, kể cả vấn đề thất nghiệp.

    Ngặt nỗi các chính trị gia lại không nghĩ đến tương lai. Phần lớn trong số họ đều “tư duy theo nhiệm kỳ”. Và chính Keynes cũng từng tuyên bố “trong dài hạn tất cả chúng ta đều chết”.

    Keynes cùng những người đồng quan điểm, sau này được gọi chung là keynesian, không thừa nhận “bàn tay vô hình” của Adam Smith. Họ cho rằng thị trường vốn hàm chứa sự bất ổn mà bản thân nó không thể tự điều chỉnh được. Sự bất ổn đó dẫn đến suy sụp đầu tư và giảm tiêu dùng, theo Keynes, đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng. Giải pháp có thể nói ngắn gọn là “kích cầu” (từ ngữ thời thượng bây giờ trên báo chí, có nguồn gốc từ học thuyết của Keynes). Theo Keynes, Nhà nước phải bơm tiền vào nền kinh tế bằng cách tăng đầu tư công (bổ sung cho sự thiếu hụt của đầu tư tư nhân) và mở rộng tín dụng để “toàn dụng lao động”, giải quyết thất nghiệp, nâng sức mua cho dân chúng. Đại để là Keynes xúi nhà nước dùng những khoản tiền lớn mà bản thân nhà nước không có để đem lại ấm no thịnh vượng. Keynes cảnh báo, thị trường tự do với hai khuyết điểm cố hữu : thất nghiệp quá cao và bất bình đẳng lớn trong thu nhập có nguy cơ làm sụp đổ chủ nghĩa tư bản, “lót đường cho cách mạng”.

    Winston Churchill - Ảnh solarnavigator.net

    Dân chúng thì cần việc làm, cần có một cuộc sống được đảm bảo chắc chắn, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng thất nghiệp và nghèo đói tràn lan, cuộc sống bất bênh vô định, do đó họ cần đến bàn tay cứu rỗi của Nhà nước. Các chính trị gia đương nhiên phải đáp ứng ngay những nhu cầu đó, nếu không muốn mất quyền hành. Ví dụ điển hình là Thủ tướng Anh Winston Churchill, đã mất chức Thủ tướng ngay trước khi Đại chiến 2 kết thúc, vì Đảng của ông đã không chìa bàn tay cứu rỗi ra cho dân chúng như Công Đảng, mặc dù Churchill là anh hùng cứu nước Anh khỏi họa phát xít, là vĩ nhân của nước Anh và thế giới. Cần biết thêm, năm 1925, Churchill lúc đó là Bộ trưởng Tài chính, đã đưa nước Anh trở lại hệ thống bản vị vàng, sự kiện này đã bị Keynes chỉ trích gay gắt.

    Các giải pháp của Keynes đưa ra đúng lúc, đáp ứng được sự mong muốn của các chính trị gia. Học thuyết keynesian được phát triển thành kinh tế học vĩ mô hiện đại với hệ thống các công cụ mô hình hóa, trở thành học thuyết chính thống của hệ thống kinh tế tư bản. Keynes coi nền kinh tế là môt tổng thể có thể đo lường, có thể “kế hoạch hóa” và quản lý được. Những từ ngữ được dùng phổ biến ngày nay như “tái thiết đất nước”, “tăng trưởng kinh tế”, “thu nhập bình quân đầu người”, “tỉ lệ lạm phát”, “tỉ lệ thất nghiệp”, “hệ thống tài khoản quốc gia”, “ổn định kinh tế vĩ mô”… là sáng tạo của Keynes và những người keynesian. Những khái niệm “trợ cấp hưu trí”, “trợ cấp thất nghiệp”, “bảo hiểm y tế”, “an sinh xã hội”, “phúc lợi công cộng”… gắn liền với các loại Nhà nước mạnh hoặc Nhà nước phúc lợi theo mô hình keynesian. Và như đã biết, nó đã thành công đến hơn 30 năm. Đến đoạn cuối của chủ nghĩa can thiệp tại Mỹ, tổng thống Nixon vẫn tuyên bố : “Giờ đây tất cả chúng ta đều là keynesian”.

    Vì sao học thuyết của Keynes lại có thể thống trị thế giới tư bản suốt 30 năm (và giờ đây nhiều người đang muốn quay trở lại) ? Đã và đang có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này, nhưng nếu nhìn dưới góc độ lịch sử thì có thể thấy : Nó được Đại chiến 2 và “chiến tranh lạnh” tiếp sức.

    Hãy nhìn nước Mỹ với “New Deal” (chính sách kinh tế xã hội mới) của tổng thống Franklin D. Roosevelt. Lúc ông mới lên làm tổng thống (1933), nước Mỹ có tới 13 triệu người thất nghiệp (chiếm ¼ lực lượng lao động toàn liên bang). Một chương trình “toàn dụng lao động” để giải quyết thất nghiệp được triển khai khắp nước Mỹ với việc mở ra các dự án khổng lồ tái thiết và phục vụ công cộng. Cơ quan quản lý các công trình công cộng (PWA) và một loạt các cơ quan khác đã ra đời để điều hành các dự án đó.

    Về nông nghiệp, năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo Luật Điều chỉnh nông nghiệp (AAA) cho phép tăng thu thuế từ các doanh nghiệp chế biến thực phẩm, dùng tiền đó trợ cấp cho nông dân để họ cắt giảm sản lượng nhằm tăng giá nông sản. Luật AAA bị Tối cao pháp viện bãi bỏ năm 1936 vì vi hiến, nhưng đến năm 1938 lại phục hồi do đa số thành viên Tối cao pháp viện ủng hộ New Deal. Cho đến năm 1940, đã có 6 triệu nông dân nhận được trợ cấp của Chính phủ. Một số tiền khổng lồ Nhà nước đã bỏ ra để làm việc đó.

    Cũng trong năm 1933, Quốc Hội thông qua đạo luật Phục hồi Công nghiệp quốc gia (NIRA), kéo theo đó là sự ra đời của Cơ quan Phục hồi Quốc gia (NRA) với sự can thiệp “chưa từng có tiền lệ” vào hoạt động kinh tế của doanh nghiệp với tham vọng điều chỉnh sản lượng, thiết lập giá cả, nâng thu nhập và bảo đảm việc làm, quyền của người lao động và vai trò của công đoàn được đề cao. Năm 1935, cơ quan này cũng bị giải thể vì vi hiến. Quốc hội lại tiếp tục thông qua Luật quan hệ Lao động quốc gia và lập ra Ủy Ban Quan hệ lao động quốc gia (NLRB) nhằm mục đích bảo đảm việc làm. Những chính sách này tuy không đem lại kết quả, nhưng Đảng Dân chủ của F.D Roosevelt vẫn có lợi vì nhận được sự ủng hộ về chính trị của tầng lớp lao động.

    New Deal giai đoạn đầu không làm chấm dứt suy thoái kinh tế. Một cuộc suy thoái lớn lại diễn ra vào năm 1937-1938.

    Lúc này Keynes đã phát hành cuốn sách “Lý thuyết tổng quát” (1936), cuốn sách nền tảng cho học thuyết của mình. Người Mỹ nhanh chóng tiếp thu tư tưởng của Keynes, bắt đầu từ Trường Đại học Harvard, sau đó được quảng bá rộng rãi. Chỉ trong một thời gian hết sức ngắn, chính quyền F.D.Roosevelt chấp nhận học thuyết này và chính sách tài khóa của Keynes bắt đầu đem ra áp dụng ngay từ năm 1938. Như vậy, New Deal thời gian đầu mang màu sắc dân túy, đã biến thành một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô có lý luận bài bản.

    F.D. Roosevelt tiếp tục áp dụng các “biện pháp mạnh”, thường gọi là New Deal lần thứ hai.


    Nếu không có Đại chiến 2, chính sách này [New Deal] có thành công không ?

    Cơ quan Xúc tiến việc làm (WPA) được thành lập để hỗ trợ Chính phủ. Đạo Luật Bảo hiểm xã hội do Quốc hội ban hành năm 1935 được F.D. Roosevelt coi là “nền tảng của New Deal”, cho phép Chính phủ tạo ra một quỹ phúc lợi để trợ cấp cho người thất nghiêp, người nghèo, người tàn tật và bảo hiểm hưu trí. Tiếp đó là một loạt các đạo luật khác : Luật Thuế thu nhập nhằm tăng thuế đối với người giàu, Luật về các Công ty công ích ra đời nhằm thống nhất các công ty Điện lực thành tập các tập đoàn lớn do Nhà nước chỉ huy, Luật Ngân hàng mở rộng quyền của Cục Dự trữ Liên bang can thiệp các ngân hàng tư nhân… Một tổ hợp Nhà nước khổng lồ đầy tham vọng và chưa có tiền lệ được lập ra để thực hiện chương trình “Điện khí hóa nông thôn”. Một loạt các Ủy ban Nhà nước ra đời để quản lý các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế : Ngoài Ủy ban chứng khoán và ngoại hối, Ủy ban Quan hệ lao động quốc gia, còn có : Ủy ban Hàng không dân dụng, Ủy ban Năng lượng, Ủy ban Truyền thông…

    Hằng hà sa số những quy định kinh tế ban hành từ thời đó biến thành các thủ tục vô cùng rườm rà phức tạp ăn sâu vào hệ thống quản lý, thành những “cơ chế” cứng nhắc trong nền kinh tế Mỹ, để lại những di chứng lâu dài. Một ví dụ là ngành Hàng không. Cưu Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Alan Greenspan dẫn lại lời của nhà kinh tế Afred Kahn, người lãnh đạo ngành hàng không thời kỳ Carter phát biểu trước Quốc hội năm 1978, tức 40 năm sau khi Ủy ban Hàng không dân dụng (CAB) được thành lập, về “hàng ngàn những quy định tầm thường” của nó như sau : “Liệu một hãng hàng không có thể sử dụng máy bay năm mươi chỗ ngồi ? Liệu một hãng vận tải phụ có được chở ngựa từ Florida đến một nơi nào đó ở Đông Bắc ? Liệu chúng ta có được để một máy bay theo lịch đón các khách thê bao chuyến và dành cho họ chỗ ngồi mà nếu không cũng bị bỏ trống, theo mức giá thuê bao ?... Liệu một hãng vận tải đưa ra giá vé đặc biệt cho những người trươt tuyết có thể trả lại tiền vé cho họ nếu trời không có tuyết ? Liệu những nhân viên của hai hãng hàng không không liên kết về mặt tài chính có thể mặc đồng phục giống nhau ? … Đây có phải là những băn khoăn tôi tự hỏi mình hàng ngày : Hành động này có cần thiết hay không ? Liệu mẹ tôi nuôi dạy tôi có phải để làm những việc đó ?”. Nhưng bãi bỏ những quy định tồn tại 40 năm này không phải dễ. Theo đề nghị của thượng nghị sĩ Edward Kenedy, một cuộc điều tra về các quy định trong ngành hàng không (và các ngành khác) nhằm cải cách nó, tiếp đó là “một cuộc chiến” diễn ra để xóa những quy định này được tiến hành từ thời tổng thống Ford, nhưng phải kéo dài đến tháng 10-1978, dưới thời Carter, việc xóa bỏ các quy định này mới được luật hóa, và mãi đến năm 1985 CAB mới rút khỏi hoạt động kinh doanh.

    Trở lại New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt. Nếu không có Đại chiến 2, chính sách này có thành công không ? Có rất nhiều đánh giá khác nhau. Nhưng thực tế thì đến trước chiến tranh, kinh tế Mỹ vẫn không thoát khỏi suy thoái. Tỉ lệ thất nghiệp vẫn trên 20% vào năm 1938. Nói chung suốt 2 giai đoạn của New Deal trước chiến tranh, F.D. Roosevelt chưa bao giờ đưa mức thất nghiệp xuống dưới 20%. Đại chiến 2 đã đẩy 17 triệu thanh niên Mỹ vào quân đội, nền kinh tế chuyển sang thời chiến. Lao động lúc đó mới được “toàn dụng”. Đến năm 1942, tỉ lệ thất nghiệp chỉ còn 2%. Nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Keynes hí hửng cho rằng có thể chuyển mô hình kinh tế thành công trong thời chiến sang thời bình…

    (còn tiếp)

    Tham khảo và trích dẫn :
    + Khái quát về lịch sử nước Mỹ - website của ĐSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
    + Chủ nghĩa tự do của Hayek (sđd).
    + Friedrich Hayek : cuộc đời và sự nghiệp (sđd).
    + Alan Greenspan : Kỷ nguyên hỗn loạn (sđd).
    + Tư tưởng kinh tế kể từ Keynes (sđd).
    + The commanding Heights : The Batte for the World Economy (bản tiếng Việt : Những đỉnh cao chỉ huy, NXB Tri thức, Hà nội 2008).
    + willisms.com, wikipedia...

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi