Ngòi bút nhỏ máu của Svetlana Alexievitch (Phần 2): "Những quan tài kẽm"

  • Bởi Bien-Tap
    09/03/2009
    0 phản hồi

    Bảo Thạch

    Trong tác phẩm ''Những quan tài kẽm'', xuất bản năm 1990, Svetlana Alexievitch đã tập hợp lời tường thuật của hàng trăm chứng nhân gồm cựu chiến binh Afghanistan và những người thân của họ. Nhà văn đã đan chéo số phận của họ, qua đó đã phác họa quy mô tấn bi kịch tập thể mà cả người đã chết lẫn người sống sót vẫn dò tìm ý nghĩa.

    Sự can thiệp của Matxcơva vào Afghanistan kéo dài 10 năm, đánh dấu cuộc phiêu lưu quân sự cuối cùng của đế chế Xô Viết. Sau Budapest 1956, Praha 1968, người lính Xô Viết đã ồ ạt tràn sang Kaboul từ 1979 đến 1989 để hòan thành việc mà họ lầm tưởng là “ nghĩa vụ quốc tế ”. Tuy vậy theo lời thổ lộ của một cưụ chiến binh trong tác phẩm Những quan tài kẽm thì: “cuộc chiến này cũng như cuộc sống của chúng ta ở Liên Xô nó chẳng liên quan gì đến với những điều người ta đã ghi chép qua sách vở”.

    Afghanistan, một cuộc chiến tranh ô nhục và gớm ghiếc

    Chạm trán với cuộc chiến Afghanistan, người lính Xô Viết đã mau chóng tỉnh ngộ. Di hài hàng chục ngàn thanh niên đã hồi hương trong những bộ quan tài kẽm. Huyền thoại của giải phóng quân Xô Viết dần dà sụp đổ, thay vào đó người dân Nga khám phá thấy bộ mặt gớm ghiếc của một cuộc chiến tranh ô nhục, để rồi đến năm 1989, Liên Xô buộc phải rút hết quân về nước.

    Trong tác phẩm Những quan tài kẽm xuất bản năm 1990, Svetlana Alexievitch đã tập hợp lời tường thuật của hàng trăm chứng nhân gồm cựu chiến binh Afghanistan và những người thân của họ. Nhà văn đã đan chéo số phận của họ, qua đó đã phác họa quy mô tấn bi kịch tập thể mà cả người đã chết lẫn người sống sót vẫn dò tìm ý nghĩa.

    Có người lính trẻ vẫn không hiểu vì sao nhà nước đã cưỡng ép tân binh sang thẳng Afgnistan mà không cho họ biết trước. Có nữ y tá bàng hòang nhận thấy chiến trường thiếu thốn đủ mọi thứ, đến cả lọai thuốc sát trùng gọi là thuốc đỏ cũng không có nốt. Có những bà mẹ thú nhận đứa con ngoan của họ từ Afghanistan trở về đã biến thành loài thú khát máu đồng lọai. Có nữ nhân viên hành chính thản nhiên thú nhận phụ nữ Nga sang Afghanistan để phục vụ tình dục cho đạo quân viễn chinh đổi lại lấy đồng tiền. Theo lời phụ nữ này, đó mới chính là “nghĩa vụ quốc tế”. Còn một cựu chiến binh nhận xét rằng : “Chiến tranh không làm cho người ta cao đẹp hơn, trái lại nó làm cho con người hèn mọn đi. Tôi chẳng còn có thể sống như trước nữa khi đã chứng kiến trong cùng một chuyến, bên cạnh những quan tài kẽm, người ta đã chở những vali đầy ắp áo lông, quần bò, quần lót cho phụ nữ và những gói trà Tàu đến từ Trung Quốc”.

    Đau khổ nhất đối với gia đình những người đã khuất là phải chấp nhận tính chất phi nhân của cuộc chiến này. Phải chịu đựng người khác nói rằng hy sinh mất mát của họ hoàn toàn vô nghĩa. Đó là trường hợp sau đây của một góa phụ tên Tamara:

    Em đã nhận được bức thư của chồng em. Anh ấy viết em đừng lo lắng nhé. Nếu không nhận được thư anh, em cứ viết thư về địa chỉ cũ. Thế rồi em bặt tin chồng trong vòng hai tháng. Em không thể hình dung là anh ấy đang ở Afghanistan. Trong thư, anh không nói cho em biết anh đang đánh trận. Trước khi lên đường ra trận, chồng em không bao giờ chơi đùa với đứa con gái. Anh không biết thế nào là tình cha con, có thể vì lúc ấy đứa bé vẫn còn nhỏ. Nhưng sau này khi về nghỉ phép, anh ấy ngồi hàng giờ nhìn con bé với ánh mắt buồn da diết khiến em phải sợ hãi. Buổi sáng anh dẫn con đến trường mẫu giáo, anh thích cõng nó trên vai, buổi chiều anh đến đón nó về.

    Chúng em có đi coi xi nê, đi xem hát nhưng anh ấy thích ở nhà hơn. Chồng em cũng khát khao thèm muốn chuyện chăn gối hơn trước. Anh ấy cho là chúng em phung phí thời gian bên nhau. Một khi em phải đi làm hay chuẩn bị bữa ăn, anh ấy nói :

    - Em hãy ở bên anh thêm một tý nữa, hôm nay chúng mình không cần phải ăn món thịt viên. Lúc này anh được về thăm nhà, em hãy xin cơ quan nghỉ phép nhé”.

    Đến khi phải trở về đơn vị, chồng em cố ý đi trễ chuyến bay. Thế là chúng em được ở bên nhau thêm hai ngày nữa. Đêm cuối cùng bên nhau chúng em hạnh phúc biết bao đến nỗi em bật khóc. Em khóc trong khi anh vẫn lặng thinh nhìn em rồi chợt nói:

    - Tamara này, một ngày nào đó em đi lấy chồng khác, em cũng đừng quên giây phút này nhé!

    Em thốt lên :

    - Anh điên rồi ư ? Không, không bao giờ anh chết cả. Em yêu anh vô cùng, tình yêu của em sẽ che chở cho anh.

    Chồng em bỗng bật cười. Em đã biết đợi chờ, thế nhưng khi trông thấy một chiếc xe tang bít bùng, em lại cảm thấy lòng mình quặn đau. Em chỉ muốn hét lên thật to và nước mắt chỉ chực tuôn trào, thế rồi em vội vã chạy về nhà, quỳ trước ảnh chúa và cầu khẩn : “Xin ngài hãy cứu lấy chồng con, xin Ngài hãy cứu anh ấy”.

    Có một hôm đi coi xi-nê, em theo dõi cuốn phim mà mắt lại chẳng trông thấy gì cả. Lòng em tràn ngập một nỗi lo khó hiểu, tựa hồ như đang có người chờ em ở đâu đó, như thể em phải đi đến một nơi nào đó. Khó khăn lắm em mới ráng ngồi lại cho hết buổi chiếu. Có lẽ lúc em đang xem phim cũng là lúc chồng em đang đánh trận. Suốt một tuần em không hề hay biết những gì đang xảy ra ở Afghanistan, tuy vậy em nhận được hai lá thư của chồng em. Thường thì trước đây, cứ mỗi lần nhận được thư là lòng em vui rộn rã, em đặt môi hôn lên bức thư, thế mà lần này em nổi giận và tự hỏi mình còn phải đợi anh ấy bao lâu nữa.

    Đến ngày thứ 9 lúc 5 giờ sáng. Em nhận được bức điện tín, người ta bỏ nó qua khe cửa. Đấy là bức điện tín của bố mẹ chồng em viết rằng : “Đến ngay đi Pechia đã mất”. Đọc xong hàng chữ này, bất giác em thét lên một tiếng. Nghe tiếng la, con gái em thức giấc. Em phải làm gì bây giờ, em phải đi đâu bây giờ, em không có tiền. Em nhớ là em cuốn con em vào tấm mền nhỏ rồi bế con ra khỏi nhà. Khi đó trời hãy còn sớm nên xe bus chưa chạy. Em vẫy một chiếc taxi và bảo tài xế :

    - Ông chở tôi ra phi trường.

    - Không được tôi phải mang xe về gara.

    Nói xong người tài xế đóng cửa xe lại. Em nói :

    - Nhưng chồng tôi đã tử trận ở Afghanistan !

    Thế là không nói một lời, người tài xế bước xuống và đỡ mẹ con em lên xe. Em phải ghé qua nhà một người bạn trước để mượn tiền. Ra đến phi trường, đã hết vé đi Maxcơva, nhưng em không muốn đưa bức điện tín cho nhân viên bán vé xem. Em sợ là người ta đã báo tin nhầm. Bởi vì nếu như em cứ tiếp tục tin là chồng em còn sống, thì biết đâu anh ấy lại chẳng bình an vô sự. Em òa khóc và mọi người đều nhìn em. Cuối cùng các nhân viên phi trường cũng đã cho em lên một chiếc máy bay nhỏ cũ kỹ để đi đến Maxcơva.

    Đêm hôm sau em đến Minsk. Tại đây không một tài xế taxi nào muốn chở em về nhà bố mẹ chồng em bởi vì đường đi quá xa xôi, bố mẹ chồng em ở cách đó 150 km. Em nài nỉ, cuối cùng một tài xế taxi đã ưng thuận, ông nói :

    - Đưa tôi 50 rúp tôi sẽ chở cô đi. Hai tiếng đồng hồ sau em về đến nhà bố mẹ chồng. Tại đây tất cả mọi người đều khóc. Em nói có thể người ta đã báo tin lầm.

    - Không đâu Tamara ạ, đúng là Pechia đã mất.

    Sáng hôm sau cả nhà cùng đến văn phòng tuyển quân. Ở đó người ta trả lời chúng em vắn tắt theo kiểu nhà binh : “khi nào xác anh ấy được mang về đây chúng tôi sẽ thông báo cho thân nhân”. Cả nhà phải đợi thêm hai ngày nữa. Sau đó gia đình nhà chồng em điện thọai đến văn phòng tuyển quân của Minsk và nhận được câu trả lời hãy đến nhận xác anh ấy. Thế là cả nhà lại ra đi. Nhưng khi đến nơi, người ta lại bảo do có sự nhầm lẫn nên xác đã được mang đến Paranovitchi rồi. Paranovitchi ở cách Minsk đến 100 km mà chiếc xe chở cả nhà em lại không đủ xăng. Cuối cùng rồi chúng em cũng đến được Paranovitchi. Lúc ấy chẳng còn nhân viên nào ở phi trường cả bởi vì đã hết giờ làm việc, chỉ còn một nhân viên bảo vệ đứng ở chốt canh. Ông ta chỉ tay và nói :

    - Ở đằng kia có một cái hòm, cứ đến xem đã. Nếu đúng là thân nhân của cô thì cô cứ việc mang về.

    Qủa thực trên đường băng của phi trường có một chiếc hòm bẩn trên đó có ghi hàng chữ bằng phấn “Trung úy Dopna”. Em đến giật miếng ván đậy hòm ra. Đúng là chồng em đây, gương mặt anh ấy còn nguyên vẹn nhưng bẩn và râu ria lởm chởm. Mùi tử khí bốc lên từ cái quan tài quá chật hẹp so với thân hình anh, vì vậy em không thể nào cúi xuống hôn anh. Người ta đã trả xác chồng em về như thế đó. Em đã quỳ xuống bên cạnh mảnh hình hài mà em yêu thương nhất trên đời.

    Quan tài của chồng em là quan tài đầu tiên được đưa về làng Grazin thuộc huyện Starie Doroghi, một huyện của vùng Minsk. Quan tài của chồng em đã được hạ huyệt, nhưng khi những chiếc dây cu-roa vừa được kéo lên thì một cơn giông dữ dội kéo đến. Mưa đá đổ ập xuống những cây tử đinh hương đang mùa ra hoa. Những hạt mưa đá kêu sột sọat dưới bước chân người đi, tựa như người ta dẫm lên đá cuội trắng. Đất trời như phản đối cái chết của chồng em.

    Em không thể nào rời khỏi ngôi nhà anh ấy bởi vì linh hồn anh hiện hữu nơi này. Bố anh tựa hồ như người điên, ông hét lên : “một thằng như Pechia mà chúng nó lại đem vào chỗ chết, chính chúng nó đã giết con tô ”. Mẹ anh và em cố giải thích với ông rằng Pechia đã được tặng huânn chương, rằng nước Nga cần đến Afghanistan vì nước Nga phải bảo vệ vùng biên giới phía nam. Nhưng ông bỏ ngoài tai những lời giải thích và lớn giọng chửi : “Bọn khốn nạn”.

    Sau khi chôn cất chồng xong, em phải sống qua một thời kỳ khủng khiếp. Nhưng điều khủng khiếp nhất là em phải làm quen với cái ý tưởng : mình không nên chờ đợi nữa, mình không còn ai để đợi chờ nữa. Phải mất một thời gian dài em mới hiểu ra rằng, từ nay em chỉ còn một mình trên đời với Oleska, con gái em. Em chẳng thiết gì đến lễ lạc, tiệc tùng nữa, em cũng không còn lui tới thăm viếng bạn bè nữa. Trong em chỉ còn lại kỷ niệm, những kỷ niệm đẹp nhất. Nhiều năm liền, trong cơn mơ em vẫn thấy lại buổi đầu gặp gỡ. Anh ấy vĩnh viễn ra đi đã được tám năm, vậy mà em vẫn thường chiêm bao thấy anh, trong mơ em luôn van xin anh hãy cưới em một lần nữa. Nhưng lần nào cũng vậy anh xua đuổi em và bảo : “Không, không !”.

    Em vẫn nuối tiếc anh ấy, không phải vì anh ấy chỉ là chồng em, mà anh ấy còn là một người đàn ông thật tuyệt vời, một thân hình cao lớn lực lưỡng.Em tiếc là không có với anh ấy một đứa con trai. Em trở thành thiếu phụ khi mới hai mươi bốn tuổi.

    Một tháng đầu sau khi anh ấy mất, em nghĩ là mình có thể ưng thuận bất cứ một người đàn ông nào. Lúc đấy em điên mất rồi, em không biết phải bám víu vào đâu. Quanh em cuộc sống vẫn cứ tiếp tục như trước, người thì xây nhà nghỉ mát hay sắm xe, kẻ thì dọn đến căn hộ mới, cần sắm thảm hay gạch hồng lát bếp... Cuộc sống bình thường của những người quanh em luôn nhắc cho em rằng cuộc sống của chính bản thân mình không bình thường chút nào.

    Vào thời Đệ nhị thế chiến, tất cả mọi người đều sống trong bất hạnh, cả đất nước sống trong khổ đau, ai cũng mất đi một người thân và mọi người đều biết rõ vì sao. Thời ấy tất cả phụ nữ đều đồng lọat cất lên tiếng than ai oán. Ngày nay trong trường dạy nấu ăn, nơi em làm việc, có một trăm nữ nhân viên. Em là người duy nhất có chồng bỏ mình trong một cuộc chiến mà những người khác chỉ được biết đến qua báo chí. Lần đầu tiên trên truyền hình, khi nghe thấy người ta giải thích chiến tranh Afghanistan là một cuộc chiến ô nhục thì xuýt nữa em đã đạp vỡ tivi rồi. Hôm ấy em có cảm tưởng là chồng em đã chết đi lần thứ hai.

    Svetlana Alexievitch viết : “Người Xô Viết chịu số phận của một con bươm bướm bị sa vào đống vữa bê tông do đó người Xô Viết bị vướng mắc trong vòng luẩn quẩn của những suy nghĩ và hành vi xơ cứng. Với chiến tranh Afghanistan, chất bê tông này bắt đầu rạn nứt”.

    Thật vậy hai năm sau khi Maxcơva triệt thóai quân đội khỏi Afghanistan, một năm sau khi tác phẩm ''Những quan tài kẽm'' được xuất bản, Liên Xô không còn nữa. Thế nhưng hậu quả của những “lời nói dối tuyệt vời”, dư chấn của những thảm họa vùi lấp quá lâu trong ký ức, vẫn để lại trong tâm hồn Nga nhiều vết thương không lành.

    Sau tác phẩm Những quan tài kẽm, Svetlana Alexievitch đã tiếp tục lục sóat những điều ẩn giấu trong sâu thẳm đáy lòng người Nga. Với tập sách Những kẻ bị mê hoặc vào cõi chết – 1995Cuộc điều tra về Tchernobyl, chứng từ thế giới sau ngày tận thế - 1997, sự nghiệp văn học của Svetlana Alexievitch có thể được xem là cố gắng phi thường của một ngòi bút nhỏ máu để đối chiếu tâm hồn Nga với những bộ mặt khác nhau của cái ác đã xuất hiện trong cuộc sống người Xô Viết ở thế kỷ 20.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi