Hồ sơ CIA 1979: Tranh chấp biên giới Việt-Trung (Kỳ 3)

  • Bởi tqvn2004
    06/03/2009
    0 phản hồi

    Vũ Quý Hạo Nhiên

    II. Bất đồng về nạn kiều gia tăng thành bất đồng về lãnh thổ

    Trận chiến vũ trang đầu tiên năm 1978 là kết quả trực tiếp của việc người Hoa, hốt hoảng và bị ngược đãi, bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vào Trung Quốc. Khi những nhóm người tỵ nạn đang muốn vượt biên giới, họ bị lực lượng an ninh Việt Nam đuổi theo. Phía Việt Nam bị biên phòng Trung Quốc nổ súng bắn ngày 3 tháng 2, 1978 (gần Đồng Văn, tỉnh Hà Tuyên [tỉnh cũ, gồm Hà Giang và Tuyên Quang gộp lại]) và ngày 15 tháng 2 (gần Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh); 30 người Việt Nam bị giết. ################# Sau khi Việt Nam ra quyết định “xã hội hóa” vào tháng 3, 1978, người Hoa bắt đầu băng qua biên giới vào miền nam Trung Quốc với số đông rất lớn và không xử lý nổi, và tới ngày 12 tháng 7, Trung Quốc bất ngờ thay đổi chính sách và từ chối không nhận người nạn kiều nữa. Bắc Kinh che giấu chính sách gần như bế môn này bằng cách đòi hỏi người nạn kiều phải có giấy tờ do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp và có giấy xuất cảnh của Việt Nam. Hơn nữa, Trung Quốc lại muốn giấy tờ nói rõ là người nạn kiều đã bị “đàn áp” tại Việt Nam. Chính sách ngăn chặn này tạo tình trạng đối đầu căng thẳng tại các trại tỵ nạn bên phần đất Việt Nam ở biên giới ở ba cửa khẩu do Bắc Kinh chỉ định.###

    Phía Việt Nam không kiềm chế như phía Trung Quốc. Họ ép người nạn kiều phải băng biên giới vào Trung Quốc bất kể nguy cơ giao tranh vũ tranh, và sau đó tấn công các viên chức Trung Quốc. Chính sách Trung Quốc thời đó dường như là chỉ dùng người không vũ khí và không quân phục để đối đầu với nhân sự vũ trang của Việt Nam, giữ biên phòng vũ trang ở xa những điểm này. Tường trình của phía Việt Nam về những vụ đụng độ nhẹ hôm 1 và 8 tháng 8 ở hai cửa khẩu cho thấy biên phòng vũ trang Việt Nam được dùng chống lại viên chức dân sự Trung Quốc.###

    Tường trình của phía Trung Quốc về một vụ nghiêm trọng hơn vào ngày 25 tháng 8, mặc dù viết theo lối có lợi cho họ, trình bày một cách đáng tin rằng lính Việt Nam có vũ trang đã đối đầu với viên chức Trung Quốc không vũ khí. Sự việc xảy ra tại cửa ải Hữu Nghị Quan ở biên giới giữa Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, và Pingxiang [Bằng Tường] tỉnh Quảng Tây. Bộ đội và công an Việt Nam tràn vào trại tỵ nạn phía bên Việt Nam, đánh và đâm vào người Hoa trong trại, ép hơn 2,500 người phải băng qua bên kia biên giới. Sau khi trục xuất người nạn kiều, lính Việt Nam đánh chín “nhân công không vũ khí bảo vệ biên giới” ở phần đất Trung Quốc của cửa ải, nhưng “tuân thủ nghiêm ngặt chỉ thị của cấp trên, nhân sự phía Trung Quốc không đánh trả mà chỉ phản đối mạnh mẽ bằng lời.” Tường trình của phía Hà Nội nói tới quân lính Trung Quốc “mặc thường phục” và công nhận rằng người Việt Nam liên quan trong vụ này là “bộ đội.”###

    Mặc dù phía Trung Quốc vào tháng 8 có vẻ chỉ dùng nhân sự không vũ trang tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan và rất có thể là tại hai cửa khẩu còn lại, ở những chỗ khác dọc biên giới họ tiếp tục dùng biên phòng vũ trang để tuần tra. Đã có đụng độ giữa biên phòng hai nước, kể cả “cãi cọ và ẩu đả” giành lãnh thổ ######### điều này trở thành tập quán trong hơn một năm. Nhưng đây là những sự kiện không nổ súng. Vào tháng 8 không có thiệt mạng vì súng đạn. Vào tháng 9 chỉ có một vụ bắn nhau khi thủy thủ một tàu Trung Quốc giết chết một ngư dân Việt Nam trong vùng biển tranh chấp. Giao tranh vũ trang đã không diễn ra tại biên giới cho tới tháng 10.###

    Sự việc ngày 25 tháng 8 tại Hữu Nghị Quan cũng có tầm quan trọng nữa là rồi ra nó trở thành một trong những nguồn tranh chấp về lãnh thổ. Sau sự việc đó, quân đội Việt Nam dựng rào kẽm gai quanh cửa khẩu và xây lô cốt đại liên ở gần đó. Hơn 200 quân được điều lên đóng trên đồi Punien (Ponien), là đất phía Trung Quốc giành là của họ. Vấn đề nạn kiều dần dần được thay thế bằng vấn đề lãnh thổ. Tới ngày 26 tháng 9, khi Bắc Kinh rút đoàn đàm phán ra khỏi Hà Nội, ngưng mọi thảo luận về vấn đề nạn kiều, thì nhiều điểm trên biên giới đã thành đất tranh chấp, và cả hai bên đều khiếu nại về những vụ “xâm phạm đất đai.”###

    [Chú thích của dịch giả: Không rõ tên tiếng Việt của đồi Punien. Theo miêu tả của một nhà báo trong nước, từ phía Lạng Sơn lên Hữu Nghị Quan có hai con đồi. Đồi bên trái hiện mang tên Lê Đình Chinh, nay vẫn thuộc Việt Nam; đồi bên phải trước 1979 phía Việt Nam có đóng, sau 1979 Trung Quốc chiếm, đồi có tên là điểm cao 371. Không rõ đồi nào là đồi Punien.]

    III. Trung Quốc dọa dẫm Hà Nội: Máy bay do thám

    Phản ứng với việc Hoa kiều phải bỏ đi hàng loạt, ngay từ những ngày đầu phía Trung Quốc đã thử dọa dẫm các lãnh tụ Việt Nam và ép họ phải ngưng ngược đãi người gốc Hoa bằng biện pháp khiêu khích, cho phi cơ bay do thám trên lãnh thổ Việt Nam ở phái bắc và, đôi khi, trên vùng biển phía Việt Nam cho là của họ trên Vịnh Bắc Bộ gần các thành phố Việt Nam ven biển. Cùng lúc đó, phía Trung Quốc cho chuẩn bị phòng thủ tại biên giới.###

    Bắt đầu vào tháng 5 và tiếp tục suốt mùa hè và thu 1978, khu trục cơ Trung Quốc xâm nhập ############# vào không phận Việt Nam. Mặc dù một “viên chức cao cấp Việt Nam” than phiền với báo chí quốc tế vào ngày 19 tháng 5 là những chuyến bay do thám của Trung Quốc là “lỗi lầm cố ý,” Hà Nội không chính thức phản đối, với hy vọng là Bắc Kinh sẽ tự ngừng lại. Nhưng sau vụ xâm nhập thật sâu vào không phận Việt Nam ngày 8 tháng 7, khi ba khu trục cơ Trung Quốc băng qua biên giới ################ vào Việt Nam, Hà Nội buộc phải chính thức đưa văn thư ngày 10 tháng 7 phản đối các chuyến bay do thám. Một viên chức Trung Quốc từ chối không nhận văn thư, và vào ngày 16 tháng 7 bốn khu trục cơ Trung Quốc xâm nhập không phận phía bắc Việt Nam. ######### [xóa 4 hàng]

    Chính sách chung của Hà Nội là giữ phi cơ của họ ở xa vùng biên giới và tránh phản ứng trên không đối với các chuyến bay do thám. Phải đến ngày 14 tháng 9, khi hai khu trục cơ Trung Quốc bay sát vùng biên giới tiếp giáp hai tỉnh phía bắc là Cao Bằng và Lạng Sơn, Việt Nam, dường như là lần đầu tiên, gởi khu trục cơ của họ lên trong phản ứng phòng ngự. #### [xóa 1 hàng] Việt Nam có phi cơ tối tân hơn và rất có thể là có phi công điêu luyện hơn, nhưng quan ngại là Không quân Trung Hoa có nhiều máy bay hơn và muốn giới hạn tranh chấp trong vùng đất liền, cụ thể hơn là trong phạm vi lực lượng biên phòng. Leo thang lên không và ra biển sẽ khiến cuộc tranh chấp với Trung Quốc cao hơn mức chấp nhận được. Mặc dù Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong diễn văn Quốc Khánh ngày 2 tháng 9 chỉ trích Trung Quốc xâm phậm không phận và hải phận Việt Nam, ông nhấn mạnh hơn về những hành động của Trung Quốc tại “nhiều vùng biên giới ... nơi Trung Quốc có thể bất cứ lúc nào có hành động thù nghịch và phá hoại chống chúng ta.” Trước ngày Trung Quốc xâm lăng 17 tháng 2, 1979, không hề có cuộc giao tranh không quân hay hải quân nào, mặc dù phía Trung Quốc rõ ràng là sẵn sàng leo thang chiến cuộc lên trên không từ tháng 5, 1978.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi