Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (2)

  • Bởi Billy
    20/04/2009
    0 phản hồi

    Hoàng Hải Vân

    Xem thêm:<br/>
    <ul>
    <li><a href="http://danluan.org/node/1060"><strong>Nhà nước mạnh, Nhà nước yếu (Phần 1)</strong></a></li>
    </ul>

    Các học thuyết kinh tế một thế kỷ qua cung cấp cho thiên hạ những tri thức nhiều tầng nhiều nhánh chồng chéo nhau như một mê hồn trận. Mỗi kinh tế gia, giống như một chưởng môn trong truyện Kim Dung, đều có một học thuyết, đều cho học thuyết của mình là chân lý và đều muốn xưng bá võ lâm.

    Có lẽ Hayek là cao thủ duy nhất không có “cơ tâm” xưng bá trong kinh tế học, mặc dù sở học của ông đạt đến cảnh giới thượng thừa. Ông là một hiện tượng kỳ lạ. Người ta bảo việc trao giải Nobel kinh tế cho Hayek là một sự kiện hy hữu. Nhưng hy hữu hơn là thái độ của ông đối với giải thưởng danh giá đầy uy lực này. Trong diễn từ khi nhận giải Nobel kinh tế, ông bảo rằng nếu có ai hỏi ý kiến ông khi lập ra giải này thì ông sẽ khuyên là “Không nên”.


    Giải Nobel là một trong những giải uy tín nhất trong khoa học

    “Giải Nobel kinh tế”, không phải được trao theo di chúc của Alfed Nobel mà mới được lập ra sau này (1969) do Ngân hàng hoàng gia Thụy Điển chủ xướng với tên gọi chính xác “Nobel Memorial Prize in Economics” (Giải thưởng khoa học kinh tế tưởng nhớ Nobel). Hầu hết những người nhận giải thưởng này đều hài lòng với sự trọng vọng mà thiên hạ dành cho mình như một đỉnh cao trí tuệ. Nhưng Hayek thì khác, ông bảo sự trọng vọng này sẽ “tạo ra một uy quyền trong kinh tế học mà không ai có quyền có được”. Theo ông : “Không có lý do nào để một người có cống hiến quan trọng trong kinh tế học lại có thẩm quyền toàn diện trên tất cả các vấn đề của xã hội – điều mà báo chí có xu hướng nhận định và cuối cùng tự huyển hoặc mình” (trích từ Chủ nghĩa tự do của Hayek – sách đã dẫn).

    Gần suốt cuộc đời mình, Hayek bị đẩy ra bên lề của kinh tế học. Ông không nằm trong dòng chảy chính thống và ông cũng không hề có ý định trở thành chính thống.

    Hayek không coi kinh tế học là một khoa học như các khoa học tự nhiên. Ông phản đối kinh tế học vĩ mô, vì ở đó ngự trị chủ nghĩa duy khoa học. Đối tượng của kinh tế học, theo ông, là con người có tự do và ý chí “mà hành vi thì không tiên đoán được”. Đó là hành vi của hàng triệu cá thể khác nhau, không thể dùng toán học dể định lượng, không thể mô hình hóa bằng các phương pháp của khoa học tự nhiên. Phân tích kinh tế phức tạp hơn rất nhiều so với nghiên cứu vật lý học. Ông cho rằng, trái với vật lý học, trong kinh tế học “các khía cạnh của những biến cố được nghiên cứu mà chúng ta có thể thu thập được dữ liệu định lượng tất yếu là giới hạn và có nhiều khả năng không phải là khía cạnh quan trọng nhất”.

    Từ quan điểm triết học của mình, nhất là quan niệm về “trật tự tri giác” và “phương pháp luận cá thể”, Hayek tiếp cận những vấn đề kinh tế theo một cách khác.

    Theo Hayek, “trật tự thị trường”, mà ông gọi là catallaxie, là trật tự sinh ra bởi sự điều chỉnh lẫn nhau của hàng triệu cá thể kinh tế, những cá thể này vốn rất khác nhau và phân tán trong xã hội. Không người nào hoặc nhóm người nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể nắm bắt được những khối lượng thông tin khổng lồ và rất khác nhau tương tác qua lại giữa hàng triệu cá thể. Bởi vậy thị trường là không thể can thiệp được. Hayek kế thừa lý luận “bàn tay vô hình” của Adam Smith, nhưng ông đi xa hơn và triệt để hơn Adam Smith. Adam Smith cho rằng trật tự tự phát của thị trường được điều khiển bằng một “bàn tay vô hình” để cuối cùng đem lại cho cộng đồng một cuộc sống thịnh vượng sung túc, nên ông chấp nhận một ngoại lệ : khi nào mục đích của cá nhân đi trệch ra ngoài lợi ích chung thì Nhà nước cần can thiệp điều tiết, vì vậy thuyết “bàn tay vô hình” vẫn thuộc kinh tế vĩ mô. Nhưng Hayek thì chối từ luôn ngoại lệ đó cũng như ông không chấp nhận kinh tế vĩ mô. Mọi ý định can thiệp vào thị trường, dù xấu hay tốt, đều đem lại hậu quả tồi.

    Adam Smith

    Chủ nghĩa tự do kinh tế của Adam Smith với ẩn dụ nổi tiếng về “bàn tay vô hình” một thời là tư tưởng chủ đạo tạo nên sự phồn thịnh cho nước Anh và châu Âu thế kỷ 19. Theo lý thuyết (của kinh tế học cổ điển), do tính trung lập của tiền tệ nên tổng cung tạo ra chính cầu của nó, do đó nền kinh tế thị trường tự do không thể xảy ra khủng hoảng thừa và thất nghiệp. Nhưng thực tế không phải như vậy.

    Giữa mê cung của các lý thuyết kinh tế, Hayek có cái nhìn trong suốt nhất quán về thị trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông, nhất là tác phẩm “Monetary Theory and the Trade Cycle” (Lý thuyết tiền tệ và chu kỳ kinh doanh) như một phát súng nổ vào kinh tế học.

    Cũng theo lý thuyết, trạng thái cân bằng của nền kinh tế được đặc trưng bởi việc toàn dụng các nguồn lực và bằng tính linh hoạt hoàn hảo của giá cả. Ở đó tỉ số giữa sản xuất sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm đầu tư tương ứng với tỉ số chi tiêu tiêu dùng và mức tiết kiệm do sở thích liên thời gian của các tác nhân quyết định. Lãi suất là một giá thực tế cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư, và do đó bảo đảm cân bằng liên thời gian trong nền kinh tế. Các đại lượng thực tế đặc trưng cho nền kinh tế cũng giống với các đại lượng trong tình thế hàng đổi hàng.

    Nhưng theo Hayek, một “thiên đường” như vậy không bao giờ có trong thực tế. Có vô số những nguyên nhân khởi động sự mất cân bằng và luôn luôn có một “mụ phù thủy” đứng ra đối phó. “Mụ phù thủy” chính là tiền tệ. Điều khiển tiền tệ là các chủ ngân hàng và vì nó là sản phẩm “quốc doanh” nên do các nhà chính trị thao túng. Do không bao giờ có thể hiểu được thị trường nên chính sách tiền tệ luôn có xu hướng “bẩm sinh” là bơm tín dụng vào nền kinh tế vượt quá mức cần thiết để duy trì cân bằng. Xu hướng “bẩm sinh” này xuất phát từ mục đích chính trị, từ lòng tham và thiên kiến.

    Chính sự gia tăng cung tiền này khiến cho lãi suất tiền tệ xuống dưới mức lãi suất tự nhiên, điều này kéo dài quá trình sản xuất và gây ra mất cân bằng giữa đầu tư và tiết kiệm mong muốn. Sự sụt giảm của lãi suất làm cho việc sản xuất các sản phẩm đầu tư trở nên có lợi hơn là sản xuất các sản phẩm tiêu dùng, kéo theo nguồn lực được chuyển dịch từ khu vực sản xuất sản phẩm tiêu dùng sang các sản phẩm đầu tư khiến cho giá sản phẩm tiêu dùng tăng. Giá tiêu dùng tăng làm giảm tiêu dùng thực tế của cộng đồng, được gọi là “tiết kiệm bắt buộc”, “tiết kiệm bắt buộc” này tài trợ cho đầu tư quá mức. Lúc này tình thế đảo ngược : quá trình sản xuất rút ngắn lại. Hậu quả là thất nghiệp gia tăng. Và khủng hoảng nổ ra khi nguồn tín dụng cạn, vì các ngân hàng không thể cho vay vô tận.

    Hayek cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 là “do đầu tư quá mức xuất phát từ một chính sách tiền tệ dễ dãi, dựa trên ảo tưởng kích thích nền kinh tế bằng lạm phát”. Cách giải thích của Hayek hoàn toàn trái ngược với cách giải thích của Keynes. Keynes cho rằng cuộc khủng hoảng là do thiếu đầu tư gây nên. Hai cách giải thích trái ngược kéo theo hai giải pháp trái ngược hoàn toàn. Một cuộc “thánh chiến” kéo dài mấy thập kỷ mà phần thắng thuộc về Keynes, không phải vì Hayek sai mà bởi do ông là một trí thức trung thực không xu thời (và giờ đây, ông lại sắp thua một lần nữa).

    Friedrich Hayek. Ảnh từ Wikipedia

    Trong buổi lễ trao giải Nobel kinh tế cho Hayek năm 1974, Viện Khoa học hoàng gia Thụy Điển nhận xét :

    “Những tác phẩm nghiên cứu của ông gồm sách và báo trong những năm 1920 đến 1930 khởi xướng một thảo luận vô cùng sống động. Cụ thể là giả thuyết của ông về chu kì kinh doanh và ảnh hưởng của chính sách tín dụng và tiền tệ đang được khuấy lên. Ông đã cố gắng nhìn thấu sâu hơn vào các mối tương quan phụ thuộc có chu kì so với thường lệ trong thời gian đó bằng cách xem xét các giả thuyết tư bản và cơ cấu trong phân tích. Một phần có lẽ vì phân tích chu kì kinh doanh sâu sắc này, giáo sư Hayek là một trong số ít các nhà kinh tế có thể đoán biết trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn trong những năm 1920, sự cảnh báo của giáo sư thực tế đã được đưa ra kịp thời trước khi vụ sụp đổ lớn đó xuất hiện giữa mùa thu năm 1929” (trích từ economy.com.vn).

    Trong các bộ tiểu thuyết của Kim Dung, tôi thích nhất Hiệp Khách Hành. Đó là câu chuyện về 24 câu thơ trong bài Hiệp Khách Hành của Lý Bạch được khắc trên vách của 24 gian thạch thất trên một hòn đảo giữa biển khơi với các sơ đồ và những lời chú giải trừu tượng đa nghĩa, ở đó ẩn chứa những bí quyết võ công thượng thừa. Hàng năm chúa đảo phát thiệp mời các cao thủ đứng đầu các môn phái lên đảo “ăn cháo Lạp Bát”. Tất cả những người được mời lên đảo không một ai trở lại nên thiên hạ cho rằng ai lên đó tất cả đều phải chết. Thực ra không ai chết cả, họ không về là họ bị hút vào những sơ đồ trên 24 bức vách. Ai cũng đem hết sở học bình sinh của mình để nghiên cứu các sơ đồ và lời chú giải, những mong tìm ra bí quyết võ công để trở thành thiên hạ vô đích. Nhiều người ở đó lì trên đó suốt 30 năm, trong đó có cả phương trượng chùa Thiếu Lâm danh bất hư truyền, nhưng không ai phát hiện ra thứ gì cả. Cuối cùng, chỉ có Thạch Phá Thiên, một chàng thanh niên không biết chữ do ngẫu nhiên bất đắc dĩ phải làm chưởng môn một phái, lên đảo và nhìn ngay ra các bí quyết võ công. Các cao thủ không nhìn ra vì họ bị cơ tâm chi phối, họ lại bị những lý thuyết in sâu trong đầu óc thành định kiến và nhìn sự vật thông qua lăng kính của những định kiến đó. Còn Thạch Phá Thiên thì trong lòng không có cơ tâm, trong đầu không có định kiến.

    Thỉnh thoảng tôi nghĩ đến câu chuyện này và khi tìm hiểu về Hayek tôi lại có chút liên tưởng. Hayek là một triết gia, dĩ nhiên ông không phải là “không biết chữ” như Thạch Phá Thiên, nhưng chắc chắn ông là người không có “cơ tâm”.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi