"Cuộc chiến" không cân sức giữa giới học giả Việt Nam và Trung Quốc

  • Bởi VoTrungDan
    16/03/2009
    5 phản hồi

    Đoan Trang

    Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

    Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền


    Mấy ai có dịp được như cậu nhóc này, hưởng cái khí thế hừng hực đòi chủ quyền lãnh thổ, để hun đúc tình yêu tổ quốc và ham muốn tìm hiểu về mảnh đất cha ông?

    Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.

    Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

    Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

    Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

    Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

    Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

    Trung Quốc "chiếm sóng"

    Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

    Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

    Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.


    Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.

    Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

    Việt Nam… yếu thế

    Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)...

    Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

    Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

    Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.

    Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

    Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

    TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

    Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

    Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

    Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

    So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội



    » TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

    Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

    Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.

    Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

    Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

    Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

    Chúng ta có thể làm gì?

    Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

    Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

    Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

    Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

    Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.

    Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển (Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo). Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

    Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và HS-TS từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Nhà báo Đoan Trang nhận định trên Facebook rằng bài viết này là bài viết "chống đối nhất" của chị trong năm 2009:

    Không hiểu kiếp trước mình mắc nợ ai đó cái gì, kiếp này cứ suốt ngày phải phân trần, thanh minh, giải thích, trình bày v.v. giằng dai như chó nhai giẻ rách, rằng thì là “em không tham gia đảng phái nào”. Sở dĩ Trang the Ridiculous chủ trương đứng lởn vởn ở ngoài thế, là do nhớ lời “người thầy đầu tiên” trong nghề báo dạy, anh ấy nói thế này: “Ở các nước, nhà báo thường chẳng theo đảng phái nào, để cho nó khách quan. Như ở ta thì nhà báo nên vào Đảng…” (viết hoa như thế là mọi người biết là đảng nào rồi nhá). Anh chỉ nói đến đấy rồi thở dài như tiếng còi tàu trong sương đêm… Trang the Ridiculous nghe thế, lấy làm thích chí, cũng bụng bảo dạ sẽ không theo đảng phái nào, để cho nó khách quan.

    Thế mà rồi cuối cùng cứ bị đứa nào xấu bụng bảo là có theo đảng nào đấy chống đảng nào đấy, điên tiết thế không biết!

    Để chứng minh là Trang the Ridiculous không theo, không chống, xin bốt bài báo dưới đây. Nhớ lại, sau khi bài được đăng, có người đã lật đật gọi dây nói cho Trang the Ridiculous: “Cháu ơi, sao cháu cứ đi chân không giữa bãi rác đầy thủy tinh vụn, dây thép gai thế?”. Tôi ngạc nhiên không biết là ngần nào. Đấy, viết thế này đã là chống phá lắm rồi đấy các đồng chí ạ, không có gì hơn nữa đâu mà theo với chả chống.

    (Xin phép tag một loạt học giả, diễn đàn Sách Xưa và TT Dữ liệu Hoàng Sa, nhà xuất bản... để bày tỏ sự ủng hộ với các anh chị em, các bạn).

    Phát hiện tài liệu quý liên quan đến quần đảo Hoàng Sa

    Ngày 31.3, gia đình ông Đặng Tôn - ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn - đã báo cáo với ngành văn hoá tỉnh Quảng Ngãi về một tài liệu quan trọng liên quan đến đội Hoàng Sa.

    Đó là sắc chỉ của Vua Minh Mạng phái một đội thuyền gồm 3 chiếc, với 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng tư năm Minh Mạng thứ 15 (Ất Mùi - 1835)...


    Sắc chỉ cùng con dấu của triều đình sai phái đội thuỷ quân ra Hoàng Sa.


    Sắc chỉ của triều đình Nhà Nguyễn sai phái đội thuỷ quân ra Hoàng Sa.

    Đọc cái comment của bác Bien-Tap ở trên mà tôi tỉnh người ra. Từ trước đến nay chỉ lụm đồ ngoài đường về bỏ trong nhà, chứ chưa bao giờ nghĩ đến đem đồ trong nhà ra trưng ở ngoài cho bà con chiêm ngưỡng.

    Nguyễn Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Úc)

    Cuộc chiến không cân sức giữa giới học giả VN và TQ

    Đọc bài này (“’Cuộc chiến’ không cân sức giữa giới học giả VN và TQ”) làm tôi nhớ đến câu chuyện “công bố quốc tế” mà tôi (và vài người khác) đã nêu ra từ lâu trong hoạt động khoa học ở Việt Nam. Sự thật là các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chẳng có ai chú ý, vì đại đa số đều chỉ ta nói cho ta nghe, tức là chỉ công bố trên các tạp chí tiếng Việt. Các tạp chí này đều có đặc điểm chung là chất lượng thấp. Vì chất lượng thấp, nên chẳng ai quan tâm. Vì chẳng ai quan tâm, nên những vấn đề của Việt Nam chẳng ai biết đến. Và, thế là chúng ta thua thiệt dài dài ...

    Cái khó khăn là Việt Nam không có những nhà nghiên cứu chịu công bố những lí luận và nghiên cứu của họ một cách nghiêm chỉnh trên các tạp chí quốc tế. Trong mấy mươi năm qua, con số bài báo khoa học về xã hội học từ VN chỉ đếm đầu ngón tay. Mới đây, có vài bài từ một số nhà nghiên cứu trẻ từ Việt Nam, nhưng họ viết theo quan điểm của ... Mĩ. Chúng ta chỉ giỏi Mẹ hát con khen hay, giỏi “nói với nhau”, mà không nói cho người ngoài nghe. Trên báo chí và truyền thông đại chúng, các nhà khoa học ta nói rất nhiều và có khi cũng rất hay, nhưng khi xem xét lại họ có công bố gì trên các tập san quốc tế hay không thì con số gần như là zero. Họ rất nổi tiếng ở nhà, nhưng vô danh ở ngoài. Chẳng biết tình trạng này có phù hợp với câu “khôn nhà dại chợ” không?

    Chẳng hạn như chuyện chất độc da cam, ảnh hưởng lớn như thế và nghiêm trọng như thế, mà suốt mấy mươi năm trời chỉ có 4 bài báo khoa học từ Việt Nam, và tất cả 4 bài đều do người Mĩ đứng tác giả đầu! Các nhà khoa học Việt Nam nói oang oang là họ có nghiên cứu, nhưng hỏi công bố ở đâu thì họ chỉ mấy tạp chí ở Việt Nam! Do đó, khi ra tòa, thì tòa chỉ đơn giản tuyên bố “không có bằng chứng”, và thế là vụ kiện thất bại. Hết thất bại này đến thất bại khác. Thất bại không phải vì chúng ta không có chính lí, mà là không có bằng chứng khoa học. Báo chí Việt Nam đăng rất nhiều bài phóng sự đầy cảm tính (đó là nghề của giới báo chí), đưa ra những hình ảnh (chẳng dính dáng gì đến chất độc da cam), thì làm sao thuyết phục được dư luận quốc tế?

    Rồi đến chuyện tranh chấp với TQ về vụ Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta cũng chỉ nói cho chúng ta nghe, chứ tài liệu khoa học về chuyện này trên quan điểm Việt Nam trên trường quốc tế thì rất hiếm. Các nhà-gọi-là nghiên cứu xã hội học của Việt Nam thật ra chẳng có tiếng vang gì trên thế giới, vì họ chỉ nói cho người mình nghe. Do đó, nếu một ngày nào đó, chúng ta ra tòa quốc tế với “bọn” TQ, chúng ta ở thế yếu (cũng y chang như vụ chất độc da cam). Hô hào “Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam” có thể làm cho chúng ta cảm thấy có “hào khí”, nhưng không thể thuyết phục được ai. Chúng ta cần lí lẽ chính đáng, cần dữ liệu khoa học, cần dữ liệu lịch sử. Chúng ta có tất cả những dữ liệu đó, nhưng hình như chưa ai “xử lí” dữ liệu một cách có hệ thống và công bố cho dư luận quốc tế biết.

    Bài này nói "Việt Nam yếu thế", nhưng tôi nghĩ không hẳn vậy. Cần phân biệt giữa chất lượng và số lượng. TQ có thể có nhiều học giả lên tiếng trên trường quốc tế, nhưng lí lẽ của họ có thể chẳng có chất lượng gì. Do đó, chúng ta cần biện luận với chất lượng cao. Trong khoa học, một bài báo có chất lượng cao trên một tạp chí có uy tín có giá trị gấp trăm lần bài báo xoàng trên các tạp chí dỏm.

    Chúng ta cần một thế hệ nghiên cứu xã hội học mới giúp cho Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế và có tiếng nói trên trường quốc tế về những tranh chấp giữa nước ta và nước khác.

    Cảm ơn bác Tuấn Anh đã post bài này. Tôi nghĩ rằng việc học giả Việt Nam thua thiệt so với học giả Trung Quốc trong lĩnh vực nghiên cứu và công bố các nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa phản ánh chính sách sai lầm của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề này.

    Trước kia, có lẽ quá "nể nang" (hay phụ thuộc) ông anh Trung Quốc, các vị lãnh đạo thường lẩn tránh, không động đến vấn đề chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa; trong khi Trung Quốc thì ngược lại, khuyến khích các học giả của họ tìm hiểu và đưa ra các dẫn chứng có lợi cho họ. Một bên im lặng để một bên lấn tới thì làm sao "cuộc chiến" chẳng hóa ra không cân sức.

    Rất hi vọng rằng động thái cứng rắn gần đây của chính phủ Việt Nam (tố cáo Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ) là dấu hiệu chứng tỏ Đảng và Nhà nước không còn lẩn tránh nữa. Mong rằng sẽ có những cuộc kêu gọi tìm hiểu, nghiên cứu về Trương Sa - Hoàng Sa hoành tráng trên các báo, ít nhất là tương đương với cuộc kêu gọi bỏ phiếu cho các kỳ quan Việt Nam ở trang New 7 Wonder!