Yury Afanasiev - Nước Nga đã đến hồi cáo chung? (phần II)

  • Bởi tqvn2004
    23/03/2009
    0 phản hồi

    Phạm Minh Ngọc dịch

    1. Xây dựng chủ nghĩa xã hội: Nước Nga từ bỏ lối mòn, bắt đầu xây dựng thiên đường trên cõi thế

    Năm 1917 là thí dụ nổi bật nhất, điển hình nhất về sự “trở lại” trong lịch sử của nước Nga. Chúng ta có thể không thảo luận về tư tưởng và nội dung của nó trong bài báo này. Nhưng như thế thì sẽ không làm rõ được những khái niệm của chúng ta, tức là các khái niệm “trở lại”, “con đường” và “hệ thống của nước Nga”, cũng như không làm rõ được công cuộc tìm hiểu trách nhiệm lịch sử của việc trở lại “con đường của nước Nga”. Trách nhiệm nằm trên vai ban lãnh đạo hiện nay của nước Nga cũng như toàn thể thế hệ những người đang sống đã nhắm mắt bầu cho ban lãnh đạo đó.

    Đáng tiếc là rất ít người ở Nga hiểu được những chuyện đã xảy ra ở Liên Xô trong quá trình mà sau này được gọi là “xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Hiểu biết quả thật còn rất nhiều thiếu sót.

    Đấy không phải là một bước rẽ mà là một cú nhảy hẳn khỏi lối mòn. Nước Nga không chỉ bước sang một con đường mới mà còn cắt đứt tất cả các mối liên hệ với quá khứ, cái quá khứ đã tạo nên chính nó. Tất cả mọi thứ đều bị đào tận gốc trốc tận rễ.

    Qui mô và tư tưởng của cuộc tấn công quả là đầy tham vọng. Những thay đổi trong cơ cấu xã hội nhất định và đương nhiên sẽ dìm hàng triệu người xuống và đẩy hàng triệu người khác lên. Tất cả những gì gọi là tài sản của quốc gia lúc đó đều bị giật khỏi tay một số người để giao vào tay một số người khác. Các biện pháp tái tổ chức cơ cấu của xã hội và quan hệ sở hữu lan sang cả lĩnh vực tư tưởng là cần phải cải tạo con người để bảo đảm rằng họ sẽ có những phẩm chất đúng đắn và cần thiết cho việc thực hiện Kế Hoạch. Ban đầu là trong nội bộ nước Nga, nhưng sau đó … chúng ta sẽ thấy nó còn đi xa đến đâu.

    Nhưng nếu bỏ sang một bên ngôn ngữ mang tính chính trị và tư tưởng thì thấy rõ là người ta đã thực hiện tư tưởng biến Moskva thành thành Rome Thứ Ba và biến nước Nga thành Thiên Đường trên cõi thế. Một tư tưởng quả là khủng khiếp, cả về qui mô lẫn khái niệm.

    2. Xây dựng chủ nghĩa xã hội: xoá bỏ nhân tố con người

    Khi muốn nói về những điều khủng khiếp nhất từng xảy ra ở Liên Xô trong thế kỉ XX người ta thường kể về chiến tranh và “những vụ đàn áp của Stalin”. Những hi sinh như thế, những hi sinh mà người dân Nga hiến dâng lên bàn thờ tổ quốc đã được khắc sâu vào tâm khảm tập thể. Trong quá trình “xây dựng chủ nghĩa xã hội” “một cách hoà bình” đã có hàng triệu người, họ là nạn nhân của những vụ “đàn áp” của Stalin, những người được đưa các trại tù thuộc hệ thống GULAG hoặc bị giết trước khi được đưa tới đó. Các nạn nhân này dĩ nhiên là một phần của sự thật. Nhưng họ không phải là tất cả, mà có thể không phải là phần chính.

    Đối với Hitler, giải pháp chung cuộc đối với người Do Thái là tiêu diệt hoàn toàn người Do Thái.

    Đối với Stalin, giải pháp chung cuộc cho vấn đề “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là phá tan tành xã hội, theo đúng nghĩa đen của từ này. Sự phân tầng về mặt xã hội đã xảy ra trong hàng thế kỉ. Trước thế kỉ XX cộng đồng xã hội Nga bao gồm nông dân, thợ thủ công, người buôn bán, công nhân và những người làm nghề tự do. Ngoài ra còn có các phường hội của các nhà buôn, hiệp hội của công nhân và nghệ sĩ, giáo sứ, hội đồng làng xã, hội nhà văn. Stalin, tiếp tục công việc của Lenin, đã thực hiện trọn vẹn giải pháp chung cuộc cho “vấn đề xã hội”: phá huỷ một cách triệt để xã hội trên toàn lãnh thổ Liên Xô.

    Thay thế cho nó, “đảng và nhà nước” đã tạo ra một môi trường xã hội hoàn toàn khác, môi trường xã hội Xô Viết, gồm toàn những công nhân viên chức được trả theo cùng một bảng lương trên toàn lãnh thổ quốc gia. Về mặt pháp lí thì người nông dân và người nghệ sĩ, mảnh ruộng hay nhà hát đều có cùng một địa vị: tất cả đều trở thành sở hữu của nhà nước, đều trở thành “nguồn lực” hết. Con người và đồ vật là những loại nguồn lực khác nhau, đấy cũng là khác biệt duy nhất giữa con người và đồ vật. Nếu người được tính là nguồn lực lao động, nguồn lực con người, nguồn lực quản lí thì đồ vật là nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn năng lượng. Nhưng cả hai nhóm vẫn chỉ là nguồn lực mà thôi. Dù được tính bằng những con số, bằng tấn, bằng mẫu hay bằng ngày công thì đấy cũng chỉ đơn giản là được ghi chép, lập kế hoạch, lưu trữ, phân bổ, vận chuyển, tái định cư và nếu cần thì dự trữ.

    Người dân không có quyền cũng như không có điều kiện thay đổi nơi làm việc theo ý của mình - mỗi người đều có một cuốn sổ lao động, đi muộn hoặc nghỉ việc bị coi là tội phạm hình sự. Họ cũng không có quyền và điều kiện thay đổi nơi cư trú - mỗi người đều có một cuốn sổ hộ khẩu. Nông dân - chiếm tới một nửa dân số - hoàn toàn không có quyền gì: không được đi đâu, ngay cả trong vòng mấy ngày. Nông dân không có chứng minh thư.

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội, nếu gọi đúng tên của nó - chứ không phải là “tập thể hoá, công nghiệp hoá và cách mạng văn hoá” – là thực hiện kế hoạch nhằm tiêu diệt hoàn toàn nhân tố con người trong cơ cấu của xã hội. Đấy là quá trình tạo dựng môi trường xã hội nhân tạo, gọi là xã hội Xô Viết. Đấy là một đòn chí mạng giáng vào toàn bộ cộng đồng dân tộc Nga (Liên Xô).

    3. Tổ chức xã hội bị thay thế bằng tội phạm và tham nhũng

    Xin được quay trở lại với câu hỏi của chúng ta. Hàng triệu nạn nhân bị giết trong những vụ khủng bố của Stalin hay là con số còn lớn hơn thế những người bị làm cho trở thành tàn phế vĩnh viễn về mặt đạo đức, cái nào có hậu quả nặng nề và đen tối hơn?

    Trước năm 1917 môi trường xã hội Nga vẫn còn rất mong manh, chưa có cấu trúc chắc chắn, chưa có các định chế riêng của mình. Việc phá hoại môi trường xã hội như thế đã làm cho nó trở thành rối loạn và phân tán hơn nữa: ai lo việc người nấy, ai cũng bị nhà nước trói buộc hết. Lạt là đồng lương chết đói, đấy là nói với người sống ở thành phố. Còn ở nông thôn thì không phải là lương mà là ngày công, nhưng ngày công cũng chẳng làm người ta no được.

    Nhân dân không có một tí quyền hành nào, đấy là căn cứ cho việc tổ chức xã hội, nhưng khát vọng sống của họ thì không ai có thể tiêu diệt được vì vậy mà tự tổ chức trở thành căn cứ, nói cách khác, trở thành những mối quan hệ mang tính định chế giữa người dân với nhau. Khi những hình thức tổ chức và định chế xã hội bình thường, hình thành một cách tự nhiên, bị phá bỏ thì dĩ nhiên là quá trình tự tổ chức sẽ phát triển bằng cách phớt lờ những cấm đoán, và cuối cùng sẽ thể hiện dưới hình thức tội phạm và tham nhũng toàn diện (“mang tính hệ thống”, nay người ta thường nói một cách thiếu suy nghĩ như thế).

    Bằng cách phá huỷ xã hội đã hình thành ở nước Nga trước thế kỉ XX, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội đã kích động và làm sống dậy những điều tồi tệ nhất, tức là những bản năng thú vật và tính ích kỉ, trong mỗi con người.

    4. Moskva là thành Rome đệ tam hay là một dân tộc hoang tưởng

    Nhưng nếu tất cả những điều đã được làm nhân danh “xây dựng chủ nghĩa xã hội” không phải là để đánh thức thú tính trong mỗi con người thì mục tiêu sâu xa, thầm kín của nó là gì? Tương lai tươi sáng ư? Hạnh phúc cho mỗi người ư? Bờ xôi ruộng mật ư? Đối với những người quen sống mà chẳng cần suy nghĩ gì thì đúng là như thế. Đối với họ, truyền thống và hoang tưởng đã trở thành không chỉ căn cứ mà còn là tất cả nội dung của nhận thức nữa.

    Thế còn Stalin – khát vọng của ông ta là gì? Suy nghĩ theo lối truyền thống và hoang tưởng cũng không phải là những điều xa lạ đối với ông ta. Hơn nữa, những người đã viết về tính tôn giáo trong ý thức hệ của chủ nghĩa Bolshevik hẳn là phải có căn cứ vững chắc để làm như thế. Mà không chỉ vấn đề tôn giáo – thí dụ như Lenin với quan điểm mục đích luận về thế giới nói chung và quan niệm về vai trò cứu rỗi của nước Nga nói riêng.

    Tư tưởng tôn giáo của Stalin là Chính thống giáo. Ông ta cho rằng Liên Xô là sự tiếp nối đường lối xuất phát từ Moskva, từ thời các vị đại công tước khởi sự quá trình xây dựng đế chế theo đường lối Chính thống giáo. Đường lối này đã kéo dài qua thời đại các Sa hoàng ở Moskva, qua thời đại đế chế đóng đô ở Petersburg và kéo dài đến tận thời đại Liên Bang Xô Viết của ông ta. Stalin nắm vững tư tưởng của những nhà độc tài Nga. Ông ta biết rõ quan niệm của họ về tương lai của nước Nga, ông ta biết rằng từng người trong bọn họ, kể từ Ivan Đệ Tam trở đi, đều nhìn thấy “sứ mệnh” và “vận mệnh” của nó. Ông ta biết rõ dự án của Speransky, ông ta biết “Dự án Hy Lạp” của Catherine Đại đế, dự án của Uvarov được thể hiện bằng công thức “Nhà thờ chính thống giáo- chế độ chuyên chế - dân tộc”, các dự án vĩ đại của Alexander Đệ nhị, của Witte và của Stolypin nữa.

    Không phải vô tình mà tất cả các dự án này đều chứa đụng tư tưởng “Moskva là Rome Đệ tam”. Sợi chỉ xuyên suốt của tư tưởng này là: Moskva là người cứu chuộc niềm tin Thiên chúa giáo và địa điểm xây dựng Thiên đường trên cõi thế. Con đường dẫn đến mục tiêu này trải dài qua bán đảo Balkans, qua eo biển Bosporus, qua thành phố Constantinople và Ấn Độ nữa.

    Tư tưởng này đã làm nên toàn bộ lịch sử của đất nước chúng ta - cụ thể hơn, đã tạo ý nghĩa cho nó. Không phải vô tình mà tôi đã gắn tư tưởng này với một vấn đề khủng khiếp (bao gồm cả những hậu quả của nó), tức là việc phá hoại xã hội Nga và xây dựng xã hội Xô Viết giả tạo thay thế cho nó.

    5. Chính sách xâm chiếm các nước lân bang đã dẫn đến giải pháp cuối cùng của Stalin: thần dân phụ thuộc thay thế cho xã hội

    Xin nhắc lại: toàn bộ lịch sử của chúng ta là lịch sử của những cuộc xâm lược chứ không phải là lịch sử xây dựng xã hội. Vì không thể nào có đủ nguồn lực cho những cuộc xâm lăng miên viễn như thế cho nên chính phủ buộc phải dùng sức mạnh để thực hiện việc tước đoạt. Khi cần phải bóp nặn tất cả những gì có thể thì sức mạnh không cũng chưa đủ, phải đàn áp mọi bất đồng và chống đối nữa. Đấy chính là nguyên tắc căn bản: nhà nước là tất cả, cá nhân chẳng có nghĩa lí gì. Đấy chính là khởi nguồn của chế độ chuyên chế, chế độ chiếm nô, Hãn tộc, đế chế…

    Nhưng ở đâu còn có cộng đồng – còn có công nhân và nông dân – thì vẫn còn cơ sở cho những vụ chống đối. Stalin cũng là người đầu tiên trên thế giới tìm được giải pháp toàn diện cho vấn đề này: không củng cố quan hệ, thậm chí không có bất cứ quan hệ nào với tất cả các cộng đồng xã hội khác nhau, mà đơn giản là tiêu diệt tất cả các cộng đồng và biến toàn bộ xã hội thành một mớ những cá nhân đơn độc, phụ thuộc hoàn toàn và trực tiếp vào nhà nước. Lúc đó sẽ không còn nhu cầu thành lập các hiệp hội, đảng phái chính trị hay nghiệp đoàn nữa. Khi mà quan hệ giữa nhà nước và các cá nhân đã được thiết lập bằng vũ lực và độc đoán thành quan hệ giữa người cai trị và kẻ bị trị thì nhu cầu điều tiết các quan hệ đó bằng luật pháp sẽ không còn. Toà án cũng không cần, chính trị cũng không cần nốt.

    Trong quá trình thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) Stalin hiểu rằng với dân chúng như ở nước Nga thì một cú nhảy (Mao, kẻ bắt chước ông ta sau này, gọi là “Đại nhảy vọt”) mà các dân tộc khác phải thực hiện trong hành chục năm, thậm chí hàng thế kỉ, là việc bất khả thi. Ông ta cũng biết rõ rằng chiến tranh với những nước khác là không thể nào tránh được: không thể tưởng tượng nổi một đất nước bị ám ảnh bởi tư tưởng cứu chuộc mà lại không mâu thuẫn và xung đột với các nước khác. Như vậy, theo Stalin là cần phải nhảy - nhảy bằng mọi giá, nếu không thì đất nước sẽ tiêu vong. Ông ta quyết định rằng muốn nhảy thì phải thay dân.

    Cú nhảy đã thành công. Việc thay dân sau này được gọi là “quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội”

    (Còn nữa)

    Chủ đề: Thế giới
    Từ khóa: nước Nga

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi