Tìm phương thuốc cho cuộc khủng hoảng

  • Bởi Bien-Tap
    17/03/2009
    0 phản hồi

    David Pilling and Ralph Atkins <br/>
    Thanh Trà chuyển ngữ

    Khủng hoảng kinh tế là dịp để các quốc gia đánh giá lại và cải tiến mô hình tăng trưởng của mình. Tờ Financial Times (Anh) phân tích toàn diện ưu, nhược điểm và khả năng chống chọi với khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản châu Á và châu Âu.

    Châu Á: Lệ thuộc vào phương Tây mới chỉ là sai lầm thứ nhất

    Mặc dù rất khó để khái quát hóa nền kinh tế châu Á vốn rộng lớn và đa dạng, nhiều học giả đã đưa ra những kết luận tổng hợp về sai lầm của châu lục này.

    Các nền kinh tế châu Á bị coi là lệ thuộc quá nhiều vào vốn nước ngoài và quá ưa chuộng việc rót vốn nhà nước thông qua các ngân hàng bị kiểm soát chặt chẽ thay vì thông qua thị trường vốn hiệu quả và năng động. Nhiều quốc gia vận dụng “chủ nghĩa tư bản thân hữu” (crony capitalism) trong đó lợi ích của nhà nước và doanh nghiệp (thường theo mô hình “gia đình trị”) có quan hệ chặt chẽ với nhau. Các nhà quản lý được bảo vệ khỏi sự giám sát của cổ đông, thay vì bị buộc phải hoạt động hiệu quả vì lợi ích của cả hai phía. Các chính phủ can thiệp quá sâu vào các quyết định kinh tế, phân bổ vốn thiếu hiệu quả và cản trở các lực lượng sáng tạo của thị trường.

    Giờ đây, thời thế đã thay đổi. Các chính phủ châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Nhật, đang là những trái chủ lớn nhất của chính phủ Mỹ và Fannie Mae, Freddi Mac. Với tư cách là người cung cấp vốn cho những vụ “tiêu xài” hoang phí của Mỹ, họ hoàn toàn có thể chỉ ra những sai lầm của phương Tây. Nhiều học giả và chính trị gia châu Á bắt đầu “giảng” cho phương Tây về “chủ nghĩa tư bản sòng bạc” (casino capitalism) và mô hình tăng trưởng bong bóng tài sản dựa trên nền tảng tín dụng.

    Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cho rằng mô hình phát triển không bền vững của phương Tây có đặc điểm là tình trạng tiết kiệm ít, tiêu dùng nhiều kéo dài. Ông cũng phê phán các ngân hàng phương Tây mù quáng theo đuổi lợi nhuận và hoạt động thiếu nguyên tắc. Hiện nay, nhà nước Trung Quốc đang nắm giữ số lượng đáng kể những cổ phiếu gần như vô giá trị của các ngân hàng này.

    Tương tự, phát ngôn viên cấp cao của Đảng Bharatiya Janata Ấn Độ, miêu tả chủ nghĩa tư bản Mỹ “chẳng là gì ngoài sự buông thả”. Cựu Bộ trưởng Tài chính Nhật Eisuke Sakakibara dự báo rằng thế giới sẽ không bao giờ trở lại mô hình tiêu dùng đã gây ra cuộc sụp đổ tín dụng này. “Sau khi suy thoái qua đi, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác. Kỷ nguyên Mỹ sẽ kết thúc”.

    Không tự do hóa khu vực tài chính quá nhanh, vay mượn điều độ, đẩy mạnh tiết kiệm, quan tâm tới nền kinh tế thực, đầu tư để tăng năng suất, tập trung vào giáo dục


    Kishore Mahbubani, Hiệu trưởng Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Singapore, là một nhà tiên tri của cuộc suy thoái. Ông nhận định rằng châu Á đã học được nhiều ưu điểm của chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có niềm tin vào thị trường tự do. Nhưng sau khi phải gánh chịu cuộc khủng hoảng tài chính cuối thế kỷ 20 và những lời quở trách của IMF, châu Á đã rút ra thêm một vài bài học cho mình. Đó là: “Không tự do hóa khu vực tài chính quá nhanh, vay mượn điều độ, đẩy mạnh tiết kiệm, quan tâm tới nền kinh tế thực, đầu tư để tăng năng suất, tập trung vào giáo dục”. Ông cũng cho rằng 10 năm trước, khi Mỹ đang “mải mê” xây dựng một nền tài chính đầy bất trắc, châu Á đã chú trọng vào nền kinh tế thực.

    Thật vậy, trừ một vài trường hợp đặc biệt, các ngân hàng châu Á không được phép hành động liều lĩnh – nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của rất nhiều ngân hàng phương Tây hiện nay. Các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ luôn tăng cường tiết kiệm. Các lãnh đạo doanh nghiệp (trừ những gia đình coi công ty của mình như con lợn ống tiền) thường tránh các khoản đãi ngộ mà đã trở nên vô cùng tai tiếng ở phương Tây.

    Tuy nhiên, những sức mạnh đó cũng bộc lộ điểm yếu. Tỷ lệ tiết kiệm cao - nguồn gốc của tính điềm đạm cao quý cũng như hệ thống phúc lợi nghèo nàn - đã cản trở cầu nội địa. Và cứ có một người quản lý giỏi, lại có một người khác ném công ty xuống vực. Kể cả khi gạt hết những chuyện “vụn vặt” đó sang một bên, rất nhiều khó khăn nền tảng vẫn tồn tại trong “chủ nghĩa tư bản kiểu châu Á”.

    Thứ nhất, châu Á phụ thuộc quá nhiều vào cầu tiêu dùng ở phương Tây. Năm ngoái, nhiều người còn cho rằng châu Á sẽ có thể thoát khỏi khủng hoảng tài chính do chú trọng nền sản xuất thực, chế tạo đồ gia dụng, công cụ cơ khí và tàu biển. Nhưng chính phương Tây lại là người mua những mặt hàng đó.

    Nhật là một ví dụ điển hình. Năm nay, Nhật được dự báo là nước trì trệ nhất trong nhóm G7 với sản lượng thu hẹp tới 6%. Sự xuống dốc trầm trọng nhất kể từ Thế chiến II đã xảy ra mặc dù các ngân hàng Nhật có rất ít nợ xấu và nước này có thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai lớn.

    Thứ hai, trong khi rất nhiều người cho rằng chính phủ có thể phân bổ vốn hiệu quả hơn tư nhân, Nhật Bản lại chứng minh được “khả năng” của mình trong việc tạo bong bóng tài sản giống như Mỹ, mặc dù hệ thống ngân hàng nước này được nhà nước quản lý chặt chẽ hơn. Ở Trung Quốc, sự vụng về của nhà nước cũng quá rõ ràng. Năm ngoái, lo ngại kinh tế phát triển quá nóng, Bắc Kinh tìm cách hạ nhiệt. Kết quả là sự sụp đổ giá nhà đất và một cú sốc cho người tiêu dùng, tác động xấu tới hoạt động kinh tế trước khi hậu quả của sự sụt giảm xuất khẩu được cảm nhận. Arthur Kroeber, nhà nghiên cứu của Dragonomics ở Trung Quốc, nhận định: “Họ nghĩ mình làm đúng. Tuy nhiên, điều tiết của nhà nước cũng chẳng có tác dụng. Trung Quốc vẫn là một nền kinh tế bùng nổ và sụp đổ (boom-and-bust) của thế kỷ 19”.

    Cuối cùng, một số quốc gia châu Á như Ấn Độ có thể tránh được những tác động xấu nhất của khủng hoảng đơn giản vì đó là những nước nghèo, chưa hội nhập đầy đủ vào kinh tế toàn cầu. Việc Ấn Độ cản trở đầu tư nước ngoài, bảo hộ ngành tài chính trong nước cũng gây ra nhiều tác hại.

    Tương tự, Trung Quốc cho đến tận bây giờ vẫn chưa từ bỏ “tham vọng” làm hệ thống tài chính trở nên tinh vi hơn. Fang Xinghai, Giám đốc Sở Tài chính Thượng Hải, cho rằng mặc dù ý thức được về những cạm bẫy phía trước, Trung Quốc vẫn đẩy mạnh cải cách tài chính. Theo Stephen Roach, Chủ tịch Morgan Stanley Asia, Trung Quốc đã chạy đua với từng động thái của Mỹ: “Thành tựu ấn tượng của kinh tế Trung Quốc chính là sự hoan nghênh của nước này đối với chủ nghĩa tư bản - một mô hình phát triển xoay quanh việc chuyển quyền sở hữu nhà nước sang tay tư nhân”.

    Giờ đây, khi ở Mỹ đang diễn ra quá trình quốc hữu hóa và cứu trợ theo mô hình của một nền kinh tế điều khiển, chúng ta rất dễ đi đến kết luận rằng Mỹ đang hướng tới chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc. Tuy nhiên, trong dài hạn, cho dù chủ nghĩa tư bản phương Tây có trở nên mất uy tín như thế nào đi chăng nữa, nó vẫn khó có thể đi theo chiều hướng ngược lại hoàn toàn.

    Châu Âu: Hành động tập thể hiệu quả đến đâu?

    Lẽ ra đây là thời điểm châu Âu “lên ngôi”. Lẽ ra cuộc khủng hoảng kinh tế do chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra phải thể hiện được giá trị của những “biệt tài” của châu Âu: điều tiết thị trường tự do, thiết lập nguyên tắc và vận hành hệ thống phúc lợi hào phóng.

    Chính giới châu Âu hiểu được điều này. Khi khủng hoảng “tăng tốc” vào tháng 9 năm ngoái, TT Pháp Nicolas Sarkozy tuyên bố “khai tử chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh” và báo trước sự trở lại của một nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Trước đó vài tháng, Bộ trưởng Tài chính Đức Peer Steinbrück tự tin tuyên bố rằng nền kinh tế lớn nhất châu Âu sẽ thoát khỏi khủng hoảng bình yên vô sự, mặc dù sau đó ông nói thêm rằng “nếu trời sụp thì tất cả chúng ta đều chết”.

    Lời “tiên tri” của ông Steinbrück xem ra thật đúng. Bầu trời kinh tế đã sụp đổ thật sự, đẩy chủ nghĩa tư bản châu Âu vào một cơn ác mộng hãi hùng không kém đất nước ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Kinh tế Đức xuống dốc nhanh hơn kinh tế Anh và Mỹ. Tây Ban Nha, từng là một “cầu thủ” giỏi, giờ mắc kẹt trong suy thoái kéo dài. Bầu không khí u ám bao trùm châu lục. Nhiều người chỉ hy vọng Mỹ sẽ hồi phục và kéo cả thế giới lên.

    Chủ nghĩa tư bản châu Âu, với mục tiêu kết hợp thị trường tự do với sự điều tiết và thống nhất trên toàn xã hội, đang phải đối mặt với cuộc “xét xử” lớn nhất kể từ Thế chiến II. Câu hỏi đặt ra là liệu châu lục này có thể tránh được một sự thụt lùi và hội đủ động lực bên trong để thúc đẩy tăng trưởng hay không.

    Đối với các nhà bình luận, câu trả lời tương đối rõ ràng. Mặc dù trong những thập kỷ sau năm 1945, kinh tế châu Âu đã nỗ lực tăng tốc để đuổi kịp Mỹ, động lực tăng trưởng tự thân lại không được hội đủ. Mạng lưới an sinh xã hội có thể giúp giảm nhẹ tác động của suy thoái nhưng không thể thay đổi những yếu kém ẩn giấu bên trong.

    Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Edmund Phelps nhận định: “Nhờ có động lực mạnh mẽ, Mỹ có nhiều khả năng thoát khỏi suy thoái trong vài năm tới hơn các nước châu Âu”.

    Trước kia, châu Âu không có một mô hình kinh tế thống nhất - mà là sự hòa trộn giữa nền kinh tế thị trường tự do, ít bị điều tiết của Anh và Ireland, nền kinh tế có xu hướng bảo hộ của các nước Địa Trung Hải, và nền kinh tế Bắc Âu kết hợp các ưu điểm của vài mô hình. Nhưng từ khi liên minh tiền tệ châu Âu được thiết lập 10 năm trước, các mô hình này đã hội tụ với nhau. Sự nhất thể hóa tài chính và toàn cầu hóa đã hướng các nước theo mô hình thị trường tự do.

    Nhờ có động lực mạnh mẽ, Mỹ có nhiều khả năng thoát khỏi suy thoái trong vài năm tới hơn các nước châu Âu.


    Các bài học lịch sử gần đây chỉ ra rằng khủng hoảng là động lực của sự cải tiến. Đồng euro ra đời từ cuộc khủng hoảng ngoại hối đầu những năm 1990. Tương tự, cũng vào đầu thập kỷ 90, cuộc khủng hoảng ngân hàng tại các nước Bắc Âu đã tạo điều kiện cho Nokia tập trung vào lĩnh vực điện thoại di động, một động thái khiến hãng này trở thành một nhà vô địch trên toàn cầu. Jorma Ollila, Tổng giám đốc Nokia vào thời đó, nhớ lại: “Suy thoái sâu đã buộc chúng tôi phải tái cấu trúc cho một nền kinh tế mới sớm hơn các nước châu Âu khác. Chúng tôi phải đi tiên phong”.

    Liệu cuộc khủng hoảng hiện tại có mở đường cho một cuộc hồi sinh tương tự ở châu Âu không? Hiện vẫn chưa rõ liệu châu Âu đã tìm ra con đường vận hành nền kinh tế hiệu quả hơn các khu vực khác trên thế giới chưa. Thậm chí trước khi khủng hoảng nổ ra, hệ thống phúc lợi dồi dào đã đi kèm với tăng trưởng chậm chạp và tỷ lệ thất nghiệp cao. Trong khi đó, ở cấp độ quản lý kinh tế trên toàn Liên minh châu Âu, người ta vẫn không biết liệu cấu trúc hiện tại có thể đương đầu với các thách thức không. Các quy tắc về tài chính công của EU không cho các chính phủ hoạt động một cách linh hoạt; chính sách tiền tệ bị tách rời khỏi chính sách tài khóa - những khiếm khuyết này sẽ tiếp tục gây trở ngại khi suy thoái sâu thêm.

    Jean Pisani-Ferry, Giám đốc Viện nghiên cứu kinh tế Bruegel ở Brussels, Bỉ, nhận định: “Chúng ta có một căn nhà được xây dựng cho thời tiết đẹp, chứ không phải cho những cơn bão”. Những giá trị từng là ưu thế của châu Âu như việc phi tập trung hóa hay chú trọng ngăn chặn khủng hoảng đã nhanh chóng mất đi ánh hào quang. “Trong khủng hoảng, các nước cần hành động ngược lại: tăng cường tập trung hóa và hoạch định chính sách”.

    Paul De Grauwe, giáo sư kinh tế học tại Đại học Leuven, Bỉ, cảnh báo rằng 27 nước EU yếu kém trong việc tăng cường sức mạnh chung thông qua hành động tập thể. “Nếu mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát của chúng ta, gây ra suy thoái sâu và thất nghiệp hàng loạt, toàn bộ hệ thống sẽ gặp hiểm họa. Tôi thấy các chính trị gia ở một số nước đang kêu gọi: “Hãy thay đổi hệ thống tồi tệ này!”.

    Nhưng sức ép của việc quản lý khủng hoảng không phủ định hoàn toàn những cải cách trong những năm gần đây. Cho tới 18 tháng trước, các nền kinh tế lớn nhất châu Âu được hưởng lợi từ việc nhất thể hóa hệ thống tài chính và các nguyên tắc của thị trường vốn. Ví dụ, Đức đã kiên quyết rời bỏ mô hình “chủ nghĩa tư bản sông Rhine Đức” (Rhineland capitalism), trong đó các chiến lược kinh doanh bị tập thể các nhà quản lý, chính khách địa phương, ngân hàng và công đoàn chi phối. Việc tái cơ cấu trên diện rộng đã thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia và thiết lập những ngành xuất khẩu mạnh mẽ.

    Nhưng nhiều trở ngại vẫn còn đó. Các ngân hàng và thị trường vốn châu Âu sẽ không còn khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà sẽ phải đối mặt với sự điều tiết chặt chẽ hơn của nhà nước.

    Các doanh nghiệp nhỏ cũng khó có thể làm hồi sinh chủ nghĩa tư bản châu Âu. Sixten Korkman, nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Etla, Phần Lan, cho biết: “Nếu bạn hỏi các sinh viên ở đây ước mơ làm gì khi họ 40, 50 tuổi, chắc chắn họ sẽ không muốn trở thành doanh nhân; còn ở Pháp, ai cũng muốn làm công chức nhà nước”.

    Nhưng Korkman cũng cho rằng hệ thống phúc lợi xã hội của các nước Bắc Âu có thể đem lại những bài học hay về cách giảm thiểu sự lo âu của người lao động trong thời kỳ khủng hoảng cũng như cách tái cấu trúc nền kinh tế một cách toàn diện.

    Cuộc “tấn công” của Phần Lan vào lĩnh vực công nghệ được thực hiện nhờ mối liên kết chặt chẽ giữa các học giả, doanh nghiệp và hỗ trợ của chính phủ. Như vậy, không nhất thiết phải vứt bỏ toàn bộ mô hình kinh tế châu Âu. Ông Korkman thừa nhận: “Nokia thật sự đặc biệt. Chúng ta cần thêm những công ty như vậy”.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi