Được "cấp cứu", doanh nghiệp Việt chậm "lột xác"

  • Bởi Bien-Tap
    13/04/2009
    0 phản hồi

    Lê Nhung

    <em>"Việc được cấp cứu bằng nguồn vốn rẻ vô hình chung đã làm trì hoãn việc tái cấu trúc doanh nghiệp và ngân hàng, một nhiệm vụ khó khăn, đau đớn nhưng cần thiết. Như vậy, chính sách hỗ trợ lãi suất đã làm lỡ một cơ hội tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp để chuẩn bị cho sự phục hồi của kinh tế thế giới", TS Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Việt Nam cho hay.</em>

    Nhận định về hiệu quả của gói kích cầu hỗ trợ 4% lãi suất, TS Vũ Thành Tự Anh cho rằng nếu đây là chính sách kích cầu như kỳ vọng thì những số liệu ban đầu cho thấy dường như "chưa đạt mục tiêu" vì DN chủ yếu "lợi dụng chính sách lãi suất thấp để đảo nợ".

    Tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối 2008 vào khoảng 1,2 triệu tỷ đồng. Như vậy, nếu số tiền hỗ trợ lãi suất hơn 200 ngàn tỷ được chuyển vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải làm tăng dư nợ tín dụng lên khoảng 16%. Tuy nhiên, dư nợ tín dụng chỉ tăng trên 2%, chứng tỏ phần lớn tiền đã quay ngược lại ngân hàng, dưới hình thức phổ biến là đảo nợ, và vì lẽ đó không kích được cầu.

    Nếu gói kích cầu không có tác dụng điều chỉnh cơ cấu đầu tư công hợp lý, sẽ gián tiếp cản trở những cải cách cơ cấu.


    Trì hoãn tái cấu trúc doanh nghiệp và ngân hàng

    Hệ quả là gì, thưa ông?

    - Từ góc độ chính sách, như vậy là không đạt mục tiêu kích cầu. Tôi không phản đối đảo nợ, chỉ không đồng tình việc đưa ra một chính sách mà không lường hết hệ quả, do vậy không có cơ chế kiểm soát.

    Một số nhà bình luận cho rằng với đồng vốn rẻ hơn, DN có cơ hội hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh. Về lý thuyết thì đúng. Nhưng thực tế, số liệu về giá cả không cho thấy điều này.

    Khó có thể khẳng định sự cải thiện về năng lực cạnh tranh nếu nhìn vào kết quả xuất khẩu trong quý 1 của những ngành hàng quan trọng nhất. Trong khi đó, báo chí phản ánh rất nhiều về tình trạng DN vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ.

    Từ góc độ DN, việc được cấp cứu bằng nguồn vốn rẻ vô hình chung làm trì hoãn việc tái cấu trúc DN và ngân hàng, một nhiệm vụ khó khăn, đau đớn nhưng cần thiết. Như vậy, chính sách hỗ trợ lãi suất đã làm lỡ một cơ hội tăng cường năng lực cạnh tranh của các DN để chuẩn bị cho phục hồi của kinh tế thế giới.

    Từ góc độ vĩ mô, chính sách hỗ trợ lãi suất làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ vốn đã thiếu sức mạnh. Hơn nữa, đồng vốn dễ dãi nếu được sử dụng kém hiệu quả có thể làm lạm phát trở lại, nhất là khi nền kinh tế VN và thế giới hồi phục trở lại. Vì những nguyên nhân có tính cơ cấu của lạm phát trong nền kinh tế VN vẫn còn nguyên.

    Chính sách hỗ trợ lãi suất đã cứu rất nhiều DN kém hiệu quả, lẽ ra phải ra đi, nhường nguồn lực cho DN hiệu quả. Bên cạnh đó, những hỗ trợ của Nhà nước cũng cứu nhiều DN lớn lên nhờ đầu cơ đất đai, chứng khoán... chứ không phải thực lực.


    Bên cạnh đó, vì không kích được cầu và khu vực DN vừa và nhỏ khó tiếp cận chính sách nên cũng không tạo được nhiều việc làm mới.

    Vài ngày trước, Chính phủ tiếp tục công bố hỗ trợ gói hỗ trợ lãi suất thứ 2 với thời gian kéo dài hơn. Ông có khuyến cáo gì cho việc thực hiện?
    - Khuyến khích hỗ trợ đầu tư là cần thiết nhưng cần hơn là phải đúng đối tượng và đạt mục đích tăng tổng cầu. Không nên hỗ trợ đầu tư cho DN sắp phá sản bất kể thành phần kinh tế, vì làm thế chỉ kéo dài tình trạng chết lâm sàng của họ thêm một thời gian. Nên đầu tư cho DN có sức bật và có năng lực cạnh tranh.

    Quan trọng không kém là khâu hậu kiểm. Có vẻ như vấn đề hậu kiểm của Ngân hàng Nhà nước hiện nay làm chưa tốt. NHNN vẫn tuyên bố là chưa phát hiện được sai phạm nào nhưng có những dấu hiệu rõ ràng là đồng tiền hỗ trợ lãi suất đợt 1 đã được dùng không đúng mục đích.

    "Cấp cứu" không được làm phương hại tăng trưởng dài hạn

    Nền kinh tế VN phụ thuộc nhiều vào thế giới khi xuất khẩu chiếm 70% GDP, FDI chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vậy liệu nền kinh tế nội địa có thể là cơ sở cho phục hồi hay không?

    - Nhìn vào thực lực hiện nay thì rất khó. Vì trước khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thì VN đã trải qua gần một năm bất ổn vĩ mô nặng nề.

    Nhìn cụ thể hơn vào các yếu tố của tổng cầu thì sẽ thấy xuất khẩu 2009 nếu không giảm so với 2008 là may mắn. Tương tự, người tiêu dùng không thể phóng tay chi tiêu và nhà sản xuất không thể mở rộng đầu tư.

    Như vậy, khả năng phục hồi từ nền kinh tế nội địa chỉ trông cậy vào đầu tư khu vực Nhà nước. Thế nhưng, lúc này ngân sách Chính phủ đang thâm hụt nặng, rất khó huy động được nguồn để tài trợ cho các dự án đầu tư hay chi tiêu công.

    Ba đợt phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD mới đây cũng chỉ thu về được 230 triệu USD, trong khi để thực hiện gói kích cầu và bù đắp sự suy giảm nguồn thu, Chính phủ cần huy động 8 - 10 tỷ USD. Tôi cho rằng Bộ Tài chính nên nghiên cứu lại khả năng điều chỉnh lợi suất một cách thích hợp để có thể phát hành trái phiếu bằng VND.

    Nhà nước có thể tác động vào quá trình phục hồi bằng việc một mặt thực hiện chính sách kích cầu hiệu quả, mặt khác điều chỉnh mô hình phát triển và cơ cấu kinh tế để chớp cơ hội khi kinh tế thế giới phục hồi, quay lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh một cách bền vững.

    Hiện nay, các dự báo của những tổ chức trong nước và chuyên gia quốc tế đang rất trái chiều nhau. VN nên lựa chọn hướng đi nào để vượt qua khó khăn?

    - Cần tham khảo báo cáo nước ngoài nhưng quan trọng hơn là nhìn vào các yếu tố cơ bản của nền kinh tế để đưa ra phản ứng chính sách. Đó là kim ngạch xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp, đầu tư của nhà nước, đặc biệt cơ sở hạ tầng và xây dựng, đầu tư của khu vực dân doanh và FDI, tình trạng mất việc làm v.v…

    Nhìn sâu xa, nguyên nhân của những gì đã và đang xảy ra nằm ở các yếu tố có tính cơ cấu đã hình thành và tồn tại từ lâu. Đó là mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhưng đầu tư lại kém hiệu quả, đặc biệt là khu vực DNNN. Đồng thời việc điều hành chính sách vĩ mô lại thiếu tính phối hợp đồng bộ, thường đi sau.

    Hiện nay, phản ứng chính sách thường theo 1 trong 2 hướng. Thứ nhất là “cấp cứu” để giải quyết vấn đề cấp bách, hai là điều chỉnh cơ cấu để giải quyết những vấn đề cơ bản, lâu dài.

    Hai cách này không mâu thuẫn hay loại trừ nhau. Khi nền kinh tế suy giảm, rõ ràng phải tiến hành “cấp cứu”, nhưng quan trọng hơn là biện pháp cấp cứu không được làm phương hại đến tăng trưởng dài hạn.

    Chẳng hạn như chính sách hỗ trợ lãi suất đã cứu rất nhiều DN kém hiệu quả lẽ ra phải ra đi, nhường nguồn lực cho DN hiệu quả. Bên cạnh đó, những hỗ trợ của Nhà nước cũng cứu nhiều DN lớn lên nhờ đầu cơ đất đai, chứng khoán... chứ không phải thực lực.

    Nếu gói kích cầu không có tác dụng điều chỉnh cơ cấu đầu tư công hợp lý sẽ gián tiếp cản trở những cải cách cơ cấu tuy khó khăn nhưng vô cùng cần thiết để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi