Chọc giận mãnh long

  • Bởi tqvn2004
    14/03/2009
    0 phản hồi

    Mark Valencia (11/03/2009)

    Vụ "quấy rối" tàu do thám quân sự Impeccable của Hải Quân Mỹ đang hoạt động tại Đặc Khu Kinh Tế (EEZ) của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là đỉnh của tảng băng, một phần nhỏ trong số những khác biệt về quan điểm luật biển giữa Trung Quốc và Mỹ. Thực tế, đây không phải là sự kiện đầu tiên, và nếu hai bên không thống nhất được một thỏa hiệp, thì chắc chắn đây cũng không phải là sự kiện cuối cùng.

    Dù gì đi nữa, vấn đề thực sự phía sau [vụ việc này] là sự mở rộng hải quân đại dương của Trung Quốc, và căn cứ hải quân quan trọng của nó ở Hải Nam. Rõ ràng nó muốn bảo vệ "bí mật" trong khu vực, bao gồm cả các hoạt động và khả năng của đội tàu ngầm của mình, cùng với địa hình đáy biển Đông. Và cùng một mục đích, Mỹ muốn tìm hiểu càng nhiều càng tốt về khả năng của tàu ngầm Trung Quốc, và địa hình khu vực mà có thể trong tương lai nó sẽ phải hải chiến. Do đó, những vụ việc thế này sẽ còn xảy ra, và trở nên nguy hiểm hơn, và chúng không chỉ giới hạn quanh Mỹ và Trung Quốc mà thôi.

    Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982 (UNCLOS82), hoạt động nghiên cứu khoa học tại đặc khu kinh tế của quốc gia khác chỉ có thể được thực hiện với sự đồng ý của quốc gia sở hữu vùng đặc khu đó. Đó là bởi vì các hoạt động nghiên cứu đó có liên quan trực tiếp tới thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các nguồn lực có và không có sự sống của quốc gia sở hữu đặc khu. Và cũng chỉ các nghiên cứu vì mục đích hoà bình là được phép. Trung Quốc đã thông qua Công Ước nói trên. Mỹ chưa thông qua, mặc dù nó vẫn thừa nhận rằng một phần lớn Công Ước là thông luật (customary law) có tính ràng buộc [nghĩa là Mỹ tuân thủ phần lớn của Công ước, dù chưa thông qua].

    Trung Quốc cho rằng việc Mỹ đang làm là thuộc quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học biển trong Công Ước, và nó chưa bao giờ cho phép Mỹ thực hiện các hoạt động này. Tuy nhiên, phía Mỹ phân biệt giữa hoạt động nghiên cứu khoa học biển - cái này cần sự đồng ý của chủ nhà - và các thăm dò quân sự và thủy văn học, loại hoạt động được đề cập riêng biệt trong Công Ước. Phía Mỹ cho rằng loại hoạt động sau - thăm dò quân sự và thủy văn học - không cần có sự đồng ý, và rằng họ chỉ thực hiện quyền tự do đi lại trên biển và "các cách sử dụng biển hợp với pháp luật quốc tế" được bảo vệ bởi Công Ước.

    Những người không tán đồng quan điểm này của Mỹ đã chỉ ra rằng, việc thu thật dữ liệu, ngay cả khi chỉ nhằm mục đích quân sự, cũng có thể vô tình hoặc hữu ý tiết lộ những thông tin về nguồn lực biển [khoáng sản, tôm cá v.v...] trong khu vực. Họ cũng cho rằng một quốc gia chưa thông qua Công Ứớc thì không đủ độ tin cậy để diễn giải Công ước theo hướng có lợi cho mình.

    Nhiệm vụ của tàu Impeccable là sử dụng các giàn thu siêu âm tần số thấp, cả tích cực [cả phát và thu] lẫn thụ động [chỉ thu], để phát hiện và theo dõi các mối đe dọa dưới đáy biển. Trung Quốc cho rằng việc thu thập thông tin như thế là "sự chuẩn bị cho chiến trường", và như thế là mối đe dọa về sử dụng vũ lưc -- là sự vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc (U.N. Charter) và rõ ràng không phải là cách sử dụng đại dương một cách hòa bình như yêu cầu của Công ước. Phía Mỹ cãi rằng việc thu thập dữ liệu của mình chỉ nhằm phòng vệ và không phải là mối đe dọa sử dụng vũ lực.

    Về vụ đối đầu, Trung Quốc nói rằng tàu của họ không có ý định gây hấn với tàu Impeccable, mà chỉ tìm cách ngăn cản nó không tiếp tục vi phạm, theo Trung Quốc, là cả luật quốc tế lẫn luật Trung Quốc, và buộc nó rời khu vực. Phía Mỹ cho rằng theo Công Ước, Trung Quốc phải "tôn trọng đúng mức" quyền hoạt động và di chuyển của Mỹ, và việc "gây hấn" với tàu của Mỹ -- đặc biệt là một tàu hải quân có quyền miễn tố (sovereign immunity) -- là vi phạm nguyên tắc "tôn trọng đúng mức" nói trên.


    Giàn phát và thu siêu âm trên tàu Impeccable cho phép nó phát hiện và theo dõi các tàu ngầm dưới đáy biển.

    Sự phân biệt giữa các loại hoạt động thăm dò và nghiên cứu khoa học biển khác nhau không chỉ nằm ở mục đích và dự tính của việc thu thập số liệu. Những giá trị và độ sử dụng tiềm năng về kinh tế của số liệu đối với quốc gia sở hữu đặc khu cũng cần được tính đến, và sẽ khó có thể tranh cãi rằng số liệu thủy văn học và quân sự thu thập ngày hôm nay lại không có giá trị trong tương lai. Một yếu tố để nước chủ nhà xét xem có nên đồng ý hoạt động như vậy hay không là mục đích của hoạt động và sự hợp lý so với mục đích đó của dữ liệu cần thu thập.

    Dù gì đi nữa, vấn đề thực sự phía sau [vụ việc này] là sự mở rộng hải quân đại dương của Trung Quốc, và căn cứ hải quân quan trọng của nó ở Hải Nam. Rõ ràng nó muốn bảo vệ "bí mật" trong khu vực, bao gồm cả các hoạt động và khả năng của đội tàu ngầm của mình, cùng với địa hình đáy biển Đông. Và cùng một mục đích, Mỹ muốn tìm hiểu càng nhiều càng tốt về khả năng của tàu ngầm Trung Quốc, và địa hình khu vực mà có thể trong tương lai nó sẽ phải hải chiến. Do đó, những vụ việc thế này sẽ còn xảy ra, và trở nên nguy hiểm hơn, và chúng không chỉ giới hạn quanh Mỹ và Trung Quốc mà thôi.

    Quả thực là các hoạt động thu thập tình báo và quân sự tại vùng đặc khu kinh tế sẽ ngày càng trở thành vấn đề gây tranh cãi và nguy hiểm. Ở Châu Á, triển vọng đáng lo ngại này phản ánh nhu cầu đang thay đổi, có xu hướng ngày càng tăng lên, về thông tin tình báo kỹ thuật; các chương trình tích lũy vũ khí mạnh mẽ của các quốc gia ven biển, đặc biệt là tăng cường khả năng tác chiến điện tử; và sự phát triển rộng rãi của khả năng tác chiến thông tin.

    Thêm vào đó, quy mô và phạm vi của các hoạt động thu thập thông tin tình báo trên không và dưới biển của Mỹ có xu hướng mở rộng trong vòng một thập niên tới, liên quan tới các mức độ và loại hình hoạt động mà chúng ta chưa từng chứng kiến trong thời bình. Các hoạt động này sẽ không chỉ tăng cường độ, chúng còn tăng cả tính xâm phạm. Chúng sẽ tạo ra những căng thẳng và nhiều cuộc khủng hoảng thường xuyên hơn; chúng sẽ tạo ra những phản ứng phòng vệ và động lực cho sự leo thang; chúng sẽ làm giảm sự ổn định trong phần lớn các khu vực bị ảnh hưởng, đặc biệt là Châu Á.

    Vì Mỹ không thông qua Công ước, vấn đề nói trên không thể được giải quyết bằng Tòa án Quốc tế về Luật Biển. Do đó, những tranh chấp này có lẽ sẽ được giải quyết thông qua một tiến trình không có trình tự và lộn xộn, khi mỗi quốc gia đưa ra và bảo vệ quan điểm của mình qua kinh nghiệm riêng, theo sau là các phản ứng từ các quốc gia bị chọc giận, và cuối cùng là thỏa hiệp qua con đường đàm phán ngoại giao. Trước sau gì thì một sự đồng thuận cũng xuất hiện từ tiến trình nó trên. Nhưng trước khi có sự đồng thuận thì nhiều thủy thủ, phi công, ngư dân có thể đã hi sinh, và quan hệ giữa các quốc gia đó có thể trở nên căng thẳng, khi hai bên kiêm quyết giữ lập trường riêng của mình, tạo ra các vụ va chạm mang tính bạo lực.

    Một giải pháp ít đối đầu hơn có lẽ là tăng cường đối thoại, và các nỗ lực hợp tác giữa các quốc gia có liên quan, để đạt được sự đồng thuận và thỏa hiệp giữa các bên. Mục tiêu của cuộc đối thoại này có thể là phát triển các hướng dẫn chung mà cả hai bên tình nguyện tuân thủ về các hoạt động thu thập tình báo và quân đội tại đặc khu kinh tế (EEZ) nước ngoài.

    Mark Valencia là thành viên [nghiên cứu] cao cấp đang làm việc tại Maritime Institute của Malaysia, với tư cách khách viếng thăm.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi