Chính phủ Hoa Kỳ tiếp nhận vũ khí mới như thế nào?

  • Bởi tqvn2004
    23/03/2009
    0 phản hồi

    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Nhân bài viết "<a href="http://danluan.org/node/725">Chính quyền Mỹ lãng phí hơn chính phủ Việt Nam?</a>", Dân Luận xin giới thiệu tới độc giả tiến trình tiếp nhận vũ khí mới của Chính phủ Hoa Kỳ, và những vấn đề mà nó gặp phải qua hai bài viết đăng trên IEEE Spectrum...

    Không giống như trong khu vực dân sự, kinh doanh quốc phòng không hoạt động dựa trên một thị trường tự do. Trong một thị trường tự do, chúng ta có người mua và người bán, và giá cả và lợi nhuận được quyết định dựa trên sự trao đổi được thỏa thuận về rủi ro (risk) và cơ hội (opportunity) giữa các bên. Trong lĩnh vực quốc phòng, chỉ có một khách hàng duy nhất - đó là chính phủ - là người quyết định giá, lợi nhuận, rủi ro và cơ hội cho bất cứ ai muốn bán đồ cho nó. Và một công ty quốc phòng không có quyền tự quyết định rằng nó sẽ sản xuất một máy bay chiến đấu phản lực, hay một xe tăng, để chào bán ra thị trường tự do.


    Máy bay chiến đấu F-22, một ví dụ về thất bại của quá trình tiếp nhận vũ khí (xem bài dưới)

    Nhưng chính phủ không phải là một đơn vị "nguyên khối". Trên thực tế, nó được tạo bởi rất nhiều các tổ chức, bao gồm, ví dụ như ở Hoa Kỳ, nhánh hành pháp [chính phủ] và lập pháp [quốc hội], Văn phòng Bộ Quốc Phòng, và các lực lượng vũ trang cùng những nhánh con khác của các lực lượng này. Là thứ trưởng phụ trách quá trình tiếp nhận (acquisition) và quản lý các công nghệ quốc phòng, James Finley chịu trách nhiệm về các chính sách và thủ tục [để] mua bán và tiếp nhận vũ khí mới tại đây. "Đội ngũ nhỏ nhất mà tôi đã từng làm việc với là khoảng 40 người [chứng tỏ việc tiếp nhận các dự án quốc phòng không hề đơn giản - chú thích người dịch]", Finley nói trong một cuộc phỏng vấn. Và mỗi tổ chức trong chính phủ có thể tạo ra các mức độ ảnh hưởng khác nhau tới quá trình tiếp nhận vũ khí. Ngoài ra, tác động [lên quá trình tiếp nhận vũ khí] còn có thể tới từ báo chí, các nhóm vận động hành lang, và từ công chúng nói chung.

    Trong một môi trường ngập tràn tính chính trị như thế, quá trình tiếp nhận vũ khí - vốn được dùng để mua các hệ thống vũ khí quan trọng - đáng lẽ phải hoạt động một cách phi chính trị. Nhưng tiến trình tiếp nhận trên thực tế lại dính líu nặng nề tới chính trị, và cực kỳ phức tạp. Chúng tôi xin giới thiệu tiến trình này ở dạng đã được đơn giản và lý tưởng hóa:

    Xác định nhu cầu

    Bước đầu tiên là phải xác định và đánh giá nhu cầu hay khả năng quân sự ở cấp cao - ví dụ, khả năng thực hiện do thám trên vũ trụ, hoặc thực hiện liên lạc tầm xa. Những khả năng này được lấy từ chỉ thị của Tổng Thống và Bộ Tổng Tham Mưu (the Joint Chiefs of Staff). Nhà Trắng ấn bản theo định kỳ báo cáo Chiến Lược An Ninh Quốc Gia, và trong đó, ví dụ, mô tả các mối lo ngại an ninh chính của Mỹ, và chính phủ dự tính xử lý các mối lo ngại đó như thế nào.

    Mỗi lực lượng quân sự, hoặc hai hay nhiều hơn phối hợp với nhau, sẽ sử dụng báo cáo này và các hướng dẫn khác để định nghĩa các hệ thống quân sự đặc chủng nhằm hỗ trợ cho chiến lược tổng thể của chính phủ. Một khi một khả năng quân sự mới được định nghĩa, nó có nghĩa là có "khoảng trống" giữa các khả năng quân sự hiện tại. Khi đó, một chương trình tiếp nhận vũ khí mới [để lấp đầy khoảng trống nói trên] có thể chính thức bắt đầu.

    Các bước khởi đầu chương trình

    Khi chương trình được thực hiện, nó sẽ phải đi qua một loạt các giai đoạn, sau mỗi giai đoạn là một hay nhiều lần đánh giá, tại đó các viên chức chính phủ sẽ xem xét lại tiến trình và quyết định xem liệu có cho chương trình tiếp tục hay không.

    Nói chung, một chương trình mới bao giờ cũng trải qua giai đoạn "tiền hệ thống" (presystem), trong đó người ta tìm hiểu và xác định các phương pháp và công nghệ có thể dùng để xây dựng hệ thống mới. Nếu tồn tại một giải pháp khả thi, thì người ta sẽ đánh dấu bằng "cột mốc A", và ký quyết định cho phép tiếp tục phát triển hệ thống. Giai đoạn tiền hệ thống kết thúc khi người ta phát triển xong công nghệ cho phép cung cấp một khả năng quân sự mang tính hữu ích và có giá cả hợp lý.

    Một khi những người quản lý chương trình thấy đã chín muồi để chuyển sang giai đoạn phát triển hệ thống, chương trình sẽ được đánh giá lại toàn bộ, gọi là "cột mốc B". Nếu quan chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng đồng ý với những đánh giá của người quản lý chương trình, chương trình sẽ chuyển sang giai đoạn thiết kế và phát triển chính.

    Phát triển vũ khí

    Giai đoạn kế tiếp được định hướng bởi các mục tiêu của chương trình về chi phí, kế hoạch và các thông số hoạt động, trong toàn bộ thời gian chương trình tồn tại. Ngoài việc phát triển hệ thống và chạy thử chứng tỏ hệ thống hoạt động đúng chức năng trong các môi trường dự định, và đáp ứng được các thông số cơ bản, người điều hành chương trình cũng phải đảm bảo rằng hệ thống mới đó có thể được sản xuất hàng loạt một cách công nghiệp. Tại thời điểm này, "cột mốc C" được đánh dấu, chấp nhận việc sản xuất hệ thống với số lượng nhỏ. Sản xuất hàng loạt chỉ được phép tiến hành sau khi trải qua một lần đánh giá khác.

    Đưa vào hoạt động và hỗ trợ kỹ thuật

    Cuối cùng, chương trình đi vào giai đoạn hoạt động và hỗ trợ kỹ thuật - khi hệ thống đã được triển khai và đạt đầy đủ khả năng quân sự của nó. Và các nhu cầu hậu cần để hỗ trợ cho hệ thống sẽ được xem xét, cũng như khả năng sẵn sàng chiến đấu của hệ thống trên xa trường. Người ta sẽ liên tục đánh giá và kiểm tra khả năng hoạt động của hệ thống, kể từ khi nó được đưa vào hoạt động cho tới khi nó về nghỉ hưu. Bất kỳ một nhược điểm hoặc thiếu sót nào, nếu được phát hiện, sẽ được đưa vào cân nhắc trong tiến trình tiếp nhận vũ khí, để quyết định phương án "vá lỗi".

    Không tồn tại một tiến trình hoàn hảo

    Tất nhiên, toàn bộ quá trình trên không dễ dàng và rành mạch như miêu tả trên giấy. "Không có một tiến trình hiệu quả nào để đi từ Chiến Lược An Ninh Quốc Gia tới một chương trình phát triển vũ khí", ông Robert C. Rubel, Trưởng khoa nghiên cứu chiến tranh trên biển tại trường Naval War College, cho biết. "Có một sự khác biệt trong cách đánh giá của hai bên. Chiến Lược An Ninh Quốc Gia nhìn vấn đề với tầm nhìn 4 năm, và làm việc với những sự vụ diễn ra ngày hôm nay. Còn quá trình tiếp nhận vũ khí, trái lại, phải nhìn xa 10-15 năm".

    Thêm vào đó, theo Văn Phòng Trách Nhiệm Giải Trình Chính Phủ (Government Accountability Office - GAO), các chương trình sản xuất vũ khí thường xuyên vượt qua "cột mốc B" trước khi công nghệ mà nó sử dụng đủ trưởng thành. Cố gắng xây dựng một hệ thống phức tạp dựa trên các công nghệ chưa chín muồi chắc chắn sẽ dẫn tới vượt dự toán và chậm trễ trong sản xuất. Văn Phòng GAO cũng cho biết Bộ Quốc Phòng thường xuyên mua với số lớn các hệ thống quan trọng và không quan trọng, khi chúng vẫn đang trong quá trình sản xuất thử, trước khi có thử nghiệm kỹ lưỡng về khả năng hoạt động của hệ thống. Nhìn chung, các "cột mốc đánh giá" đã không được coi trọng, người ta thường xem nhẹ việc kiểm tra tính khả thi, cũng như chi phí của chương trình tại các cột mốc này. Khi các đánh giá tại "cột mốc" chỉ ra những nhược điểm của chương trình, rất ít chương trình thực sự bị hủy.

    F-22: Thành công, Thất bại hay cả hai?

    Khi chiếc F-22 Raptor đầu tiên của Không Quân Hoa Kỳ chính thức ra mắt năm 2005, ai cũng biết rằng đây là máy bay chiến đấu hiện đại nhất thế giới, vượt xa bất kỳ một đối thủ cạnh tranh nào. Nó đồng thời, trên nhiều phương diện, cũng là bằng chứng của một tiến trình tiếp nhận vũ khí thất bại.

    Chiếc máy bay chiến đấu phản lực này được thai nghén từ những năm 80, như một giải pháp chống lại hai loại máy bay "còn nằm trên giấy" của Sô Viết, mà các nhà phân tích tình báo quân sự cho rằng sẽ xuất hiện trên chiến trường năm 2010. Để đáp lại nguy cơ "tương lai" đó, F-22 được thiết kế như máy bay "thế hệ thứ năm", với công nghệ tàng hình, khả năng bay vượt tốc độ âm thanh lâu dài (supercruise), khả năng bay lượn phức tạp, và trang bị các thiết bị điện tử tối tân nhất. Nói cách khác, đây là giấc mơ của các phi công chiến đấu. Người ta dự tính một chiếc sẽ tốn chừng 35 triệu USD (hay 74 triệu USD - nếu xét theo giá USD hiện tại), và chừng 750 chiếc sẽ được sản xuất và sẵn sàng chiến đấu vào năm 1995.

    "Chiếc F-22 cần vượt lên trước một bước so với công nghệ hiện tại trên nhiều lĩnh vực", ông Ralph Heath, phó giám đốc điều hành phụ trách lĩnh vực hàng không tại Lockheed Martin, nói. Lockheed Martin là nhà thầu chính trong dự án F-22.

    Sau sự sụp đổ của Liên bang Sô Viết năm 1991, mối đe dọa lớn nhất của chiếc F-22 không còn là 2 máy bay "trên giấy" của Sô Viết nữa, thay vào đó chính là chiếc F-15 "thế hệ thứ tư" của Không Quân Hoa Kỳ. Nhiều nhà phân tích cho rằng F-22 không còn cần thiết, và nâng cấp lên F-15 là đủ cho nhu cầu quốc phòng. Những người khác phản đối rằng F-22 "tốt gấp đôi" F-15, và như thế đáng phải tiếp tục dự án.

    Để hạ nhiệt cuộc tranh cãi, Thứ trưởng Quốc Phòng lúc đó, ông William Perry chỉ thị cho Không Quân Hoa Kỳ vào năm 1993 rằng sản xuất một mẫu thử nghiệm của F-22 để "bay thử" và so sánh với F-15. Nếu chứng tỏ được mình tốt hơn, F-22 sẽ được sản xuất hàng loạt.

    Suốt quá trình phát triển F22, Lockheed gặp phải hàng loạt các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt là với hệ thống điều khiển điện tử hàng không, khả năng tàng hình và động cơ của máy bay. "Chúng tôi phải làm mới lại những công nghệ được chọn lúc đầu, ngay cả khi sắp kết thúc quá trình phát triển, bởi một số linh kiện điện đử đã lỗi thời", Heath nói. Tới khi chiếc F-22 đầu tiên đi vào phục vụ năm 2005, hệ thống điện tử hàng không của nó đã trải qua ít nhất 3 lần làm mới lại. Khi chi phí phát triển F-22 đội lên, số F-22 thực sự được sản xuất giảm xuống 648 năm 1990, 442 năm 1994, 339 năm 1997 và 276 năm 2003.

    Chuyến "bay thử" chẳng bao giờ được tổ chức, nhưng F-22 thực sự hoạt động tốt trong các cuộc thử nghiệm trước khi đi vào sản xuất - 10 năm muộn hơn kế hoạch ban đầu. Dù vậy, Lầu Năm Góc vẫn quyết định giảm số đơn đặt hàng xuống 183 chiếc năm 2006 để tiết kiệm tiền. Chi phí của một chiếc F-22 (tính bằng tổng chi phí phát triển và sản xuất chia cho tổng số máy bay sản xuất) bây giờ là 300 triệu USD. Để trả tiền cho F-22, Không Quân Hoa Kỳ đã phải giảm bớt việc nâng cấp F-15 và các loại máy bay khác, và giảm nhân sự. Và nó vẫn tiếp tục đàm phán rằng nó cần ít nhất 381 chiếc F-22 để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

    Những người khác thì ít ấn tượng với chiếc máy bay chiến đấu này hơn. Ông Edward Hirsch đã quá cố, một người ủng hộ mạnh mẽ việc cải tổ tiến trình tiếp nhận vũ khí (aquisition process), đã coi đây là một thất bại, bởi nó không đáp ứng được các mục tiêu về chi phí và kế hoạch, và nó rút hết tiền tài trợ đáng lẽ đã dành cho các chương trình hữu ích khác. "Chiếc máy bay chiến đấu này được trông đợi như một nền tảng hỗ trợ nhiệm vụ của Không Quân nói riêng và nhiệm vụ của Bộ Quốc Phòng nói chung", Hirsch nói trong một cuộc phỏng vấn ngay trước khi ông mất vào năm ngoái. "Nếu phát triển nó tốn kém tới mức giết chết các nền tảng khác, bạn không thể coi nó là một thành công vượt bậc".

    Thậm chí cả Bô trưởng Quốc Phòng Robert Gates cũng đã đặt dấu hỏi về sự cần thiết của nó, chỉ ra rằng "F-22 chưa thực hiện bất kỳ một nhiệm vụ nào", ở Iraq cũng như ở Afghanistan.

    Quá trình phát triển đầy rắc rối của F-22 không khiến Không Quân Hoa Kỳ trùn bước, khi họ lập kế hoạch phát triển máy bay chiến đấu "thế hệ thứ sáu", sẽ được sản xuất vào những năm 2020.

    —R.N.C.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi