Giáo dục Khai Phóng

  • Bởi hyvăn_trịnh
    19/04/2009
    2 phản hồi

    <em>"Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại" là cuốn sách hữu ích cho những ai đã đọc nó. Dân Luận khuyến nghị bạn đọc nên mua cuốn sách này được xuất bản bởi NXB Văn Hóa Thông Tin, do Phạm Viêm Phương mà Mai Sơn biên dịch.
    Cuốn sách giúp chúng ta giải đáp nhiều lĩnh vực, rộng khắp từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, giáo dục và gia đình. Sau đây tôi xin trích lược một vài chương từ cuốn sách này.</em>

    Ts. Mortimer J.Adler

    NỀN GIÁO DỤC KHAI PHÓNG

    Trước tiên chúng ta hãy làm rõ nghĩa của khái niệm môn học khai phóng và giáo dục khai phóng. Các môn học khai phóng, theo truyền thống, đều nhằm phát triển những năng lực trí tuệ của con người, những năng lực trí tuệ và trí tưởng tượng mà không có chúng thì ta không thể hoàn tất được một công việc trí tuệ nào. Giáo dục khai phóng không bị trói buộc vào những môn học nào đó, kiểu như triết học, lịch sử, văn chương, âm nhạc, nghệ thuật, và những môn được gọi là “khoa học nhân văn” khác.

    Giáo dục khai phóng [trước hết] không bị trói buộc vào những môn học nào đó... Không có giáo dục khai phóng, chúng ta chỉ có thể đào tạo những nhà kỹ thuật, những người không thể hiểu những nguyên lý cơ bản đàng sau những vận động mà họ thực hiện


    Theo truyền thống khai phóng, các môn khoa học, kiểu như toán và vật lý, được coi như có tính khai phóng như nhau, nghĩa là, đều có khả năng phát triển năng lực trí tuệ như nhau. Truyền thống khai phóng có từ chương trình giảng dạy thời Trung Cổ. Nó bao gồm hai phần. Phần đầu, tam khoa, bao gồm Ngữ pháp, thuật Hùng biện, và Luận lý. Nó dạy nghệ thuật đọc và viết, nghệ thuật nghe và nói, và nghệ thuật tư duy hợp lý. Phần còn lại, cao đẳng tứ khoa, bao gồm Số học, Hình học, Thiên văn học, và Âm nhạc (không phải loại âm nhạc có thể nghe được rõ ràng, mà là nhạc học được hình dung như một môn toán học). Nó dạy nghệ thuật quan sát, tính toán, và đo lường, làm thế nào để hiểu khía cạnh định lượng của mọi vật. Dĩ nhiên là ngày nay chúng ta sẽ thêm vào nhiều bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội nữa. Đấy là những gì đã được thực hiện qua nhiều nỗ lực hiện đại khác nhau nhằm cách tân nền giáo dục khai phóng.

    Nền giáo dục khai phóng, bao gồm tất cả các môn học truyền thống cũng như những ngành khoa học mới hơn, là rất quan yếu cho việc phát triển những nhà khoa học hàng đầu. Không có nó, chúng ta chỉ có thể đào tạo những nhà kỹ thuật, những người không thể hiểu những nguyên lý cơ bản đàng sau những vận động mà họ thực hiện. Chúng ta hầu như không thể mong chờ những người máy tinh xảo như thế tạo ra những phát kiến quan trọng mới mẻ nào. Một chương trình chỉ đơn thuần huấn luyện kỹ thuật có lẽ sẽ kết thúc bằng sự sụp đổ đối với ngành khoa học cơ bản. Mối quan hệ giữa nền giáo dục khai phóng với sự sáng tạo trong khoa học không chỉ là sự võ đoán. Lịch sử đã chứng minh rằng các nhà khoa học vĩ đại người Đức thế kỷ 19 đều có nền móng vững chắc về nghệ thuật khai phóng. Tất cả họ đều trải qua một nền giáo dục khai phóng bao gồm tiếng Hy Lạp, Latinh, Luận lý, Triết học, và Lịch sử, cộng thêm Toán, Vật lý, và những môn khoa học khác.

    Thực tế, cho tới ngày hôm nay, đây là sự chuẩn bị học vấn cho các nhà khoa học châu Âu. Einstein, Bohr, Fermi,... và những nhà khoa học hiện đại vĩ đại khác đều phát triển không chỉ nhờ việc học ngành kỹ thuật của mình, mà còn nhờ vào nền giáo dục khai phóng. Từ khi phi thuyền Sputnik I được phóng vào không gian, thì điều này cũng hết sức đúng đối với các nhà khoa học Nga. Về hệ thống giáo dục hiện tại ở Liên Xô, mà có một số người cứ đòi hỏi nước Mỹ phải cố gắng sánh ngang, có vẻ như nó chứa đựng một điều gì đó ngoài việc đào tạo về kỹ thuật và tập trung vào toán học và các môn khoa học tự nhiên.

    Mục đích của nền giáo dục khai phóng lại không phải là sản sinh ra những nhà khoa học. Nó cố tìm cách để phát triển những con người tự do biết cách sử dụng trí tuệ của mình và có thể độc lập suy nghĩ... Nó sản sinh ra những công dân có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ một cách có trách nhiệm. Nó phát triển những con người trí thức có thể sử dụng thời gian rỗi của họ một cách hữu ích. Nó là một nền giáo dục cho tất cả những người tự do, dù họ có ý định trở thành nhà khoa học hay không.


    Tuy nhiên mục đích của nền giáo dục khai phóng lại không phải là sản sinh ra những nhà khoa học. Nó cố tìm cách để phát triển những con người tự do biết cách sử dụng trí tuệ của mình và có thể độc lập suy nghĩ. Mục đích hàng đầu của nó không phải là phát triển khả năng chuyên môn, dù một nền giáo dục khai phóng là không thể thiếu được đối với bất kỳ một nghề chuyên môn về đầu óc nào. Nó sản sinh ra những công dân có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ một cách có trách nhiệm. Nó phát triển những con người trí thức có thể sử dụng thời gian rỗi của họ một cách hữu ích. Nó là một nền giáo dục cho tất cả những người tự do, dù họ có ý định trở thành nhà khoa học hay không.

    Vấn đề giáo dục là làm thế nào để sản sinh ra những con người tự do, chứ không phải một đám những nhà kỹ thuật được đào tạo mà không có tri thức. Chỉ có nền học vấn khai phóng tốt nhất mới có thể hoàn tất được điều này. Nó phải bao gồm tất cả môn khoa học nhân văn cũng như toán học và khoa học. Nó phải loại trừ việc chỉ đơn thuần đào tạo kỹ thuật và ngành nghề.

    VỊ TRÍ CỦA VIỆC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC TRONG NỀN GIÁO DỤC KHAI PHÓNG

    Một nền giáo dục khai phóng phát triển năng lực trí tuệ và vun đắp những kỹ năng thu thập kiến thức. Nó chuẩn bị cho sinh viên trở thành một con người toàn diện và trưởng thành đồng thời là một công dân tự do và có tinh thần trách nhiệm. Nó đem lại sự chuẩn bị cho công việc thuộc về trí tuệ chuyên sâu và nền văn hóa khiến cho thời gian rỗi rãi được trọn vẹn và hiệu quả.

    Tuy nhiên nền giáo dục không chỉ giới hạn vào việc vun đắp những năng lực trí tuệ. Người Hy Lạp, mà chúng ta mượn ở họ khái niệm giáo dục khai phóng, ý thức rất rõ về điều này. Họ tin rằng nền giáo dục phải phát triển tất cả những đức tính và những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người, về thể chất, đạo đức cũng như trí tuệ. Đối với người Hy Lạp, nền giáo dục có ba chức năng: phát triển kỹ năng và vẻ đẹp về thân thể, hình thành tính cách đạo đức, và vun đắp sự hiểu biết trí tuệ.

    Plato và Aristotle đặt những đức tính trí tuệ lên hàng đầu. Tuy nhiên trong những chương trình giáo dục của họ, họ nhấn mạnh những đức tính đạo đức và rèn luyện ý chí. Họ cũng đưa giáo dục thể chất vào trong chương trình học của họ – thông qua thể dục, múa, và các môn thể thao – vì họ cho rằng thể chất tráng kiện giúp cho sự minh mẫn về trí tuệ và đạo đức. Họ nối kết sự lành mạnh, kỷ luật và sự hài hòa về trí óc và tính cách với những phẩm chất tương tự về thân thể. Tuy nhiên người Hy Lạp không giới hạn đức tính trí tuệ vào việc lý luận trừu tượng hay kiến thức khoa học. Họ bao gồm trong những đức tính trí tuệ những món như nghệ thuật (khả năng làm mọi việc) và sự thông thái thực tiễn (khả năng đánh giá đúng phương tiện thiết thực để đạt được kết quả tốt đẹp trong đời sống hàng ngày). Sự thông thái thực tiễn hay “tính cẩn trọng” là điều thiết yếu đối với đời sống đạo đức và trách nhiệm công dân. Theo quan điểm của người Hy Lạp, mục tiêu cuối cùng của giáo dục là phát triển một đầu óc có khả năng phán đoán đúng và hiểu rõ quy luật đúng của cuộc sống.

    Đức tính đạo đức không phải là sự nhận thức trí tuệ hay kỹ năng thực hành. Tính cách là một phẩm chất của toàn bộ con người. Không hẳn nó được hình thành qua việc học thuộc lòng những châm ngôn sáo cũ hoặc lắng nghe những kẻ lên mặt dạy đời.


    Dù các nhà giáo dục nhìn chung đã đồng ý rằng việc hình thành tính cách là điều cốt lõi trong việc giáo dục, họ lại không tán thành về việc có nên dạy các đức tính đạo đức trong lớp học hay không. Các nhà giáo dục biết rằng dạy một học sinh hình học và số học cơ bản thì đơn giản hơn nhiều so với việc dạy anh ta sự công bằng, tiết độ và kiên nhẫn. Chúng ta có thể dạy các sinh viên đại học lý thuyết đạo đức hoặc lịch sử đạo đức học, nhưng điều đó không ngăn họ có hành động gian dối trong các kỳ thi – ngay cả trong môn đạo đức học. Học để trở nên tốt và làm đúng hoàn toàn khác với việc học cách đọc, viết, và nghĩ đúng. Đức tính đạo đức không phải là sự nhận thức trí tuệ hay kỹ năng thực hành. Tính cách là một phẩm chất của toàn bộ con người. Không hẳn nó được hình thành qua việc học thuộc lòng những châm ngôn sáo cũ hoặc lắng nghe những kẻ lên mặt dạy đời. Có vẻ như đức tính đạo đức không thể dạy một cách trực tiếp.

    Vậy có cách gián tiếp nào không?
    Một cách phát triển tính cách đạo đức được ưa chuộng lâu nay là tác động của việc làm gương. Đó có thể là thầy giáo, bố mẹ, hay người lớn tuổi hơn, hoặc một tính cách vĩ đại và đẹp đẽ được tìm thấy trong lịch sử hay văn chương. Nhiều người trong chúng ta vẫn nhớ hoài những người thầy đã truyền đạt cho chúng ta một điều gì đó về phẩm chất đạo đức của họ, dù họ không hề trực tiếp đưa ra những giáo huấn đạo đức. Tự trong quá trình học tập, học sinh cũng được thúc đẩy phải rèn luyện tính tiết chế và dũng cảm, lòng kiên nhẫn và tính kiên định; ngược lại họ cũng mong chờ sự công bằng và quan tâm từ phía thầy giáo và người quản lý. Đó là lý do tại sao John Dewey cảm thấy rằng việc huấn luyện đạo đức có thể xảy ra ngay trong lớp học. Tính cách được hình thành trong quá trình học bình thường, Dewey nói, và những phẩm chất lộ ra là những đức tính đạo đức. Dewey phản đối việc tách biệt phẩm chất trí tuệ với phẩm chất đạo đức, và giống như Socrates, ông coi phẩm chất đạo đức là một hình thức của kiến thức có thể giáo dục được, dù không trực tiếp.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Rất tiếc là tôi không ở Sài Gòn bác ợ, còn HN thì tôi mua ở hiệu sách Tràng Tiền.
    Có điều lạ là mấy cuốn sách tôi mê thường rất ế ẩm, lên thư viện cũng chả thấy mấy ai đọc; kiểu này phải thay đổi kiểu sách đọc thôi, hình như với tôi thấy có ý nghĩa, còn đa số thấy vô ích :P.

    bạn hyvan làm ơn cho tôi hỏi, cuốn này mới ra phải không ? Ở SG mua hiệu sách nào ? ( để chạy ra mua cho nhanh ấy mà ) . Chân thành cảm ơn!