Phạm Thị Hoài - Tư cách trí thức Việt Nam

  • Bởi tqvn2004
    18/03/2009
    39 phản hồi

    Phạm Thị Hoài

    <strong>Mạng Ý Kiến:</strong> Mặc dù tác giả Phạm Thị Hoài không muốn phổ biến bài, nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, nhìn từ góc độ Con Người Việt Nam, trong đó có giai tầng trí thức (?), bài có ý nghĩa rất lớn; do đó để độc giả có thêm một nhận định về con người Việt Nam, về trí thức Việt Nam, chúng tôi xin mạn phép trích đăng bài. May ra việc xem xét lại về chiều sâu Con Người Việt Nam khiến cho chúng ta tìm ra được các câu trả lời để thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay (nếu không muốn nói là cuộc tổng khủng hoảng con người, xã hội), đặt nền móng cho công cuộc xây dựng một nước Việt Nam mới sau này. Mong lắm thay !!!

    Phạm Thị Hoài: Bài nói chuyện này tôi không muốn phổ biến rộng hơn phạm vi của buổi toạ đàm tháng Mười 2000 tại Berlin, và đương nhiên đã không cho phép sử dụng và đăng tải tại bất cứ nơi nào. Song vì những hiểu lầm nhất định, tạp chí Cánh Én đã đăng bài này tháng 4/2001 và tổ chức thảo luận trên diễn đàn liên mạng Trí thức Việt Nam. Vì bản chuyển từ băng ghi âm do Cánh Én thực hiện và không hề thông qua tác giả có vô số sai sót, tôi đành tự ghi lại bài nói chuyện này để có một tư liệu đúng. Ðó là lí do duy nhất về phía tôi cho việc đăng tải mà trước sau tôi vẫn không muốn...

    Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây rất đơn giản, xin những vị có ý chờ đợi ở một nhà văn những tư tưởng cao siêu, phức tạp thể tất cho. Tất nhiên là mọi vấn đề của hiện thực Việt Nam đều rất phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng, cái cách dễ dàng nhất, láu lỉnh nhất để khỏi phải đối mặt với cái hiện thực này chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh trầm kha là, khi sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho sĩ, hiệp sĩ hay chiến sĩ thì nó lập tức được nhìn theo nhãn quang của phương sĩ, hay đạo sĩ. Ðấy là một thứ nhãn quan tất nhiên rất thú vị và vô cùng phức tạp, thú vị và phức tạp tới mức cho phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản thân hiện thực chỉ còn là cái cớ rất phụ mà thôi. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện thực này ở một đoạn sau. Bây giờ tôi chỉ xin nói trước là, trong buổi hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy nghĩ của mình.

    Xuất phát điểm của vấn đề mà tôi muốn đặt ra cũng rất giản dị:

    Sau ít nhất là hai ngàn năm có một cộng đồng Việt, một dân tộc Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia Việt, và sau ít nhất là hai trăm năm có một lãnh thổ Việt như ngày nay, chúng ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất thế giới. Nhưng vấn đề không phải chỉ ở chỗ nghèo và lạc hậu. Nếu chỉ như vậy thì tôi còn chưa thấy có gì đáng sợ lắm.

    Vấn đề một là ở chỗ: chưa bao giờ chúng ta không như thế. Từ khi tôi sinh ra đã như vậy. Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh ra đã như vậy. Từ khi các cụ tôi sinh ra cũng như vậy. Khi các kỵ tôi sinh ra thì thế giới lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ấn Ðộ, nhưng bảng xếp hạng thì vẫn thế, không có gì thay đổi. Nước Hy Lạp chẳng hạn là một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng đồng Châu Ấu, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có nước Việt là chưa bao giờ không như thế mà thôi. Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng, khi cháu tôi, hoặc chắt tôi sinh ra, chúng ta vẫn không thoát được cái kiếp đội sổ như vậy. Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề này, vì nó là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tính cách và tư cách của người Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng. Ta hãy hình dung, nếu một anh học trò trong suốt cuộc đời đi học của mình không bao giờ không đứng cuối lớp, như một cái dớp không thay đổi, thì đến một lúc nào đó ý chí phấn đấu của anh ta, nếu anh ta có một ý chí, cũng phải tiêu tan.

    "Thằng khách quan", tôi xin lỗi là phải dùng một từ như vậy, bởi vì trong tiếng Việt thì kẻ có tội rất to như thế phải bị gọi là thằng. Thằng khách quan nó có vô số hoá thân và đều được gọi tên rất rành mạch: lúc thì đó là thằng lịch sử, lúc thì đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng tình hình chung, lúc thì đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng thực dân đế quốc, thằng thiên tai địch họa ... Nếu nghe như vậy thì người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả.

    Hai là, nếu câu chuyện chỉ dừng ở chỗ chúng ta là một nước nghèo và lạc hậu mà thôi thì tất nhiên vẫn là một câu chuyện buồn, nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô vọng. Bởi lẽ - chỗ này tôi cũng phải nói thẳng, vì chúng ta đang sống ở một nước không nghèo và không lạc hậu tí nào là nước Ðức - có thể nói rằng sự giàu có và văn minh tiến bộ cũng đẻ ra những nỗi buồn rất đặc trưng của nó, cũng đẻ ra sự bi đát của nó, chứ không phải chỉ riêng nghèo và lạc hậu mới buồn và bi đát. Ta vẫn thường xuyên thấy những công dân của cái thế giới văn minh và giầu có này tìm cách giải toả những nỗi buồn của họ, giải toả những bi kịch của sự thừa thãi vật chất cũng như của sự tiến bộ với tốc độ rất nhanh chóng của cái xã hội hiện đại của họ bằng cách tìm về những xã hội còn mông muội, còn bán khai, còn nghèo khó, và coi đó là một câu trả lời nhất định, một alternative. Tất nhiên chúng ta có thể mỉm cười và coi đó là một thứ lãng mạn, một căn bệnh quí phái, nhưng không thể bác bỏ nó được. Chỉ có điều, hiện thực Việt Nam thậm chí không phải là chỗ thích hợp để cái thế giới thứ nhất đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái của mình. Bởi vì ngoài cái nghèo và lạc hậu, thì đến đầu thế kỷ 21 này xã hội Việt Nam còn là chỗ hội tụ của những dịch bệnh dường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với một nhà văn thì đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nhìn của tôi, thì sức mạnh của một xã hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định. Người ta có thể nghèo, nhưng nếu người ta có được một cảm giác an toàn nhất định, điều đó quan trọng hơn. Nếu không có cảm giác ấy thì người ta chỉ có thể miễn cưỡng sống tạm cuộc đời của mình và đương nhiên không có một động cơ nào đủ mạnh để sống tiếp cuộc đời của những thế hệ trước, sống trước cuộc đời của những thế hệ sau và sống chung cuộc đời của những kẻ cùng thời. Nói như thế thì xã hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ của những cá nhân hoang mang và bất ổn.

    Về xuất phát điểm là như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái số phận dường như là vĩnh viễn hẩm hiu đó của dân tộc ta thì người trí thức tham dự như thế nào ? Nói một cách khoa trương và có lẽ tương đối sáo thì người trí thức Việt Nam chịu trách nhiệm gì về cái số phận chung ấy của cả một dân tộc ? Cho đến nay, chúng ta đã nghe, có thể là đã nghe đến thuộc lòng, những lời đáp vô cùng rõ ràng về việc này. Việc vì ai, do ai mà nước ta đáng buồn như vậy. Có hai câu trả lời rõ như ban ngày: một là do khách quan, hai là do chủ quan.

    "Thằng khách quan", tôi xin lỗi là phải dùng một từ như vậy, bởi vì trong tiếng Việt thì kẻ có tội rất to như thế phải bị gọi là thằng. Thằng khách quan nó có vô số hoá thân và đều được gọi tên rất rành mạch: lúc thì đó là thằng lịch sử, lúc thì đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng tình hình chung, lúc thì đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng thực dân đế quốc, thằng thiên tai địch họa ... Nếu nghe như vậy thì người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả. Như vậy thì chẳng có lý do gì hy vọng và chẳng có một cuộc toạ đàm nào, một cuộc hội thảo nào cần thiết nữa. Và nếu ai tin vào lời tiên đoán của ông giáo sư Harvard là ông Huntington trong cuốn sách cách đây mấy năm rầm rộ, cuốn Cuộc Chiến Văn Hóa, rằng Việt Nam sẽ là địa bàn xung đột để chiến tranh thế giới lần thứ ba giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra, thì quả nhiên là chúng ta đáng tuyệt vọng hoàn toàn.

    Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê bình. Một trong những lý do vì sao như vậy cũng là ở chỗ, khi người ta đã suốt cả một số phận luôn luôn đội sổ thì lòng tự tin thực sự chẳng còn gì lớn lắm. Ðấy là tôi muốn nói đến một lòng tự tin thực sự, chứ không phải cái thứ tự tin theo kiểu vừa đánh võ mồm vừa run trong lòng, hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để hòng vụ lợi cho mình. Rõ ràng là tự phê bình đòi hỏi một lòng tự tin lớn. Tôi cứ nhìn cái cách tự tra vấn mình, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả mình của một dân tộc như dân tộc Ðức này mà phải nhận ra rằng: phải là một dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới dám làm cái việc cũng rất ư quí phái là tự phê bình mình như vậy... Vậy dân tộc Việt trọn gói thì không có lỗi gì đáng kể, nhưng một bộ phận, bộ phận đầu sỏ của nó thì bao giờ cũng luôn luôn là đầu mối của mọi tai họa. Bộ phận đó, như chúng ta thường xuyên được nghe nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực lượng thống trị... Lúc thì chính quyền Bắc thuộc, lúc thì là vua quan nhà Nguyễn chịu trách nhiệm, lúc thì chính quyền thực dân Pháp chịu trách nhiệm, lúc thì bè lũ Mỹ-ngụy. Và bây giờ, không có chính quyền nào khác hơn là chính quyền cộng sản, thì chính quyền cộng sản chịu trách nhiệm. Bảo đúng thì tất nhiên là đúng. Nhưng như vậy có kỳ cục lắm không? Chẳng lẽ trước năm 1945 nạn đói xảy ra là do phong kiến thực dân, còn bây giờ nạn đói xẩy ra là do cộng sản hay sao? Chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửa quan, cửa quyền, bợ đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại cộng sản hay sao? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trãi, cả một thế kỷ 16 hầu như cũng toàn nhạt nhẽo và trung bình cả thì cũng tại cộng sản hay sao? Một trong những nhà phê bình văn học sắc sảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của trường Ðại học Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một cuốn sách nhan đề Văn Học Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản. Trong đó anh đi tìm câu giải thích cho tình trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học miền Bắc trong những vấn đề của chế độ xã hội chủ nghĩa và hệ thống lý luận mác-xít. Ðiều đó tất nhiên có nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ. Những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở hải ngoại tồn tại ở các chế độ dân chủ, tự do, hoàn toàn không phải dính líu đến hệ lý luận mác-xít, hệ kiểm duyệt cộng sản, hoàn toàn không liên quan đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn học ấy cũng không khá gì hơn, cũng trì trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp nằm ở đâu?

    Việc phê phán cái xã hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên có thể gắn với việc phê bình chính quyền lãnh đạo. Thế cái xã hội của người Việt ở ngoài nước, tại cộng đồng hải ngoại, không có mặt sự lãnh đạo của chính quyền cộng sản mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào? Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm chí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Ấu Cơ. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam.

    Chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửa quan, cửa quyền, bợ đỡ... rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại cộng sản hay sao? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trãi, cả một thế kỷ 16 hầu như cũng toàn nhạt nhẽo và trung bình cả thì cũng tại cộng sản hay sao?

    Bản thân tôi không dám làm cái việc là điều tra số phận dân tộc bằng cách đi truy tìm phần dính líu của từng cá nhân người Việt, trí thức hay không trí thức thì cũng thế. Nói chung nhiệm vụ nhà văn của tôi không nằm ở chỗ đi qui trách nhiệm cho ai. Vả lại, trong rất nhiều tình huống thì câu hỏi ai có tội, ai có lỗi, là không thể giải đáp trọn vẹn được. Nhưng việc tất yếu mà một nhà văn phải làm ở thời nào cũng thế là quan sát, và nếu có thể thì khám phá những khía cạnh mà anh ta cho rằng còn mờ khuất của con người và cuộc đời. Nhưng không một nhà văn nào khi làm việc đó có thể ôm đồm cả thế gian mà quan sát và khám phá được. Bản thân tôi, do hoàn cảnh gia đình cũng như môi trường đào tạo, môi trường sống, môi trường sáng tác và làm việc, tôi không thể làm một việc gì khác hơn là quan sát và khám phá giới trí thức. Tôi không có thẩm quyền gì để có thể phát biểu, chẳng hạn về tư cách của người nông dân hay thợ thuyền Việt Nam. Tôi không có một hiểu biết gì đáng kể về những điều đó. Song trí thức Việt Nam là chủ đề của hầu hết các sáng tác của tôi. Vì vậy mà có một buổi nói chuyện như thế này. Tôi không nghĩ rằng mình có thể vạch ra được một đường hướng nào. Việc duy nhất mà tôi có thể thử làm là khắc hoạ diện mạo của trí thức Việt Nam. Bản thân việc này là một đề tài mà một cá nhân không kham nổi. Hôm nay tôi thử trình bày về hai tư cách mà theo tôi là đáng để ý, đó là: "tư cách chính thống" và "tư cách học trò".

    Bây giờ phải xin nói trước để chúng ta dễ đồng ý với nhau về khái niệm là: một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rõ ràng không thể có được, ngay cả đối với hoàn cảnh còn tương đối dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy ước với nhau là khi nói tới trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức, trình độ, môi trường sống, thói quen, hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ và tinh thần là thường trực, hoặc chủ yếu, hoặc đóng một vai trò đáng kể.

    Bây giờ tôi xin nói về tư cách chính thống của trí thức Việt Nam

    Một người bạn vong niên của tôi ở Hà Nội, ông Nguyễn Kiến Giang, gần đây có đưa ra một khái niệm là "tính cách phò chính thống của trí thức Việt Nam". Tôi thì gọi đó là tư cách quan văn, theo cái mô hình trị nước là một ông vua có thể u mê, có thể anh minh, hai bên tả hữu là quan văn và quan võ. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức Việt Nam này là "tư cách quan văn".

    Chúng ta hãy xem lại lịch sử. Nếu như bỏ qua cái thời kỳ mông muội, khi người săn bắn giỏi nhất, bắt cá khéo nhất, thắng nhiều cuộc vật nhất và có thể cũng có nhiều con nhất vì được nhiều đàn bà ái mộ nhất, một người như thế được đứng đầu một cộng đồng Việt, nếu bỏ qua thời kỳ đó thì chúng ta có ngay mười mấy thế kỷ toàn trị của giới có học. Khi đó là giới sĩ, một thời gian dài là giới tu sĩ, sau đó tuyệt đối là giới nho sĩ. Chế độ khoa cử với chức năng là một hệ thống đào tạo và tuyển chọn cán bộ và nhân viên nhà nước, đã tự động ghép học thức, tri thức và quyền lực thành một cặp bài trùng. Tri thức vừa là con đường dẫn đến quyền lực, vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có gì để nghi ngờ nữa, giới sĩ phu Việt Nam trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói theo từ hiện đại thì toàn bộ guồng máy nhà nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các trí thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.

    Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.

    Song câu chuyện "phò chính thống", câu chuyện "quan văn" không chỉ dừng lại khi nho học thất thế. Công bằng mà nói thì ở một giai đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20 trong cả nước, và từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Nam, đã có một cơ hội để cặp bài trùng trí thức và quyền lực có thể tách nhau ra được, và quả thực cũng có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay rất ngắn, quá ngắn để trí thức Việt Nam vượt ra khỏi cái vòng kiềm toả và tự kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lực lượng độc lập như giới trí thức ở các xã hội dân chủ hiện đại. Chúng ta có thể coi những vận động cải cách xã hội và dân trí ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 là độc lập với chính quyền nửa phong kiến nửa thực dân đương thời. Và quả nhiên có một tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ tự do, tức là không ăn lương của nhà nước, không hưởng bổng lộc của chính quyền, không phải là các công chức, viên chức, cán bộ trong bộ máy cai trị, một tầng lớp như vậy quả nhiên là có xuất hiện, điều này cũng lặp lại ở miền Nam trong khoảng thời gian 1954-1975. Thế nhưng lịch sử đã quyết định diễn ra theo chiều hướng là tự lặp lại. Bi kịch của một người như Phạm Quỳnh là bi kịch của một trí thức xuất thân hoàn toàn độc lập, có đủ mọi cơ hội và đủ uy tín để tồn tại như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một trọng lượng xã hội độc lập hẳn hoi, nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi sự mê hoặc của quyền lực chính thống. Tất nhiên Phạm Quỳnh trở thành thượng thư Bộ Lại trong triều Nguyễn với một hy vọng là mượn những phương tiện chính trị mà hành cái đạo của mình. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy là cũng hành động không khác gì ông Khổng Tử. Khổng Tử chẳng làm được điều gì khi còn đang tại chức. Khổng Tử chỉ có đánh xe đi bát phố, nghe nhạc và bình phẩm về đàn bà, về cái hoạ đàn bà thì đúng hơn, khi tại chức. Và Phạm Quỳnh cũng chẳng làm được gì cho cái đạo của mình trong suốt thời gian làm bộ trưởng như vậy, và Phạm Quỳnh có lẽ còn lâu mới là người trí thức Việt Nam cuối cùng vừa ghét quyền lực, vừa mong được phục vụ quyền lực như vậy.

    Từ năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam và từ năm 1975 ở toàn đất nước, có thể nói rằng câu chuyện của cặp bài trùng trí thức và quyền lực lại được kể tiếp với những tình tiết thực ra là giống hệt như trong lịch sử. Chỉ có pha thêm những màn gay cấn đặc trưng cho cái thời đại này mà thôi. Tôi cho rằng chỉ có những người rất ưa sơ đồ hóa các hiện thực mới kết luận rằng trong xã hội cộng sản hay xã hội chủ nghĩa không có chỗ cho trí thức. Không phải như vậy. Nó chỉ không có chỗ cho các trí thức bất đồng quan điểm, bất đồng tư duy mà thôi. Một xã hội của đồng chí tất nhiên không trải chiếu hoa cho những kẻ bất đồng chí. Song điều đó không có gì là mới mẻ, không phải là đặc sản riêng của chuyên chính vô sản, mà của bất kỳ một nền chuyên chính nào. Một trí thức từng là đồng chí như Nguyễn Trãi khi thành bất đồng chí tất nhiên cũng phải chịu cái hoạ tru di tam tộc. Và một nhà văn tài hoa từng được coi là thần tượng của sự ngông nghêng, thách thức như Nguyễn Tuân thực ra cũng có thể so với Nguyễn Du: bất mãn thì có bất mãn, bất đồng thì có bất đồng, nhưng cả hai dù miễn cưỡng hay tự nguyện, cuối cùng cũng để cho chính quyền trọng dụng mình. Nguyễn Du đóng vai đại sứ đi công cán ở nước ngoài, một chức vụ thực sự là không thấp hèn gì. Nguyễn Tuân cũng vậy. Hồi sinh viên tôi thường tự hỏi: Tại sao lại như thế? Phải tay tôi thì không bao giờ chịu để mình ở cái thế há miệng mắc quai như vậy. Nhưng khi đó tôi còn chưa hiểu gì về cái thế phò chính thống, cái thế quan văn của trí thức Việt Nam, một cái thế quả nhiên là rất há miệng mắc quai.

    Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn do giới trí thức lãnh đạo, còn quần chúng cách mạng thì thời nào cũng vậy, là đám đông, và đám đông trong một nước nông nghiệp tất nhiên là nông dân. Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lãnh đạo một đám đông nông dân tranh đấu cho quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy thì việc các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân sự và khả năng phản bội lẫn nhau của những bên tham gia đã được định trước.

    Cách mạng vô sản ở Việt Nam là một cuộc cách mạng do một nhóm trí thức lãnh đạo một đám đông nông dân tranh đấu cho quyền lợi của một giai cấp khác, đó là giai cấp công nhân. Nếu chúng ta nói như vậy thì việc các quyền lợi dẫm lên nhau, sự không đồng bộ của nhân sự và khả năng phản bội lẫn nhau của những bên tham gia đã được định trước.

    Song ở đây tôi chỉ muốn nói về sự tham gia của trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam ở buổi ban đầu của cuộc cách mạng, rồi khi cách mạng quay ra ăn thịt những đứa con đẻ của mình, và bây giờ, khi rõ ràng là cách mạng đã về hưu. Mối tình giữa chủ nghĩa cộng sản và trí thức, nhất là trí thức cánh tả trên toàn thế giới, là một mối tình phức tạp, đẫm nước mắt và đẫm máu. Nhưng tôi dám nói rằng chính cái cuộc tình hết sức nồng nhiệt và lãng mạn với lực lượng trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam thuở ấy đã chắp cánh cho cách mạng, khiến cho nó không chỉ là một cuộc khởi nghĩa của nông dân, hay một cuộc bạo động của thợ thuyền.

    Ðiều gì diễn ra khi cách mạng không chỉ còn là một ý tưởng và một lí tưởng, mà đã trở thành một hiện thực, một chế độ, một guồng máy khổng lồ? Tôi xin trích ra ở đây một vài dòng trong nhật ký của Trần Dần năm 1958, vào cái thời điểm mà người ngoài tưởng là cuộc nổi dậy trong văn giới Việt Nam, được biết đến dưới cái tên Nhân Văn Giai Phẩm còn rất là sôi sục. Ông ghi ngày 08-01-1958 như sau:

    Tin chạy xì xầm xung quanh rất ghê gớm. Rằng báo Văn là một cái rớt của Nhân Văn, rằng nhà xuất bản hội nhà văn bị lái, rằng Câu Lạc Bộ thành nơi hoạt động của bọn Nhân Văn. Tóm lại, bọn Nhân Văn ấy lọt vào tổ chức của Hội Nhà Văn, chúng ra tay chèo lái một cách "tinh vi"... Sự thật ra, bọn Nhân Văn ấy, non năm nay họ đã theo một cái chính sách gì? Có thể tóm chính sách của họ là: sợ, cầu an, cố đi gần lãnh đạo, dao động, chán nản... Một ngón tay Nhân Văn cũng không có. Non năm nay họ đã nằm bẹp cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà hiền triết cả rồi. Họ có còn cái khao khát chiến thắng của những người tiến bộ nữa đâu ? Nói đúng ra, họ vẫn mong sự tiến bộ sẽ thắng. Song họ mong nó sẽ thắng bằng một cách ích kỷ, tức là bằng bàn tay thúc đẩy của kẻ khác hơn là bàn tay họ... Vậy đỡ nguy hiểm hơn... Giá lãnh đạo thuyết phục, họ sẽ có cơ giác ngộ, trở nên con nhà nết na nữa cũng nên. Ðằng này lãnh đạo cứ cái chính sách ục, thụi vô lý mãi! Họ càng tủi thân và thất vọng... Tôi biết họ chỉ mong nhất một điều là: "mong thánh đế hồi tâm?".

    Những dòng ấy được viết ra do một trong những người được coi là cứng cổ nhất trong Nhân Văn Giai Phẩm là Trần Dần. Tôi xin lưu ý những khái niệm như "cố đi gần lãnh đạo", "giá lãnh đạo thuyết phục", "mong thánh đế hồi tâm". Tôi cho rằng không cần phải nhiều lời nữa để mô tả cái tính cách phò chính thống này của văn nghệ sĩ trí thức Việt Nam. Nếu có một trí thức thực sự li khai với quyền lực, li khai với quyền lực không lấy gì làm đẹp đẽ lắm của chế độ cộng sản, thì phải có mười trí thức đang nằm chờ ngày "thánh đế hồi tâm" và sẽ có một trăm trí thức không làm gì khác hơn là để cho cái chính quyền ấy trọng dụng mình.

    Mao Trạch Ðông trong bài nói chuyện nổi tiếng ở Thiên An có tuyên bố thẳng thừng: "trí thức là cục phân", song người am hiểu hiện thực của chủ nghĩa xã hội phải nói rằng, trí thức cũng là cục vàng. Những cục vàng ấy là báu vật nằm trong tay những nhà cầm quyền. Ở một địa vị như vậy thì có lí do gì mà mong thay đổi! Người ta có thể gọi đó là cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an. Tôi gọi đó là cái nghiện. Nghiện chính thống. Nghiện suốt cả một lịch sử thì không dễ gì một vài ngày mà cai ngay được. Người nghiện thì ít khi trách cái sự nghiện của mình mà có chăng chỉ đổ tội cho cái làm mình nghiện. Chúng ta phải buộc lòng đi đến một kết luận: khi tự đồng nhất mình ở mức độ cao như vậy với giai cấp thống trị, bất kể là giai cấp nào, thì cái bộ phận ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên phải đánh mất cái thôi thúc cải thiện, thay đổi và cải cách xã hội. Một ông trí thức nho giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy ra sáng kiến chống nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ và được làm quan nhờ có mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông nhà thơ phụ trách Ban văn hoá văn nghệ tất nhiên không khuyến khích những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ đi say mê thứ văn thơ mới lạ đó thì thơ ông ta ai đọc? Kinh nghiệm của chính bản thân tôi ở trong nước, với tư cách là một nhà văn hiện nay không được phép công bố tác phẩm ở trong nước, là: Chưa có một ông Ðảng hay một ông công an nào có cơ hội đọc duyệt tác phẩm của tôi cả. Bởi vì trước khi các vị đó sờ được đến bản thảo của tôi thì các đồng nghiệp của tôi ngồi ở những vị trí rất nhiều quyền lực đã kiểm duyệt hộ chính quyền từ khuya rồi!

    Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học trò của trí thức Việt.

    Thực ra dân tộc Việt không toàn phải tiếp xúc với những kẻ đến từ một nền văn minh cao và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Việt một thuở, như chúng ta đã biết, là Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản... Ðương nhiên người Việt cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong quá trình giao lưu văn hoá với họ... Trong tiếng Việt ta có thể tìm thấy những dấu tích đó. Thế nhưng, chúng ta có thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa, lúa chiêm, mà chả buồn học hỏi gì nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ... Chúng ta lấy biết bao nhiêu điệu nhạc buồn của họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng của chúng ta, khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên có thể nói là buồn nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá Việt và lúc đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà chả buồn học hỏi điều gì ở họ, không buồn nghiên cứu gì về họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt họ đi mà không tiếc nuối gì hết.

    Như vậy, ở cái thế của kẻ mạnh, hoặc ít nhất ở cái thế của kẻ bằng vai, thì người Việt chẳng buồn học ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng, khi ở cái thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhã, thì sự học của chúng ta mới vội vã bắt đầu. Tôi có viết trong một tác phẩm về việc hầu như chẳng người Việt nào buồn biết tiếng Nhật như sau: "... người Nhật chiếm nước này chưa đủ dài để người nước này thèm tiếng Nhật. Nỗi nhục chưa kịp ngả thành lòng yêu".

    Cái sự học của trí thức chúng ta trong thế giằng xé giữa một bên là nỗi nhục, một bên là lòng yêu, là một sự học đầy mâu thuẫn, thậm chí có thể nói là bệnh hoạn, đầy những đau khổ mà bản thân tôi có thể chia sẻ nhiều phần. Ta hãy lấy ví dụ về việc học này qua cách sáng tạo chữ viết. Cả người Việt lẫn người Nhật vốn đều có tiếng nói riêng mà không có chữ viết riêng. Trung Hoa thì ngược lại, có chữ viết. Nhưng Trung Hoa không băng qua biển để đi sang Nhật mà mang chữ viết cho người Nhật. Và nói chung thì Trung Hoa là một dân tộc lục địa, họ tin ở con ngựa hơn con thuyền. Cái từ mà chúng ta dùng để chỉ họ là người "Tầu" thật ra chẳng đúng tý nào, họ là dân tộc không liên quan đến tầu bè. Trung Hoa rõ ràng không băng qua biển để cưỡng bách người Nhật phải học sách Tầu và viết chữ Tầu, mà chính là người Nhật đã tự động ngồi lên thuyền, băng qua biển đến Trung Hoa, rồi khuân một ít văn hóa Trung Hoa, trong đó có chữ viết, về nhà họ để dùng tạm trong lúc còn thiếu thốn. Cái thái độ đi học của người Nhật như vậy là một thái độ chủ động, tích cực và có sự sòng phẳng của nó. Cần thì học, thích thì học, hoàn toàn tự nguyện. Và một khi người Nhật đã mất công lặn lội như vậy để khuân về nhà từng ấy bộ chữ Trung Quốc thì họ cũng dùng hết, không vứt đi đâu bộ nào. Tất nhiên, không phải ngày một ngày hai, nhưng sau trên dưới khoảng chục thế kỷ, sau nhiều thất bại thì người Nhật cũng dùng được bộ chữ Trung Quốc trong việc ghi lại tiếng Nhật. Chữ Nhật ra đời và trụ được cho đến ngày nay trên cơ sở bộ chữ Tầu giản tiện. Một người Nhật nếu biết tiếng Tầu thì rất quý, thế nhưng nếu không biết thì họ vẫn có khả năng dùng tốt chữ Nhật của họ... Họ đã thành công trong việc đi học ở bên ngoài và làm ra được cái mà họ chưa có. Họ là hạng học trò ngoại lệ...

    Người Việt chẳng cần lặn lội sang Tầu đi học, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuân một hòm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi Pháp, vừa học vừa chửi Liên Xô, và bây giờ vừa học vừa chửi Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến hay triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và trò.

    Còn việc sáng tạo chữ viết của người Việt diễn ra như thế nào? Người Việt chẳng cần lặn lội sang Tầu đi học, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuân một hòm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi Pháp, vừa học vừa chửi Liên Xô, và bây giờ vừa học vừa chửi Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến hay triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và trò. Ở trong dân gian, thái độ lưỡng phân này thường bùng nổ chỉ ở thời gian đầu, sau đó có thể nói là cái gì của ta sẵn có, cái gì mà nó bắt ta phải học, dần dần cũng đồng hoá vào nhau, ở cấp độ dân dã, đôi khi không phân biệt nổi xuất xứ nữa. Thí dụ như nói dến ông bụt chẳng hạn, nào ai còn rạch ròi mà bảo rằng đấy là một ngoại kiều Ần Ðộ, mà tên thực ra phải là buddha cơ, nào có ai phải rạch ròi đến thế đâu. Nhưng trong giới trí thức thì cái thái độ lưỡng phân kia là cả một tấn bi hài kịch, trong đó có những pha đầy phi lý, những pha trái khoáy, những pha nực cười và tất nhiên là rất nhiều pha vô cùng vô duyên. Với giới trí thức Việt Nam thì chỗ này có sự rạch ròi của nó. Cái học thuyết của ông bụt không mang tên là bụt giáo mà mang tên là Phật giáo, bởi lẽ giữa chữ bụt và chữ Phật có một khoảng trống, và ngồi trong khoảng trống ấy chính là ông thầy Trung Hoa.

    Việc người Việt luôn có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn mình, và kết quả là người Việt luôn phải tiếp thu nền văn minh của kẻ thù, việc ấy vừa là một bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rõ ràng là trên đời chẳng có cái gì không có ít nhất hai mặt của nó, chỉ có điều, sức mạnh và tầm vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái chỗ nó vận động như thế nào trong sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ khả năng khống chế sự bất hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là ngược lại. Hay là nó chẳng có một chủ trương chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu thì khen lấy được, học lấy được, lúc nào cáu lên thì vứt hết, dẹp hết, quay về trâu ta ăn cỏ đồng ta. Và tôi ngờ rằng sự tuỳ tiện này chính là cách ứng xử của chúng ta. Người ta có thể cho sự tuỳ tiện này một cái tên quan trọng hơn, "sự linh hoạt" chẳng hạn. Nhưng tên có hay như thế nào cũng không thể kéo cái hiện thực dở đi theo được.

    Kẻ bị buộc phải đi học trong tình thế lưỡng phân mà lại tùy tiện như vậy thì đến hệ quả gì? Một trong những hệ quả là: hắn không bao giờ học cho hết chữ của thầy. Mới học được nửa trang, mới đọc được nửa trang, học đến nửa quyển sách thì cái phanh của lòng yêu nước, lòng căm thù ngoại xâm - tất nhiên đấy là một tình cảm rất chính đáng - đã chặn đứng tất cả lại và hắn nhất quyết quay ra với khẩu hiệu "tự lực cánh sinh", hoặc phương châm "sáng tạo, ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam". Nghiên cứu đối phương chẳng hạn, khi người ta có một kẻ thù thì nghiên cứu kẻ thù để chiến thắng nó là một động cơ đáng kể để học hỏi nền văn minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi có cảm giác rằng sự nghiên cứu của chúng ta chỉ dừng lại ở cái mức tin tức tình báo, đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông không thạo đường thuỷ, hay đại quân hậu cần của giặc hiện đang tắc ở đoạn nào. Chắc là cái sự học và sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của cả người Tầu, người Pháp, và người Mỹ về chúng ta. Có một thực tế là các học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu về Việt Nam thì không thể không sang Trung Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt Nam mà những nước đó đem về giữ trong các thư viện và văn khố của họ... Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang thang ở các trường đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan Khôi. Một hành trình hết sức vòng vo. Vì sao? Ðể nghiên cứu về Phan Khôi, anh phải đọc báo Việt Nam của những năm 30. Những báo đó, chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không giữ lại, theo đúng tinh thần của người Việt là thời nào biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế hệ đó, không dính líu gì đến thế hệ sau nữa. Nhưng người Pháp thì khuân những báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản đúp, thì họ bán lại cho người Mỹ và bây giờ thì Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam đã được Pháp bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đầu thế kỷ. Ðối với giới sử học Việt Nam, các công trình của cơ quan nghiên cứu Pháp, Viễn Ðông Bác Cổ, là một chỗ dựa không thể thay thế nổi. Rõ ràng là thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Ðông Dương và điều đó không có gì để bàn cãi cả. Ðể làm điều ấy, họ cần hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ, hiểu biết tường tận về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ không phải chỉ là thu thập những tin tức tình báo. Chắc chắn là hoạt động của Viễn Ðông Bác Cổ được Bộ thuộc địa Pháp tài trợ ... Các học giả và trí thức Pháp có thể đã là công cụ cho một mục đích không lấy gì làm đẹp đẽ lắm, song bản thân công việc nghiên cứu của họ diễn ra nghiêm túc và thấu đáo. Còn các học giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục đích chính đáng, song kết quả công việc của họ lại tạm bợ và nửa vời.

    Một mặt thì chưa học đến nơi đã sốt sắng sáng tạo, để rồi toàn đi đến những kết quả nửa vời như vậy. Mặt khác, khi chỉ còn một mình với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được đó thì người trí thức Việt Nam mới lại thành một học trò ngoan, thậm chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành một kẻ nô lệ, thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, mác-xít hơn cả cha đẻ của mác-xít.

    Xét về phương diện này thì người trí thức VN ngoại lệ nhất là Nguyễn Trường Tộ, và bản thân Tự Ðức cũng là một bậc trí thức không đến nỗi ngu đần như trong sách sử chính thống mô tả. Song như chúng ta đã biết, chương trình canh tân được Nguyễn Trường Tộ đề nghị và rất nhiều điểm cũng được Tự Ðức tán đồng không hề được đem ra thực hiện. Ða số giới cầm quyền đương thời cũng là các bậc học giả hiểu cao, biết rộng, họ có đủ lí do cần thiết để cản trở chương trình canh tân đó, mà cái lí do rằng Nguyễn Trường Tộ là người theo đạo Tây chỉ là một cái cớ.

    Một mặt thì chưa học đến nơi đã sốt sắng sáng tạo, để rồi toàn đi đến những kết quả nửa vời như vậy. Mặt khác, khi chỉ còn một mình với cái đống sáng tạo dở dang không dùng được đó thì người trí thức Việt Nam mới lại thành một học trò ngoan, thậm chí rất ngoan. Ngoan tới mức thành một kẻ nô lệ, thành bảo hoàng hơn vua. Thậm chí Khổng Tử hơn cả Khổng Tử, ga-lăng hơn cả người Pháp, mác-xít hơn cả cha đẻ của mác-xít. Lúc bấy giờ cái người học trò thích sáng tạo ấy mới tự phong cho mình những danh hiệu, chẳng hạn là đại diện xứng đáng nhất của những trường phái gì gì đó, của những ông thầy gì gì đó ... Khi Trung Hoa đã là Trung Hoa dân quốc, và trí thức Trung Hoa đã miệt mài ngồi dịch sách của những bậc như Rousseau, Montesquieu, thì trí thức Việt lúc đó vẫn còn chết chìm trong cái mớ "thi vân tử viết" của mình, và triều Nguyễn khi đó trưng ra những lễ nghi nho giáo còn chặt chẽ hơn cả triều đình Bắc Kinh một thuở. Ta có thể lấy chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam tiền chiến làm ví dụ cho việc nay.

    Tất nhiên phong trào Thơ Mới và văn xuôi 1930-1945 là một bước tiến khổng lồ cho văn học Việt Nam, song thần tượng của nó, nguồn ảnh hưởng của nó từ văn học Pháp là những thứ đã diễn ra trước đó có khi cả vài thế kỷ. Cái mà ông thầy Pháp đã bỏ ra khỏi giáo trình của mình từ mấy đời thì anh học trò Việt vẫn còn nghiền ngẫm say sưa lắm, còn cái mà ông thầy ấy đang dạy ở trên lớp thì anh học trò ấy chỉ nghe có một nửa tai rồi bảo: "Cái đoạn này thì ta nên tự lực cánh sinh". Cho đến bây giờ cái tinh thần của lãng mạn tiền chiến vẫn chế ngự trong văn chương Việt Nam hiện đại. Nếu có ai phê bình thì các vị ấy vênh mặt lên bảo rằng: "Văn chương Pháp cũng thế, dám chê cả văn chương Pháp à !?" Song những điều đang diễn ra trong văn học Pháp hiện đại thì chẳng có ai buồn học, có bảo là phải học thì các vị ấy lại bảo: "Biết cả rồi, xoàng cả thôi, cũng chả hơn gì ta đâu, mình làm có khi còn hay hơn !". Như thế thì hỏi làm sao văn chương nghệ thuật nước ta không luôn luôn đi lạc một bước, ít nhất là một bước sau thế giới? Năm mươi năm nữa chẳng hạn, các học trò Việt lại đi mở những thứ sách của thế giới bây giờ ra, thế giới bây giờ, để học lấy học để. Ðã học như thế thì lấy đâu ra thời gian để học chính những thứ đang cùng thời với mình? Hỏi làm sao cái học đó không phải là cái học viển vông?

    Thí dụ rõ rệt cho cái lẫn lộn lung tung giữa chủ động nô lệ và chủ động sáng tạo ta có thể quan sát ở các trí thức Việt khi họ đi ra nước ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài học về khoa học quản lí, là thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rõ ràng trước khi một nước phương Tây quyết định đầu tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam thì họ đành phải làm cái việc không đừng được là đào tạo, cũng như muốn bán cho ta một cái máy bay thì họ phải làm cái việc là đào tạo hộ một anh phi công, đấy là chuyện họ không đừng được. Như vậy là trí thức Việt cắp cặp đi học khoa học quản lí hiện đại. Chữ thầy được mười thì học trò nghe được một, thôi thế thì cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng kiến ở những người đó là họ sẵn sàng vứt tất cả một phần đó đi, mà bảo rằng: "Úi trời, cái kiểu quản lí này không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam !" Cũng là có lí chứ không phải không có lí, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng được, nhưng chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo thì bao giờ cũng muôn năm cả. Thế nhưng cũng chính những người đó, khi trở về nước, đối mặt với những lề lối quản lí rất Việt Nam, nghĩa là rất cẩu thả, rất tạm bợ, rất mông muội, rất trung cổ, thì lại giương cái sở học của mình trong các chuyến đào tạo ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: "Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế ... Không được thế này, không được thế kia ..." Nhưng Tây nó làm như thế nào thì không còn nhớ, thế là lại đi học nữa! Xã hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức không làm điều gì khác hơn là suốt đời đi học như vậy. Cứ đến lớp thì chê thầy, cứ về nhà thì lại nhớ thầy, xin cắp cặp theo học lại. Suốt đời đi học như vậy. Như thế thì hỏi làm sao được như người Nhật, tự làm ra chữ viết dùng được cho mình?

    Chữ Nôm Việt Nam được làm ra, về xuất phát điểm thực ra không khác gì chữ Nhật, chỉ có điểm khác là nó không thành công. Muốn dùng chữ Nôm, người ta phải biết chữ Hán trước đã, rồi sau đó lại phải học thêm quy tắc cấu trúc cái chữ Hán, vốn đã rất phức tạp như vậy, vào với nhau như thế nào để nó ra cái gọi là chữ Nôm. Tôi lấy một ví dụ: muốn viết chữ "trờí" chẳng hạn, muốn viết cái tiếng ta ấy ra mặt giấy thì phải viết thế nào ?. Người ta phải biết hai chữ Hán là chữ "thiên" và chữ "thượng", phải biết cách ghép hai chữ này vào nhau để thành một chữ "trờí". Quả nhiên là một cái lô gích vô cùng kinh hoàng đối với hình dung của tôi, cứ làm như còn một cái "thiên" nào khác, ngoài cái "thượng" đó. Mà đã thế sao không dùng luôn tiếng Hán, chỉ có một chữ "thiên" là xong, tại sao lại hai lần tiếng Hán như thế, gộp vào nhau để ra chữ "trờí"? Trong cái công trình sáng tạo chữ Nôm ấy, rõ ràng sáng tạo là gì? - Là ghép hai cái rập khuôn vào nhau! Tôi chưa bao giờ dám tự hào về cái chữ Nôm mà theo tôi, xin lỗi quý vị ở đây, là điển hình cho tinh thần khổ dâm. Phải học cái chữ của kẻ thù thì chỉ đơn giản là khổ, nhưng học cái chữ của mình bằng cách hai lần đi qua chữ của kẻ thù thì lại bỗng nhiên sướng? Như thế chẳng phải khổ dâm thì là cái gì? Song kết cục của công trình làm ra chữ viết của ta như thế nào lại là bất ngờ lớn cho chúng ta. Chữ quốc ngữ là tác phẩm của một số cha cố Dòng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là những người truyền giáo có mặt ở Việt Nam một thời gian dài, có ảnh hưởng quan trọng, là các vị Dòng Tên, nổi tiếng là những trí thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ và có một lòng khoan thứ nhất định đối với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là các vị của Dòng Dominique như trong trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn.

    Những căn bệnh khác của "người học trò Việt Nam" trong tình thế lưỡng phân này chúng ta có thể kể ra: Học như vậy thì không thể không mặc cảm. Ðương nhiên là phải thấy mình bé nhỏ, kém cỏi trước cái khổng lồ, phong phú và cái ưu thế của những thành tựu văn hoá khác. Tôi thực sự chưa hề được chứng kiến một trí thức hoặc văn nghệ sĩ Việt Nam nào có một lòng tự hào và tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài. Tất nhiên trong chuyện này có nhiều bên tham gia. Không thể có kẻ đại diện cho một văn hoá nhược tiểu nếu như không có kẻ đại diện cho một cường quốc văn hoá. Tất nhiên như vậy, nhưng đấy không phải là đề tài của chúng ta hôm nay. Ðã mặc cảm như vậy thì không thể không chán nản, mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà nghĩ rằng: "Không có chúng ta thì thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm". Thế thì đợi người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải đỡ mất công hay không ?. Mà đằng nào, nếu mình làm thì có ra gì mà làm ?. Thế nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức chúng ta cũng chẳng giống ai, còn chọn chán, còn chê chán, còn chặt miếng ra, miếng nào vừa mồm mình thì mới dùng, vừa khẩu vị mình, dễ cho cái bụng mình tiêu hoá. Tất nhiên điều đó cũng có cái hợp lí của nó, song vì sao không thử xem lại cái miệng mình có nhỏ quá hay không, khẩu vị của mình có cần thay đổi đi hay không, và bụng dạ mình có còn đủ tốt để tiêu hoá cái gì đó hay không?

    Tóm lại, khi cái học của một tầng lớp có học của chúng ta như thế thì cái học ấy có hơn gì sự vô học của một đám đông hay không ? Hỏi làm sao mà cái học ấy không giúp gì được ai.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    39 phản hồi

    Trí thức là cái chi chi ???

    Xuyên qua nhiều phản hồi qua lại trong chương mục này, tôi nảy ra một định nghĩa khá chính xác của hai chữ "trí thức":

    "Trí thức gồm hai chữ hợp lại (trí + thức): là những người có đôi chút kiến thức (lý trí) do học hỏi từ sách vở và tự đào luyện trau dồi qua kinh nghiệm trong thực tiễn (thức tỉnh) để có một cái nhìn độc lập về một vấn đề và biết tận dụng phương pháp tư duy để tiến đến giải pháp cụ thể". Vậy thì phần "trí" là phần lý thuyết do từ tư duy học hỏi suy nghĩ, và phần "thức" là hành động đi vào thực hành trong cuộc sống để áp dụng, thử nghiệm, đo lường, chấp nhận rủi ro và phản ứng của môi trường để kiểm tra và áp dụng để nâng cao cuộc sống. Hơn thế nữa, trí thức phải có cái nhìn hướng thượng, lương tâm trong sáng và hành xử trung thực để tránh không bị vật chất cám dỗ làm ô nhiễm trí tuệ.

    Tìm cách khai triển hài hoà để cân bằng hai điều kiện căn bản "trí + thức" không dễ, khi thiếu cái này khi thừa cái khác, thiển nghĩ có ba tình huống tổng quát:

    1)- Dư thừa "trí" nhưng thiếu thực hành để "thức": những vị học giả chỉ biết ngồi ôm lý thuyết giáo điều tràn ngập trong đống sách vở mà không hề trải kinh nghiệm đau đớn trên trường đời (nghề nghiệp, xã hội) thì đó chỉ là loại "trí ngủ" hãy còn say sưa trong toà tháp ngà từ chương.

    2)- Ôm mộng "làm ngay" mà không có một chút hiểu biết căn bản: Đó là những người "tay lấm chân bùn" không hề có chút kiến thức căn bản vững vàng về lý thuyết nhưng rất thích lao đầu vào "áp dụng thực tiễn", giống như trường hợp các bác Hai Lúa thích mày mò chế tạo máy bay nhưng không hiểu định luật khí động học, hay nguyên lý Bernoully là gì, không có một chút căn bản về cơ khí ...thì quả thật cũng rất táo bạo nguy hiểm cho xã hội. Những vị này "thức trắng đêm" để tìm biện pháp giải quyết những vấn đề gai góc trong cuộc sống, tiếc thay học vấn của họ chưa đủ căn bản để bảo đảm thành quả của họ. Tuy vậy đó là những người tiên phong mày mò trong niềm hy vọng "cái khó sẽ ló cái khôn".

    3)- Có những người cố gắng cân bằng hài hoà hai phần "trí + thức" nhưng chỉ nằm giới hạn trong một lĩnh vực nào đó, một khía cạnh cuộc sống, không thể bao quát hết mọi phương diện. Đây chính là thực tế của một xã hội đa dạng, cần đến những kiến thức tập thể để bổ túc cho nhau, chung sức nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó chính là ưu điểm của xã hội đa nguyên, đa đảng và dân chủ.

    Với quan điểm về "trí thức" như thế tôi thầm nghĩ rằng xây dựng XHCN trong 60 năm qua ở VN đúng là con đường cụt, bế tắc và thụt lùi vì thiếu chất lượng "trí thức" thứ thật.

    Có vấn đề truy nhập Dân Luận nên ý kiến của tôi bị trùng lặp. Xin xóa dùm một trong 2 ý kiến bị trùng lặp.

    Phải nói là trí thức VN thiếu tinh thần dân tộc. Họ chưa đóng góp được gì nhiều trong sự nghiệp chấn hưng KT và KHKT đất nước. Vậy nên tiếng nói của họ quá nhỏ bé, có nói cũng không ai nghe. 'Trí thức' kiểu ông ĐBQH Hồng hay Phước chỉ làm cho giới trí thức VN bị coi thường thêm mà thôi.

    Vả lại, một dân tộc mà chũ 'NHẪN' được tôn thờ thì khó có thể mong đợi gì nhiều.

    Trí thức VN thiếu tinh thần dân tộc. Họ chưa đóng góp được gì nhiều trong sự nghiệp chấn hưng KT và KHKT đất nước. Vậy nên tiếng nói của họ quá nhỏ bé, có nói cũng không ai nghe. 'Trí thức' kiểu ông ĐBQH Hồng hay Phước chỉ làm cho giới trí thức VN bị coi thường thêm mà thôi.

    Vả lại, một dân tộc mà chũ 'NHẪN' được tôn thờ thì khó có thể mong đợi gì nhiều.

    Tôi không dám đánh giá toàn bộ trí thức Việt Nam, vì đây là vấn đề quá lớn, phải để các học giả. Nhưng thời Pháp thuộc thì thấy ta có đâu số học giả đếm thên đầu ngón tay, đó là số học giả do Pháp đào tạo. Thế nhưng từ ngày cách mạng thành công, con người được sống dưới chế độ mới và đặc biệt được đào tạo dưới mái trường XHCN tươi đẹp thì lại không thấy có một học giả nào, trong khi đó các "học giả cầy" thì mọc lên như nấm. Sao thế nhỉ? Ai biết thì giải thích. Tôi nói vậy thôi, chứ không hy vọng có ai giải thích. Vì sao tôi thất vọng? Vì có nhiều người trước tôi đã nêu câu hỏi, nhưng có thấy ai đủ trình độ trả lời đâu. Xem ra thì đủ thấy trình độ trí thức của ta thế nào. Có vị ngoại ngữ giỏi giang, lý thuyết tràng giang đại hải, nhưng hoá ra khôn thừa. "Khôn thừa" là thuật ngữ trong ngành tâm lý học chỉ những người biết những cái không thiết thực, có khi giải thích những điều rõ như ban ngày. Hình như đội ngũ trí thức của ta không có khả năng độc lập tư duy thì phải? Mà toàn ăn theo nói leo, vẹt nhiều. Lại thêm tình trạng thiểu năng trí tuệ, tức là nói thiếu logique, tức là nói mâu thuẫn, kiểu người da đen trước kia, mà câu điển hình là "ta độc lập ...do Liên xô lãnh đạo", nay thì "kinh tế tư bản đinh hướng XHCN", (kinh tế thị trường là kinh tế tư bản). Điều này thì do kiểu giáo dục CS và cũng đo hoàn cảnh xã hội: cách mạng thì đánh đổ địa chủ lại mọc lên chủ trang trại (hai anh này như nhau), đánh đổ tư sản thì lập nên doanh nhân (hai anh này cũng là một, doanh nhân tức entrepreneur-tức tư bản, người có vốn đầu tư vào cái gì đó, như chủ thầu), cải tạo đĩ điếm thì mọc lên ca ve khắp thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi lên miền ngược. Hôm nay ông Phú Trọng nói trong hội nghị của ngành công an là "kiên định CNXH", "đi theo chủ nghiã Mác Lê nin và tư tưởng HCM". Nếu hỏi ông ta "kiên định CNXH để làm gì?" thì chắc rằng 100% là ông ta không trả lời được. Vậy ai biết trả lời cho dân. MOng các vị trí thức động não. Đã có nhiều ý kiến mong Dân luận mở mục giải đáp thắc mắc nhưng chẳng hiểu sao Dân luận chưa đáp ứng nguyện vọng của bạn đọc? Cần có cả câu hỏi cho các nhà lãnh đạo CS, nếu họ không lên tiếng trả lời tức là họ dốt. Mà họ (một bộ phận trong dân tộc ta) dốt thật. Nều một dân tộc giói, thông minh thì đã không theo CNCS, không thờ ngoại bang dị tộc như có người đã nêu. Bây giờ có cách nào để gột rửa được cái đầu nhiễm bẩn CNCS của dân tộc ta? Nếu có thời gian tôi sẽ đọc lại các trang mạng để gom lại các câu hỏi rồi cho vào một mục, vị nào biết thì trả lời. Có người đã đưa câu hỏi đến đích danh một vài vị học rộng tài cao hay viết trên mạng, nhưng khốn thay, các vị ấy không trả lời được. Ôi buồn. Dốt không trả lời được nên biện pháp tốt nhất của bọn dốt là thuê bọn lưu manh côn đồ đánh đập, bắt bớ, xách nhiễu người chống đối, kể cả chống ngoại xâm.

    Xem lại đôi chút viết:
    Riêng tôi thì thấy vậy, nên cũng xin dừng ở đây!

    Với văn phong quen thuộc, tôi biết bạn là ai, tôi ngạc nhiên khi đọc bình luận của bạn, hy vọng chúng ta sẻ gặp lại nhau nếu có thể.

    Ý tưởng của Dân luận muốn xem xét lại chiều sâu của con người VN để tìm cách thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay là rất tốt. Thế nhưng lại lấy bài này làm cơ sở cho việc "tìm chiều sâu của con người VN" thì theo tôi là không đạt. Bài này viết tản mạn, thích gì nói nấy, nhiều chỗ chẳng hiểu tác giả muốn nêu lên vấn đề gì, lúc chê là có ý kiến muốn đổ lỗi cho CS cả những khi chưa có CNCS như hồi cụ Ngô Tất Tố và thế kỷ 16, lại có chố nói về trí thức ở nước ngoài không chịu ảnh hưởng của CS cũng chẳng làm nên trò trống gì. Chẳng hiểu tác giả nêu những chi tiết ấy nhằm mục đích gì? Trí thức là một tầng lớp không mang tính xã hội đồng nhất, người xuất thân ở thành phần này, người xuất thân ở thành phần khác, thì mỗi người có một đặc tính riêng, con đường tiến thân của họ cũng mỗi người một khác. Ngay trong một gia đình có năm bẩy người con thì có phải người nào cũng giống người nào đâu. Vậy thì làm sao cả một đội ngũ trí thức lại giống nhau được. Còn nói về con người Việt Nam hiện nay (chỉ hiện nay thôi và nếu có lùi lại thì cũng chỉ chút ít thời gian) thì hình như người mình lạc hậu, thiếu đầu óc tự chủ mà dựa dẫm, nhiều khi thiếu giác ngộ chính trị và có nhiều khi dại khờ. So sánh với các nước cùng cảnh ngộ với ta thì thấy: ta thường nói "không có cách mạng tháng Mười (Nga) thì không có CM tháng Tám", trong khi đó Philipin, Indonexia, Ấn độ...thì họ chẳng cần CM tháng Mười họ cũng làm CM ở nước họ. Ta không tìm ra được đường đi nước bước phu hợp với hoàn cảnh nước mình để phát triển mà dựa dẫm, nhờ viện trợ của nước ngoài dẫn đến bị động và chậm tiến. Ta dại (rất dại) là tự hào về cái không đáng tự hào: "Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo", "Nước ta là tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á", "Nước ta là chiến trường thử vũ khí của hai phe" (đây là cái dại nhất, chẳng nước nào đem đất nước, nhân dân mình ra làm vật thí nghiệm vũ khí cho nước khác), rồi còn "Ta tự hào là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á". Chẳng dân tộc văn minh nào lại thờ ngoại bang dị tộc, mà chỉ thờ tổ tiên mình thôi, ta thờ hai ông Tây, một ông người Đức, một ông người Nga. Ta thiếu đầu óc thực tiễn, điều này thì nên phê phán đội ngũ trí thức trong nước, nghĩa là áp dụng một mớ lý thuyết giáo điều vào thực tiến đất nước nhưng lý thuyết thì nói ngược lại, bảo ta áp dụng lý thuyết với hoàn cảnh thực tiến VN. Hoàn cảnh thực tiến là nước ta ở vùng đông nam Á, thực tiến là VN thế kỷ 21, nhưng áp dụng lý thuyết của người Đức cách ta hàng vạn dăm, lại ở cuối thế kỷ 19. Mà không hiểu sao ta lại chủ trương làm nước nghèo bằng nhiều chính sách cụ thể như đường lối HTX, rồi đổi tiền...Gốc là theo cái khẩu hiệu "trí phú địa hào..." Nay thì dân trí thấp do căn bệnh giáo điều, thủ cựu và sùng bái cá nhân, dân khí thì bạc nhược trước ngoại bang, chụp giật mà sống nhiều hơn thúc đẩy cùng tiến lên. Lý thuyết suông thì nhiều , hành động thì ít, lại thêm cái bệnh dối trá lẫn nhau và tự dối cả chính mình, không đủ bản lĩnh nhận ra sai lầm để sửa chữa, người nọ đổ lỗi cho người kia...

    efacx viết:
    Ở bốt mới này thì tôi chả biết bạn "Xem lại đôi chút" viết cái gì nữa.

    Hi efacx, Cám ơn đã rất thẳng thắng…Hì hì ! Thói quen khó bỏ, đụng chuyện thì viết ào ạt, lắm lúc tại hại …cho người đọc, sorry ! ( Nhưng phiền Phan Sơn thì cũng …OK !).

    Dù sao, hy vọng đã viết ra được vài ý chính : Muốn Nhân tài và Trí thức VN phát triển thì nên biết dẹp bỏ chướng ngại cho nó, nên yêu lấy Tự do-Dân chủ. Và một khi đã yêu chuộng dân chủ thì đừng sợ “mâu thuẫn” hay những “phẩm tính hằng số…” gì đó !?

    Nếu có sợ, chỉ nên sợ cách mà một “ trí thức” giải quyết mâu thuẫn ấy - như kiểu “trí thức” Phan Sơn trả lời tôi vậy, có vẻ ngạo mạn và coi khinh dù cũng có bí chút chút …! Há há

    Xin được ngưng ạ !

    Phan Sơn viết:
    Xin hỏi ta đang nói về vấn đề gì vậy? Về sự hiếm hoi của trí thức cùng “tư cách” của họ, hay lên án CNCS?

    Lên án CNCS ? Không đâu Phan Sơn ! Để tôi tóm tắc vậy :
    -Tôi phê phán chính quyền cai trị VN hiện tại về chuyện Nhân tài và Trí thức nhân bài viết của PTH ( không dám nói về CNCS, vì chúng ta đều biết rõ nó không có thực , không bỏ nói ! Cũng không dám phê phá cái gọi là CSVN, hay VN XHCN gì đó, vì với tôi chúng chỉ là sự mạo dánh để lừa mị người dân và quốc tế, sản phẩm “tư duy” của bọn tham nhũng, của giai cấp tư sản đỏ mới. Sự thật, chúng không liên quan gì đến bản chất và thực chất của chính quyền cai trị VN hiện nay)

    Còn ông, dường như ông thì chỉ đang tìm cách che chắn cho cái gọi là CSVN thôi…Hì hì ! Mà thứ đó thì ông cũng hoàn toàn mù tịt như tôi ! Ông muốn bảo vệ tính chính danh của chính quyền cai trị VN hiện nay nhưng chính ông cũng đang không biết phải gọi nói là gì ! Vì bảo vệ một điều mà chính ông còn đang rất mơ hồ nên lập luận ông không khỏi có phần gượng gạo, tung hỏa mù và như thế chắc là khó thuyết phục được ai

    Riêng tôi thì thấy vậy, nên cũng xin dừng ở đây ạ !

    Xem lại đôi chút viết:
    Thảm hại và buồn cười thật đấy bạn ơi!

    Xin hỏi ta đang nói về vấn đề gì vậy? Về sự hiếm hoi của trí thức cùng “tư cách” của họ, hay lên án CNCS?

    Phan Sơn viết:
    "Thế nhưng người Việt tại cộng đồng hải ngoại, không có sự lãnh đạo của ĐCSVN mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào?"

    Đương nhiên Phan Sơn sẽ bám chặc không rời bất kỳ điều gì khả dĩ có thể biện hộ cho CS ! Thế cũng hay, như một kênh phản biện tự do, nhưng thưa bạn, xin phép hỏi rằng ta đang nói về vấn đề gì vậy ? Về sự hiếm hoi của Trí thức,Nhân tài VN cùng “tư cách” của họ, hay nói về những đặc điểm mang tính bản năng của loài người một cách chung chung ?

    Câu hỏi của bạn cho thấy bạn chưa phân biệt nổi sự khác biệt của hai vấn đề ấy ! Vấn đề ở đây là, bạn đang cố gắng nhập nhằng, trộn chung rồi quy kết những thuộc tính tự nhiên vốn có của loài người thành ra thứ “ phẩm tính” của Trí thức VN, nhất là ở hải ngoại nơi không có ĐCS. Bạn cương quyết làm cho nó “nhập nhằng” đến cùng, không buông, dù có thể trong bạn đã phân biệt ngay từ đầu và hiểu rất rõ. Đó chỉ là một tiểu xảo lý luận hơn là một thành ý trao đổi !

    Thế bạn Phan Sơn nghĩ ở xã hội nào thì “Trí thức” sẽ không còn có những “phẩm tính” ấy, chỉ tôi xem được không ? Chỉ cho tôi dù đó là ở thiên đường chỉ gồm các vị Thánh cũng được ? Hay, bạn đang quan niệm rằng trong xã hội tự do dân chủ, con người bình thường và cả trí thức, tuyệt đối không nên có những “phẩm tính“ như thế ? Trí thức, trước hết cũng chỉ là những con người với những đặc tính tự nhiên vốn có của nó, họ không phải Thánh, bạn hiểu chứ ?

    Chỉ có thuyết Maxist và trí thức CS ngây ngô, mê mờ thì mới chối bỏ điều ấy mà cho rằng SẼ CÓ một xã hội mà trong đó, con người sẽ “GIÁC NGỘ” để không còn tồn tại những bản năng tự nhiên trong lòng họ ! Rằng một thế giới “đại đồng” êm ấm, rằng “ Mình vì mọi người, mọi người vì mình” chi đó…Và rồi, lối nghĩ hoang đường trái tự nhiên ấy thực sự cho ta những “sản phẩm” gì ? Thực tế xuất hiện những “ con người mới XHCN” đầy mình giả dối, tàn mạt nhân cách, lương tri như hiện nay . Áp đặt và bẻ méo tính cách tự nhiên là một điều cực nguy hiểm, vì con người có hàng tỉ cách để che dấu và biến đổi khi phải sống với một lý thuyết như thế !

    Còn lại , kẻ tỉnh táo thì nhìn xã hội với một tri kiến tự nhiên và vững chắc, sẽ không đòi hỏi nhiều ở con người, mà còn chấp nhận sự thật một cách dễ dàng, từ đó họ rèn luyện được ý thức tôn trọng đúng mức đối với những thuộc tính tự nhiên của sự vật, hiện tượng và cả của con người…
    Tôi cho bạn một quan niệm mới ( đối với bạn) nhé :
    Ở xã hội như thế, chẳng những luôn tồn tại các “phẩm tính” ấy, mà bản chất của nó vốn luôn tạo ra, làm phát sinh và duy trì mâu thuẫn, nó thúc ép để những “phẩm tính” như thế xuất hiện càng nhiều, càng đa dạng, càng mãnh liệt, càng tốt. Xã hội ấy, nó không chịu nổi sự che dấu dối trá như kiểu “đồng thuật” của các xác chết nơi xã hội độc tài mất sinh khí. Nó luôn bừng bừng sống động từng mỗi giây phút, con người nơi ấy, sôi nổi và luôn bận rộn đấu tranh mà không phải là những thây ma lặng lẽ, lắm lét di động như ở những xã hội độc tài ! Tạo ra và thúc đẩy mâu thuẫn nhưng lạ thay, chính vì không bị gò bó, cố ép mình vào một khuôn khổ cứng nhắc phi tự nhiên , mà con người được tự do và tư tưởng, tài năng có được một môi trường hết sức thuận lợi để phát tiết. Quá trình đó sản sinh cho nhân loại những nhân tài và những tác phẩm có giá trị.

    Do liên tục được cọ sát và bị va chạm với nhiều mâu thuẫn bên trong lẫn bên ngoài của mỗi cá nhân, ta liên tục gặt hái được những thành quả tiến bộ. Thử thách càng lớn, trăn trở càng nhiều, thì tài năng cá nhân càng phát triển ! Và trên tất cả ta có một xã hội sống động , dân trí thực sự được nâng cao với đầy đủ chiều sâu tư duy của từ ấy !.

    Miệng nói oang oang rằng “Mâu thuẫn là động lực của phát triển” , thế nhưng chính CS là kẻ kinh sợ điều ấy đến mức run rẩy. Cái lý thuyết hay ho ( nhưng hãi hùng) ấy của họ, bỗng chốc quay lại ám ảnh chính họ ngay cả trong giất ngủ.

    Thảm hại và buồn cười thật đấy bạn Phan Sơn ơi!

    Xem lại đôi chút viết:
    “…vấn đề nghiêm trọng ?” “ …hằng số xuyên suốt ?”, “ …hồ sơ văn hóa ?”…v.v,

    Các sáo ngữ này, có vẻ như Phan Sơn bị ảnh hưởng bởi ông Nguyễn Gia Kiểng.

    Xem lại đôi chút viết:
    ...Tôi cho rằng hoặc là đã rất vội vã, hoặc quá phiến diện, nông cạn khi đã để mất một yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất trong vấn đề!...

    "Thế nhưng người Việt tại cộng đồng hải ngoại, không có sự lãnh đạo của ĐCSVN mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào?"

    Phan Sơn viết:
    "Việc phê phán ....
    .... có những vấn đề thuộc về văn hoá, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả dân tộc. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam."

    Cách nói chung chung kiểu “…vấn đề nghiêm trọng ?” “ …hằng số xuyên suốt ?”, “ …hồ sơ văn hóa ?”…v.v, thì khó mà biết được vấn đề sẽ đi về đâu, nếu không nói thẳng là sẽ nhanh chóng đi vào rừng rậm mơ hồ, đó là nơi mà gần 80 năm nay, lực lượng tuyên huấn của “Đảng ta” luôn khéo dẫn cả dân tộc nhào vào để chìm sâu bên trong ấy ! Không hiểu sâu vấn đề thỉ mới áp dụng cách “ múa chữ” như thế ! Người hiểu sâu thì trình bày, dù chuyện phức tạp đến mấy, cũng sẽ thành đơn giản, dễ hiểu ! Tôi thì đượng nhiên rất nông cạn, nhưng hiểu sao sẽ nói vậy mà thôi. Sẽ không dám nói điều mà chính mình cũng mơ hồ nốt !

    Để đơn giản vấn đề, sao ta không thử : -Hãy thống nhất Định nghĩa về Trí thức ? Hoặc là hãy cùng tìm hiểu lịch sử phát triển của cái Trí thức được định nghĩa ấy ? Tìm hiểu về chính sách đãi ngộ nhân tài của từng quốc gia, trong thời gian ít nhất lùi về một hai trăm năm trước cho đến hiện nay ?...Chỉ xét riêng ở cùng một quốc gia , mỗi một giai đoạn lịch sử, bối cảnh CT_KT-XH chung nhất thời ấy, sẽ cho ra một Định nghĩa về Trí Thức và từ đó, một chính sách tương ứng đối với Trí Thức.

    Ở VN ta, các triều Lê mạt đến Nguyễn mạt rồi đầu Pháp thuộc, đã có Khái niệm và Chính sách về Trí thức rất khác với ngày hôm nay ( thậm chí tên gọi khi ấy là “Hiền tài”, “ Nhân sĩ”, Sỷ phu”, “Học giả”…v.v, chứ ít gặp từ “Trí thức”). Với tôi, chính cái tên gọi như thế đã gắn liền với vai trò của lực lượng ấy đối với quốc gia , dân tộc. Và cũng phần nào cho thấy, thời ấy thái độ của Chính thể, thái độ của Xã hội đối với lượng lượng ấy ra sao ( trân quý, trọng dụng ? hay khinh ghét, muốn triệt bỏ ?). Và cũng từ ấy, lực lượng ấy là nhiều hay ít nếu không chết đi vì chiến tranh ?

    Rồi cũng từ đó, ta thử nhìn qua giai đoạn Quốc –Cộng và hiện nay xem: “Trí thức là cục phân”, “Trí Phú Địa Hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, “…một chính thể vĩ đại của Công Nông”,” Hồng hơn là Chuyên”…liên tục gần 80 năm, là đối tượng bị khinh bỉ, chà đạp, bị rắp tâm triệt hạ thẳng tay như thế, thì còn chổ nào cho Trí thức tồn tại trên đất nước CS này ? ( Tệ hơn nữa, nay lại chuộng trò “Khỉ đột bắt chước Người”, mua bằng cấp, sắm chứng chỉ giống như mua rau cải, cái ruột bên trong trống rỗng mà ráng cho có lớp vỏ ngoài giống con người, không chịu chấp nhận mình vẫn là cốt khỉ đột, thế thì thứ “Trí thức “ấy là cái thứ gì ? ) Không còn Trí thức , Trí thức không được trân quý, trọng dụng mà còn bị chà đạp , bắt bớ, tù đầy…thì biết đánh giá năng lực, tầm nhìn và tiếng nói của giới Trí thức ra sao đây ?

    Do đó, một số ý của PTH và câu tóm gọn của bạn : “...Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể hay đảng phái thống trị nào…” .Tôi cho rằng hoặc là đã rất vội vã, hoặc quá phiến diện, nông cạn khi đã để mất một yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất trong vấn đề : Tại sao VN quá hiếm “Nhân tài Trí thức” !
    -------------

    Vài phần khác có liên quan đến vấn đề:

    ĐỊNH NGHĨA VÀ ĐÁNH GIÁ TRÍ THỨC:
    Tôi nghĩ lực lượng “có học thuật” của nước ta suốt thời phong kiến vẫn có những “ưu điểm nổi bật” và đượng nhiên, cũng có những “yếu kém hạn chế”, nhưng những tính chất & đặc điểm ấy đều phát sinh từ giới hạn tri kiến của cả một thời đại khi ấy ! Không phải là một “lỗi lầm”. Lịch sử rất hiếm khi xuất hiện một Vĩ nhân đủ sức thoát ra khỏi giới hạn thời đại họ đang sống, tính luôn cả PTH, cả bạn và cả tôi ( nếu chúng ta tự cho mình là trí thức ? Hic), như ta thử tự hỏi: Hạn chế của toàn bộ Trí thức trong thời đại chúng ta đang sống là gì ? và Làm sao thoát ra ngoài những hạn chế ấy ? Câu hỏi ấy lớn và vô cùng khó !

    Ở đây chỉ muốn nói, một khi đã biết nghĩ như thế, thì lúc ta nhận xét về “trí thức của quá khứ” có lẽ phải nên thận trọng, dè dặt đến hết mức có thể. Không thể thoải mái “đánh giá vung mạng”, hay tệ hơn, áp đặt những yêu cầu thời hiện đại ngày nay cho lực lượng “cổ xưa” ấy để phán xét họ . Nghĩa là sẽ không công bằng và sẽ rất sai lạc khi sử dụng nhãn quan, cách nhìn của hôm nay đối với chúng ta, để nói hay phán xét về họ.

    Mỗi thời đại sẽ có cách đánh giá của riêng về “Trí thức” và vì thế , số lượng nhân tài, cũng như đặc điểm, tư cách của Trí thức trong từng thời đại, phần lớn phụ thuộc vào chính cách đánh giá ấy. Nếu so ra, sự điên rồ hay mang dại ở các thời đại có lẽ còn tương đối giống nhau, hơn là sự đánh giá về Trí thức ( Còn nhớ ở đâu đó kể, xưa có vị vua chỉ yêu thích tiếp xúc với những ai ốm gầy, thanh mãnh, thế là lập tức các quan đại phu đua nhau nhịn ăn, các cung nữ, thê thiếp có khi vì một chiếc eo thon mà giữa đường đói lã, ngất đi…đến dân chúng cũng “bỗng dưng “ thấy việc “ốm gầy, thanh mãnh” là đẹp, là hay, là tao nhã…đua nhau tìm ra lắm cách để được là “ à la mode” vào thời ấy ! Sự điên rồ ấy, xem ra cũng đâu khác những trò lố bịch của hôm nay bao nhiêu ? ).

    SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG TRÍ THỨC:
    Mặc khác, không nói về những “đấng khai sáng” hiếm hoi của nhân loại ( Thích ca, Giê su, Mohamet, Khổng tử, Lão tử …v.v) . Chỉ nói về những “Vĩ nhân” tàm tạm thì cũng chẳng nhiều nhặn gì , tính cho cả thế giới, thì co số cũng chẳng phải nhiều. Nói rằng quá lâu để Việt Nam có một Nguyễn Trãi, một Nguyễn Du ư ? Thế thì nên có bao nhiêu liệu có phải do lòng mong muốn của ta quyết định được chăng ? Thử hỏi, suốt bao nhiêu thế kỷ , có bao nhiêu William Shakespeare ở Anh ? có bao nhiêu Fyodor Dostoyevsky, León Tolstoi ở Nga ? Bao nhiêu Rabindranath Tagore ở Ấn ? Bao nhiêu Alexis de Tocqueville ở Pháp? Bao nhiêu Karl Marx ở Đức ?...

    Xem thế, riêng tôi không thấy VN đáng phải bi quan lắm về chuyện “Trí thức” của nó. Bi quan nhất phải kể đến Nhận thức về vai trò và Môi trường xứng đáng dành cho họ, hiện nay !
    Trân trọng,

    Nói tư cách trí thức Việt Nam tức là nói đến tư cách đạo đức phải không tác giả PTH? Thế nhưng đọc ác ý kiến phản hồi thì tôi toàn thấy nói về trình độ của trí thức cũng như trình độ phát triển chung của nước ta. Nói chung trình độ phát triển của một quốc gia có liên quan tới trình độ của trí thức. Điều này thì quá rõ, nhưng trình độ của trí thức lại liên quan tới đến môi trường, chính là quốc gia, nơi trí thức sinh sống. Đúng là đầu thế kỷ XX thì nước ta không thua kém vài nước ở khu vực, thậm chí còn hơn một vài mặt thôi. Sài Gòn được công nhận là viên ngọc Viễn đông, Băng cốc của Thái Lan chỉ phát triển mạnh sau 1975 do Mỹ đầu tư vào. Nhưng sau đó thì họ vượt ta với tốc độ quá lớn. Điều này chính là do môi trường hay nói chính xác là do nhà nước ta không tạo điều kiện cho trí thức phát triển.
    Chính Singapo còn thừa nhận là trước 1965 họ cũng nghèo như ta. Nay thì nếu họ đứng yên, ta muốn đuổi kịp họ thì cần gần 200 năm nữa. Họ có tài nguyên gì đâu, nhưng họ có chất xám do chính sách đầu tư. Ta thì quá coi nhẹ vai trò của trí thức mà chỉ coi nặng về chất đỏ thôi.Thử xem lương của một kỹ sư, một cử nhân so với lương của một người quét rác hơn kém nhau bao nhiêu? Trí thức trong nước không phát triển kịp thời đại. Còn ở nước ngoài thì rõ ràng đội ngũ trí thức của ta cũng sáng giá đấy chứ. Nó cũng giống như cái cây, giống của Việt Nam, gieo trồng ở nước ngoài thì phát triển về nước thì lụn bại. Nêu lên điều này để nhà nước thấy rõ và sửa lại chính sách đãi ngộ với trí thức. Thực ra thì khối người đã nêu và chính nhà nước cũng thấy, nhưng vì lý do gì gì đó mà nhà nước không chịu sửa, thành ra ta dã tự tạo ra một đội ngũ trí thức nửa mùa, giáo sư giả cầy, tiến sĩ dỏm. Xem những bài các vị GS TS viết trên báo thì thấy trình độ của họ thế nào? Đội ngũ trí thức xuống đường bất mãn cũng có đấy chứ. Vậy thì tư cách trí thức thế nào? Trình độ thế nào? Môi trường quyết định thế nào đều rõ cả.

    Xem lại đôi chút viết:
    "...Nói nữa thì lại sang vấn đề hiện thực tại Việt Nam. Nhưng không nói thì sẽ không công bằng, một thể chế chính trị đã từng tiêu diệt trí thức trong quá khứ? Thể chế chính trị lại không có một vai trò quyết định nào trong phát triển nhận thức của một dân tộc? Trí thức Việt không hơn, cũng không chắc đã kém ai, duy có điều, họ cần một môi trường sống phù hợp để phát triển. Không phải trong một môi trường đã tìm mọi cách làm cho họ tự thui chột như xã hội Việt Nam!"

    "Việc phê phán xã hội loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng, tất nhiên có thể gắn với việc phê bình lãnh đạo, chính quyền. Thế nhưng người Việt tại cộng đồng hải ngoại, không có sự lãnh đạo của ĐCSVN mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào? Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả dân tộc. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam."

    Trích dẫn:
    Rồi đầu thế kỷ 20, ta có kém gì đâu, Thái Lan còn chạy dài.

    Đúng là tự sướng. Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, các vua Thái đã phần lớn được đào tạo tại các nước phương Tây nên có đầu oc cởi mở, không bế quan tỏa cảng mù quáng chống phương Tây nên Thái có hòa bình, kinh tế bắt đầu phát triển, xã hội bắt đầu trở nên văn minh sau khi xóa bỏ chế độ nô lệ (đặc biệt dưới thời vua Chulalongkorn). Còn VN thì các vua vẫn u tối nên mới bác bỏ các đề nghị canh tân của Nguyễn Trường Tộ, bế quan tỏa cảng với người phương Tây nên mới bị thành thuộc địa cho Pháp. Người Việt ta có cái gì đáng tự hào trong thời kì này đâu nhỉ.

    Admin viết:
    Xem ra những thành tích huy hoàng của Việt Nam ta đều dính tới... oánh nhau: Chiến thắng quân Nguyên Mông này, chiến thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ này :D Anh hùng thật đấy, tự hào thật đấy, nhưng những tổn thất do chiến tranh đem lại về mặt con người, về tâm lý, về của cải vật chất thì chẳng lòng tự hào nào có thể bù đắp được.

    Hôm nọ có đọc bài của ai, nói, đại ý: dân ta nói dối từ trên xuống dưới, lừa người và tự lừa cả bản thân mình! Thật không hổ danh xứ Lừa, nói khoác nhất châu Á!!! :-))

    Chiến thắng quân sự của An Nam thật ra chẳng có quái gì là kinh điển, dương danh trên thiên hạ cả???!!! Mà chủ yếu nhờ vào chiến lược: trường kỳ chọc ngoáy!!! Giặc nó chán, không thấy lợi thì nó rút về, dân VN được thể, ra sức nói phét!!!

    Đánh nhau ở Căm pu chia 10 năm, VN cũng hết tiền, mệt mỏi, cũng phải phủi mông ra về, sau khi tốn gần 50000 nhân mạng. Nào có hơn ai???

    Bạn (gái) Võ Thị Biền ở dưới tuyên bố đầu thế kỷ 20 VN hơn Thái Lan dài dài!!! hơn cái gì và hơn như thế nào??? tại sao nó không rơi vào tròng thuộc địa mà VN lại rơi vào???

    VN không rơi vào tròng thuộc địa, thì Bác Hồ (ta) đã chẳng phải ra tay!!!

    Vụ nhà Lê chinh phục Miến điện cũng chưa từng nghe, chắc do mình được đào tạo dưới mái trường CNXH chăng???

    Xem ra những thành tích huy hoàng của Việt Nam ta đều dính tới... oánh nhau: Chiến thắng quân Nguyên Mông này, chiến thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ này :D Anh hùng thật đấy, tự hào thật đấy, nhưng những tổn thất do chiến tranh đem lại về mặt con người, về tâm lý, về của cải vật chất thì chẳng lòng tự hào nào có thể bù đắp được.

    Nếu giở lai trang sử Việt Nam thì ta cũng thấy có nhiều điều đáng tự hào, vì ông cha ta cũng giỏi thật. Một trang sử hào hùng nhất là ta tắng quân Nguyên. Quân Nguyên đi đến đâu thì thắng đến đấy, nhưng gặp quân nhà Trần thì cả ba lần đều thất bại thảm hại. Điều này thế giới phải khâm phục. Đến đời nhà Lê thì quan quân nhà Lê còn định chinh phục cả Miến Điện. Dân tộc ta đâu có đội sổ. Rồi đầu thế kỷ 20, ta có kém gì đâu, Thái Lan còn chạy dài. Thời vua Quang Trung thì nước ta cũng là một cường quốc về quân sự, vũ khí phát triển, nghề đóng tàu biển thì nhiều nước khu vực còn thua ta. Tiếp sau đó khi tiếp xúc với phương tây, ta cũng có những trí thức được xếp hàng thế giới như Trương Vĩnh Ký, tiếp sau la Lê Văn Thiêm, Nguyễn Mạnh Tường...Hiện nay số trí thức người Việt ở khắp năm châu và nhiều người thành danh như Ngô Bảo Châu...nhưng nhìn trong nước thì rõ ràng là từ ngày cụ Hồ về tiếp quản thủ đô, ta ngả theo Liên xô thì đội ngũ trí thức lụn bại cả về khả năng đến danh tiếng. Điều này thật khó cắt nghĩa, nhưng cái bao quát cũng là cái bắt nguồn của mọi nguyên nhân là "trí phú địa hào...". Chính sách đối với trí thức thì quá tệ, nhiều khi ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng. Khi đổi sang cơ chế thì trường thì trí thức cũng rơi vào cái guồng khát quá lâu nên gặp nước bẩn vẫn cứ uống. Chính đây là điều làm cho mất tính trí thức. Chấn chỉnh lại nền giáo dục để tạo ra đội ngũ trí thức thực thụ thì rất khó, nhưng để "trí ngủ" xen lẫn trí thức thì nguy. Xem các bài viết của các GS TS trên các trang mạng thì đủ biết mục đích ta đào tạo ra trí thức để làm gì? Có thực là để phát triển đất nước hay không? Xem số lượng đề tài khoa học của ta và nước Láng giềng Thái Lan thì biết ta thua họ đến mức nào? Trước kia thì họ phải học ta.

    Bức tranh PTH vẽ ra tuy có một phần đúng nhưng nhiều màu xám quá !

    Tuy là “quốc gia hưng vong , thất phu hữu trách”, trách nhiệm chấn hưng đất nước và dân tộc, phần lớn nằm ở giới gọi là “có học thuật” của nước nhà. Thế nhưng nếu ngày nay, ta trút hết những trì trệ, thua sút, yếu kém…v.v của đất nước VN này lên đầu bọn “tri thức” như thế, thì tôi có phần phiến diện, và hơi bị …“oan ức “ chăng ? Còn chuyện nước VN ta cứ giành lấy vị trí “đội sổ” mãi có lẽ cũng chưa hẳn chính xác ?

    Nếu so sáng với các quốc gia khác, thì cũng nên ngó nghiên về lịch sử của họ vào cùng thời điểm. Ví như, dù vẫn chìm trong ảnh hưởng Khổng , Nho nhưng thời Lý, Kinh tế và Quân sự của Việt Nam rõ ràng đã lấn lướt nhiều so với lân ban. Tống triều còn phải “chôm vặt”, xin giống lúa về trồng…v.v.. Các nước khu vực quanh VN khi ấy liệu có nước nào bằng , chắc gì VN ta đã đội sổ ? Phương Tây khi ấy cũng đâu đã có gì nổi bật, hay có lẽ còn đang mông muội với lũ cướp Viking…? Mãi đến thời Quang Trung, có giao lưu với Bồ đào nha và vài nước khác nhưng chỉ là để phục vụ chiến tranh, không ưu tiên gì cho Văn hóa và Tư tưởng …dù thế, VN khi ấy cũng chẳng phải là thứ “đội sổ một mình” nếu so với mặt bằng chung của thế giới khi ấy ?
    Các giá trị dân chủ, nhân quyền cũng chỉ hình thành mới đây nếu so với chiều dài lịch sử nhân loại…Hấp thu nó để dần hình thành một nền học thuật thì lại liên quan đến yếu tố chính trị rất nặng nề .

    Đối với VN, một nước nhược tiểu và hủy oại nhiều bởi chiến tranh, thì khoảng thời gian lặng đi trong hòa bình để có một sự giao thoa Văn hóa – Tư tưởng nghiệm túc với thế giới bên ngoài, thật ra cũng chỉ mới vừa xảy ra gần vài chục năm gần đây thôi. Hiện tại nó đang dần trở nên mạnh mẽ và phổ cập rộng rãi hơn, nhờ vào cuộc cách mạng thông tin.

    Lùi lại từ Quốc – Cộng rồi Pháp thuộc, tri thức VN còn không có đủ , sinh ra không kịp để …chết, thì lấy đâu ra một sự chuyển mình của Trí thức và Dân tộc. Anh tài đất Việt khắp mọi miền đã cạn kiệt vì phải đổ máu ra để giành lấy sự tồn tại cho cái dân tộc này. Đất nước, dân tộc có còn tồn tại ,thì mấy từ “Trí thức VN” mới có chút ý nghĩa để mà suy ngẫm về nó . Theo lịch sử, dù ta có ghét cái “thằng khách quan” đến thế nào thì “thằng ấy” vẫn cứ đã ngáng chân cản trở một sự phát triển nhận thức của dân tộc ta trong quá khứ. Dân VN học nhanh đấy chứ, những nhân vật như Nguyễn trường Tộ xuất hiện sớm không thua gì các nhà cải cách ở những quốc gia khác. Phong trào Tây học, Đông du…v.v cũng xuất hiện khá sớm và sôi động, có điều rồi nó đã nhanh chóng bị nhấn chìm trong bão lữa chiến tranh, không kịp trở thành một tác nhân mang lại sự tiến bộ nhận thức nào cả ? Đó là điều bất hạnh hơn là một sai lầm hay tội lỗi, khuyết tật của giới tri thức.
    Nếu không có Pháp thuộc , để rồi có Duy tân, có làn sống chống Pháp “trung quân ái quốc bất đắt dĩ” kia, khiến nhân tài bị tận diệt, nguyên khí bị hư hại tàn phá nặng nề…thì biết đâu (?), một số rất đông “Nguyễn Trường Tộ” hậu sinh đã xuất hiện (cả trong quan chưa triều đình) để tiếp bước ông ta mà làm thành một “cải cách sâu rộng” trên đất Việt ? - Minh Trị thiên hoàng của Nhật, đành rằng đã sớm nhận ra làn sóng tiến bộ của thời cuộc và tiến hành thay đổi, song quan trọng nhất là ông ta và cái nước Nhật ấy đã được lịch sử để cho yên ổn mà cải cách một lèo thẳng bon bon ! Còn vua quan triều Nguyễn, cho dù đã ít nhiều nhận thức được tầm quan trọng của Khai dân trí , của việc giao thoa Văn hó- Tư tường – Khoa hoc Kỹ thuật…v.v, nhưng việc tận lực giữ nước khi ấy lại là ưu tiên một. Họ nào có được cái may mắn của nước Nhật ?

    Xưa VNCH thua trong đấu tranh tuyên huấn, vì cố gắng xây dựng nền dân chủ trong lòng một quốc gia đang chịu đựng nội chiến nồi da xáo thịt. Nền Dân chủ còn quá non trẻ và yếu ớt ấy, chưa kịp thành hình dạng đã bị phá hủy tận gốc rễ sau 1975. Tuy thế nó cũng bắt đầu hình thành một tầng lớp tri thức khá căn cơ trong cách sống, cách nghĩ…Nhà văn Nguyễn Khải đã từng phải tủi thân khi gặp gỡ tiếp xúc với các đồng nghiệp miền Nam thời ấy…Nếu không có chuyện “giải phóng” lẽ nào trong số đồng nghiệp ấy không có nhân tài và những tác phẩm g ? Mặt khác, về trí thức nói chung, cũng không thể nói GS Võ tòng Xuân, GS Hoàng Tụy …v.v là những trí thức vô dụng ! Vậy thì cái khác nhau giữa những nhân vật trí thức VN ấy với những “loại” trí thức mà PTH bỏ chung vào rọ ở bên trên là gì ? - Đâu là điểm cơ bản để các công trình của GS Hoàng Tụy và GS Võ tòng Xuân được nghênh đón và ứng dụng trên toàn thế giới ? Phải chăng tài năng cá nhân, lịch sử nền giáo dục được hấp thụ, môi trường tự do thông thoáng , rộng mở và thích ứng với Trí thức….?

    Cái đáng nói là, với đất nước VN này, một khoảng lặng yên trong hòa bình luôn luôn là điều rất quý hiếm. Nhưng liệu người ta có biết tận dụng “khoảng lặng hòa bình” ấy để bồi bổ nguyên khí quốc gia, để xây dựng một tầng lớp trí thức có thực chất, có căn bản nền tản tư tưởng vững vàng, có bản sắt rõ nét…v.v không ? Có xem giá trị Tri thức VN là một yếu quyết thành công để VN vùng lên sánh vai với thế giới hay không ?- Hay lại trùm lên dân tộc một cái ách Văn hóa -Tư tưởng lạc loài, cái chủ nghĩa M-L hoang đường và bế tắc…,hay lại dùng lưu manh côn đồ vô học để quan lý trí thức, ngăn chặn bóp nghẹt thông tin để “mù hóa dân tộc”, thụt lùi nhật thức để ưu tiên cho Lòng trung thành và những giá trị cá nhân ngắn hạn ?...

    Nói nữa thì lại sang vấn đề CSVN mất rồi…Nhưng không nói thì sẽ không công bằng, một thể chế Chính trị há lại không từng giết chết trí thức trong quá khứ sao ? Thể chế chính trị Há lại không có một vai trò quyết định nào trong phát triển nhận thức của một dân tộc sao ? - Trí thức VN không hơn, cũng không chắc đã thua ai, duy có điều, họ cần một môi trường sống phù hợp để phát triển. Không phải trong một môi trường tìm mọi cách làm họ tự thui chột như VN CS hiện nay !

    Phạm Thị Hoài viết:
    Chữ quốc ngữ là tác phẩm của một số cha cố Dòng Tên. Cái may của chúng ta trong câu chuyện này là những người truyền giáo có mặt ở Việt Nam một thời gian dài, có ảnh hưởng quan trọng, là các vị Dòng Tên, nổi tiếng là những trí thức tu sĩ uyên bác, có năng khiếu ngoại ngữ và có một lòng khoan thứ nhất định đối với những tín ngưỡng khác, chứ không phải là các vị của Dòng Dominique như trong trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn.

    Ở đây PTH ca ngợi các vị Thừa Sai dòng Tên có lòng khoan thứ với tín ngưỡng khác. Không hiểu Phạm Thị Hoài thiếu thông tin hay cố tình không biết rằng các Dòng Tên là dòng cực đoan nhất hăng hái nhất trong việc triệt hạ các tôn giáo khác. Bản chất của Kito giáo là tính bất dung thứ với các loại "Tà Giáo". Chữ quốc ngữ được tạo ra không phải nhờ lòng khoan dung của các thừa sai đối với dân Việt mà chỉ là công cụ để truyền bá đạo Kito mà thôi. Xin bạn đọc hãy tự tìm hiểu về chữ quốc ngữ, dòng Tên, và vai trò của các thừa sai trong việc xâm lược Việt Nam tại đây:
    http://sachhiem.net/index.php?content=PagingCNsub
    http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=293
    http://sachhiem.net/index.php?content=PagingTCNsub
    http://sachhiem.net/CHARLIE/CN_TTDTG/Alexandre.php
    Rất mong Phạm Thị Hoài chỉ thiếu thông tin trong trường hợp này.

    Như bà Hoài đã nhận xét, nhiều người trí thức VN 30 năm sống ở những xứ văn minh dân chủ phương Tây nhưng họ vẫn chả học được gì mấy từ những nước này, nói chi đến trí thức trong nước. Vậy nên đừng có cái gì cũng đổ lỗi cho CS. Hãy nhìn lại mình đi.

    Người Pháp có câu "nhà triết học hài lòng với tất cả". Trí thức Việt Nam chịu ảnh hưởng của Tây hay sao nên mới Mackeno? Thật khó mà tách tính trí thức của ta ra khỏi đặc tính chung của người Việt Nam và cũng khó tách tính độc lập của trí thức ra khỏi hoàn cảnh xã hội. Bài viết trên thì quá lam man dài dòng, có chỗ tác giả lại tự cãi nhau với chính mình, đó là cho rằng ta đổ lỗi cho CS ngay từ khi CS chưa ra đời. Chẳng ai có suy nghĩ như vậy. Có điều này thì rõ là trí thức Việt Nam do Tây đào tạo thì về nước chống Tây. Nay trí thức Việt Nam do CS đào tạo thì quay ra chửi CS. Điều này là tốt hay xấu thì tôi không dám bàn , nhưng chỉ nêu ra một hiện thực khách quan. Còn một điều dễ nhận thấy ngay khi đọc các bài thì thấy trí thức VN quá nặng về lý thuyết suông. Về việc những người CS lên lãnh đạo thì thấy một điều là họ vừa đào tạo trí thức, vừa sử dụng trí thức, vừa cảnh giác trí thức, có lúc lại căm ghét trí thức. Ai cũng biết một điều hiển nhiên là nhờ trí thức thì xã hội mới tiến lên được, không có trí thức thì làm gì có những thành tựu mà ta sử dụng hàng ngày như ngày nay. Các nước tiến hơn ta vì họ có đội ngũ trí thức hơn ta. Ttrong gia đình, trước khi người con lập thân lập nghiệp thì bố cho con đi học hay cho nó đi chở xe bò (kiểu cụ Hồ), như vậy tức là mọi người đều nhận thức được lợi ích của việc học hay muốn vươn lên thành trí thức. Xem những kẻ làm lực lượng bảo vệ đánh người thì ta biết kẻ vô học như thế nào? Nhưng có một điều này rõ như ban ngày là Đảng ta đãi ngộ với trí thức có khi không bằng đãi ngộ với mấy thằng lưu manh. Vì cái vô học nên nhiều khi đã xảy ra tình trạng vừa bi vừa hài trước đây. Đội CCRĐ vào bắt quả tang địa chủ giấu khẩu hiệu trên gác bếp và đem ra làm vật chứng thì khẩu hiệu viết "Hồ Chủ tịch muôn năm" "Ủng hộ việt Minh", ở thành phố đội văn hoá đi thu văn háo phẩm đồi trụy thì tịch thu luôn cuốn "Chống Đuy rinh" của Ăng ghen. Như vậy trí thức VN gắn liền với chế độ của nước ta thường bị chế độ chi phối. Trí thức ngán ngẩm chế độ CS cũng có lý do. Muốn có đội ngũ trí thức tốt thì phải có nền giáo dục tốt. Hầu như các trí thức thành danh của ta đều được đào tạo ở nước ngoài. Ta nên học tập kinh nghiệm hơn là bàn về những cái đã có. Nhưng lại có điều chính nhà nước gây ra mâu thuẫn là cử trí thức ra nước tư bản đào tạo thêm thì lại về nước xây dựng CNXH. Cái luẩn quẩn này nó chi phối nhiều khi chỉ biết cười thôi.

    Bài viết dài của PTH tập trung vào việc phân tích đặc tính xấu của người trí thức Việt qua các thời đại mà nổi bật nhất là tính Phò Chính Thống - chữ của PTH mô tả tâm thế theo đuôi chính quyền của trí thức Việt là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự trì trệ của xã hội Việt qua các thời kỳ. Về đại cương thì tôi đồng ý với tác giả nhưng xin được bày tỏ một số ý kiến sau.

    Phạm Thị Hoài viết:
    Bởi vì ngoài cái nghèo và lạc hậu, thì đến đầu thế kỷ 21 này xã hội Việt Nam còn là chỗ hội tụ của những dịch bệnh dường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với một nhà văn thì đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nhìn của tôi, thì sức mạnh của một xã hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định. Người ta có thể nghèo, nhưng nếu người ta có được một cảm giác an toàn nhất định, điều đó quan trọng hơn. Nếu không có cảm giác ấy thì người ta chỉ có thể miễn cưỡng sống tạm cuộc đời của mình và đương nhiên không có một động cơ nào đủ mạnh để sống tiếp cuộc đời của những thế hệ trước, sống trước cuộc đời của những thế hệ sau và sống chung cuộc đời của những kẻ cùng thời. Nói như thế thì xã hội Việt Nam là một tập hợp tạm bợ, rời rạc và hoàn toàn không hữu cơ của những cá nhân hoang mang và bất ổn.

    Về nhận định về sự bất an trong tinh thần và tâm hồn của người Việt, tôi không đồng tình với người viết. Cái mà ta cần phê phán xã hội Việt Nam hiện nay là tâm lý bình chân như vại hay có thể nói là Mackeno. Nếu bất an là tâm trạng phổ biến thì trí thức Việt đã không bình thản mà " phò chính thống ". Việt Nam ta luôn dẫn đầu về chỉ số lạc quan. Đây là gì nếu không phải là sự thể hiện tâm lý dễ thỏa mãn của dân ta.

    Phạm Thị Hoài viết:
    Bi kịch của một người như Phạm Quỳnh là bi kịch của một trí thức xuất thân hoàn toàn độc lập, có đủ mọi cơ hội và đủ uy tín để tồn tại như một tiếng nói, một uy tín tinh thần, một trọng lượng xã hội độc lập hẳn hoi, nhưng cuối cùng cũng không vượt qua nổi sự mê hoặc của quyền lực chính thống. Tất nhiên Phạm Quỳnh trở thành thượng thư Bộ Lại trong triều Nguyễn với một hy vọng là mượn những phương tiện chính trị mà hành cái đạo của mình. Thế nhưng, ông Tây học Phạm Quỳnh vậy là cũng hành động không khác gì ông Khổng Tử. Khổng Tử chẳng làm được điều gì khi còn đang tại chức. Khổng Tử chỉ có đánh xe đi bát phố, nghe nhạc và bình phẩm về đàn bà, về cái hoạ đàn bà thì đúng hơn, khi tại chức. Và Phạm Quỳnh cũng chẳng làm được gì cho cái đạo của mình trong suốt thời gian làm bộ trưởng như vậy, và Phạm Quỳnh có lẽ còn lâu mới là người trí thức Việt Nam cuối cùng vừa ghét quyền lực, vừa mong được phục vụ quyền lực như vậy.

    Phê phán cụ Phạm Quỳnh của PTH có lẽ không chính xác lắm. Những người trí thức độc lập như cụ Phạm là những người mong muốn đóng góp cho dân cho nước. Khi chính phủ đương thời mời gọi sự đóng góp trực tiếp của cụ thì lẽ nào lại không tham gia? Nếu tất cả các trí thức chỉ làm mỗi việc đối lập hay phản biện thì ai sẽ là những kẻ nắm chính quyền? Hay chúng ta chỉ nên để cho những kẻ thiếu trí tuệ nắm chính quyền để trí thức chỉ nắm quyền phản biện?

    Trên đời này ai cũng như Steve Jobs và Bill Gates thì cả thế giới không cần trường, không cần thi cử lấy bằng cấp và các ông cốp chẳng cần bỏ đô la ra cho con sang học ở các nước tư bản. Trung quốc có quan điểm cần thực lực hơn là bằng cấp, nghĩa là họ cần cái học thật hơn cái bằng giả chứ không phải họ không tính gì tới bằng cấp, không phải bỏ tất cả thi cử.

    Theo tôi nghĩ thì con người có học vẫn quý, nhưng thái độ chạy theo bằng cấp là do cơ chế hay chế độ này tạo ra, khiến người ta cố kiếm tấm bằng giả để lên chức lên quyền nhằm kiếm tiền. Vậy sự học thật với hiện tượng cố có tấm bằng giả là hai điều khác nhau. Tôi cho rằng người trí thực thụ thì biết xấu hổ khi cầm tấm bằng giả để tiến thân. Chính chế độ này đã tạo ra những kẻ vô liêm sỉ cố tình kiếm tắm bằng giả. Trước đây ta chia ra hai học vị tiến sĩ và phó tiến sĩ, thế nhưng khi cần có số lượng tiến sĩ đề khoe với thế giới thì ta đã nâng phó tiến sĩ (tương đương với thạc sĩ bây giờ) lên thành tiến sĩ. Thế là có người tự dưng sau một đêm không cần thi đã từ phó TS lên thành TS. Còn trí thức bây giờ thì có vị giáo sư đã nhận xét: HÈN.

    Khách V L N viết:
    Bài này dài dòng, lan man. Ai có thời gian thì tóm tắt lại khoảng 100 dòng xem tác giả muốn phê phán cái gì ở trí thức VN. Còn tác gải viết "Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam thực ra là một cuộc cách mạng hoàn toàn do giới trí thức lãnh đao", vậy sao lại có khẩu hiệu "trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ"? Đến bây giờ tôi cũng không hiểu người lãnh đạo cuộc CM ở nước ta là cụ Hồ thì trình độ văn hóa lớp mấy, vì cụ khai trong lý lịch kết nạp vào đệ tam quốc tế là trình độ văn hoá: "tự học" chứ không khai rõ ràng lớp nào, bằng cấp gì? Cụ Hồ có được coi là trí thức không khi không ai rõ cụ học lớp mấy? Có điều này thì rõ là cụ vận động các ông thông, ông ký, ông phán (hồi đó được coi là trí thức) rời bỏ bàn giấy mà đi kéo xe, ra khu mỏ làm cu li để vận động quần chúng nổi dậy đánh Tây. Quan điểm của cụ Phan Bội Châu thì khác, cụ PBC cho rằng muốn đi làm cách mạng thì trước hết phải học để nhìn xa trông rộng và cụ đã chứng minh bằng chính bản thân mình, cụ đỗ đạt cao và cụ đã nhìn thấy tương lai của người Nhật, cụ mới tổ chức phong trào Đông du. Nay người Nhật thế nào thì cả thế giới đều rõ và khâm phục. Thế mới biết tầm nhìn của người có học như cụ PBC thật đáng kính phục. Xem thên cuốn "Hậu Trần dật sử" của cụ Phan để biết rõ thêm quan điểm của cụ về lợi ích của học vấn.

    Với ông thì Steve Jobs và Bill Gates chả là cái đinh gì vì họ chưa tốt nghiệp ĐH chứ gì. Tôi ngờ rằng với ông thì họ chưa chắc đã phải là trí thức, vì họ chưa có bằng cấp nào cả. Người ta không cần phải điều tra xem những Jullius Cesar, Napoleon, Washington, Lincoln, Steve Jobs, Bill Gates... học lớp mấy rồi. Nhưng tôi tin mọi người đều công nhận họ có tri thức, vì vậy là trí thức, và hơn thế họ là những vĩ nhân. Vậy tại sao mấy ông VN cứ nói đến trí thức là phải hỏi ông/bà ta học đến lớp mấy rồi.

    Quay lại chủ đề chính, bà PTH nêu lên 2 đặc tính chính của trí thức VN: Tính phò chính thống và tính học trò. Tính phò chính thống thì do Khổng (Nho) Giáo, mang nặng tư tưởng lụy nhà ầm quyền bằng cách giải thích, chứng minh tính đúng đắn, tính chính thống của nhà cầm quyền. Do đó họ thiếu tính sáng tạo. Còn tính học trò thì do vừa học vừa chống nên học không đến đầu đến đũa, học nửa vời, vừa đủ để phục vụ mục đích của mình, khi nào thấy thiếu thì lại học thêm một chút, suốt đời chỉ là anh học trò. Đây cũng là một lí do nữa tại sao trí thức VN thiếu tính sáng tạo. Ngoài ra có một cái mà bà PTH chưa nêu lên là thái độ nệ bằng cấp của trí thức Việt và NV. Thái độ này dẫn tới việc mọi người chạy theo bằng cấp, suốt đời học lấy bằng để khoe chứ chẳng cần quan tâm liệu mình có công trình nghiên cứu hay sản phẩm nào để đời hay không. Để rồi đến cuối đời dù mang danh nọ bằng kia họ chả có gì để lại cho đời cả.

    Pages