Tóm tắt lịch sử tiến hóa của loài người

  • Bởi tqvn2004
    8.819 lượt đọc
    05/03/2009
    0 phản hồi

    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Xét cho cùng, sự tiến hóa quan trọng của loài người là biết đứng thẳng, đi bằng hai chân của mình và bộ não phát triển để suy nghĩ. Vậy chúng ta đừng lom khom quỳ gối và hãy học cách sử dụng trí tuệ của mình để tư duy độc lập, đừng ỷ lại vào người khác...

    Tóm tắt lịch sử tiến hóa của loài người

    Ardipithecus ramidus

    Đây là loài vượn nhân hình cổ nhất mà chúng ta tìm thấy. Nó trông giống tinh tinh hơn là giống với loài người. Ardipithecus ramidus có thể đã biết đi bằng hai chân. Các hóa thạch khác được tìm thấy cùng với A. ramidus cho thấy loài này sống trong rừng.

    Sống cách đây 4,4 triệu năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy 1992.

    Australopithecus anamensis

    Vẫn có những đặc điểm giống tinh tinh, bộ hàm của A. anamensis tỏ ra nguyên thủy hơn so với các loại vượn nhân hình về sau. Tuy nhiên, xương cánh tay (humerus) của nó rất giống với người. Đặc điểm của xương chày (xương ống chân - tibia) cho thấy A. anamensis đi trên hai chân.

    Sống cách đây từ 4,2 - 3,9 triệu năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy 1965.

    Australopithecus afarensis

    Loài này bao gồm "Lucy", bộ xương hóa thạch 3,2 triệu năm tuổi được tìm thấy bởi Donald Johanson. A. afarensis có hộp sọ nhỏ và răng tương đối lớn, các cơ hàm giống như của tinh tinh. Tuy nhiên, răng của chúng, chân của chúng và xương chậu, đã có những đặc điểm giống người. Chúng cao từ 1 mét tới 1,5 mét khi đi thẳng.

    Sống cách đây 3,5 tới 2,9 triệu năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1973

    Australopithecus africanus

    Tuy loài này có rất nhiều điểm tương đồng với A. afarensis, nó có bộ não hơi nhỉnh hơn một chút (nhưng vẫn chỉ hơn não tinh tinh chút xíu), răng nanh nhỏ, và răng hàm lớn hơn. Mức độ mòn của răng cho thấy loài A. africanus ăn hoa quả và lá.

    Sống cách đây 3,0 - 2,4 triệu năm

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1924.

    Australopithecus robustus

    Người ta cho rằng loài A. robustus có kích thương tương tự A. afarensis, nhưng xương sọ to hơn, nặng và cứng hơn; cũng như hàm và răng lớn thích hợp cho việc nhai thức ăn. Giống như những loài khỉ không đuôi (ape) ngày nay, A. robustus có lằn xương dọc giữa (sagittal crest - là một lằn xương nhô lên chạy từ đằng trước ra đằng sau của xương sọ), nơi cơ bắp chạy tới xương hàm gắn vào đó.

    Sống cách đây 2,1 đến 1,6 triệu năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1938.

    Australopithecus boisei

    A. boisei tương tự như A. robustus, có điều xương sọ và răng của nó còn lớn hơn nữa. Một số chuyên gia cho rằng hai loài này gần gũi với nhau, cùng tách ra từ một loài khác có tên là A. aethiopicus. Một số khác tin rằng A. robustus tiến hóa từ A. africanus. Cũng giống như các loài thuộc họ Autralopithecus, A. boisei đi bằng hai chân.

    Sống cách đây 2,3 - 1,1 triệu năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1959.

    Homo habilis

    Homo habilis, có nghĩa là "người khéo tay", được biết đến như loài đầu tiên có khả năng tạo và sử dụng các đồ đá nguyên thủy. Cao khoảng 1,5 mét và nặng 45 kg, H. habilis có bộ não lớn hơn não lớn nhất của loài Autralopithecus, nhưng nhỏ hơn não của Homo erectus.

    Kích thước não: 660 cm3.

    Sống cách đây 2,4 - 1,5 triệu năm

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1960.

    Homo erectus

    Mẫu vật đầu tiên về Homo erectus, được biết đến dưới cái tên "người đàn ông Java", được phát hiện tại Indonesia năm 1893. Xương hóa thạch của Homo erectus sau đó được tìm thấy trên khắp Châu Phi và Châu Á, khiến nó trở thành loài vượn nhân hình chu du thế giới đầu tiên. Mặc dù hình dáng hộp sọ vẫn thô sơ, nhưng bộ xương của erectus đã rất giống với người hiện đại, mặc dù nó khỏe hơn (dày hơn và nặng hơn). Homo erectus có thể là vượn nhân hình đầu tiên dùng lửa.

    Kích thước não: 850 (thời kỳ đầu) - 1100 (thời kỳ cuối) cm3.

    Sống cách đây 1,8 triệu - 300 ngàn năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1893.

    Homo sapiens (cổ xưa)

    Còn được biết tới dưới cái tên Homo heidelbergensis, loài này có bộ não lớn hơn não của H. erectus nhưng nhỏ hơn não của loài người hiện đại. Bộ não của nó được đặt trong hộp sọ tròn hơn so với H. erectus. Hóa thạch của Homo sapiens cổ xưa được tìm thấy ở Châu Phi và Châu Âu.

    Kích thước não: 1100 - 1400 cm3.

    Sống cách đây 500 - 200 ngàn năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1921.

    Homo sapiens neanderthalensis

    Chiều cao trung bình 1,7 mét và có xương sườn ngắn, người Neanderthal đặc biệt thích nghi với việc sống trong khí hậu lạnh. Phía ngoài bộ xương dày và nặng của họ là cơ bắp rất khỏe mạnh. Não của người Neanderthal lớn hơn não người hiện đại, và nó có dạng thuôn dài từ trước ra sau chứ không tròn như não người hiện đại.

    Kích thước não: 1200–1700 cm3.

    Sống cách đây 230 - 30 ngàn năm.

    Hóa thạch đầu tiên tìm thấy năm 1856.

    Homo sapiens (hiện đại)

    Loài Homo sapiens hiện đại, còn được biết đến dưới cái tên Homo sapiens sapiens, đã có mặt cách đây khoảng 120 ngàn năm. Homo sapiens sống cách đây 40 ngàn năm đã làm những công cụ phức tạp từ xương, gạc hươu, ngà voi, đá và gỗ; và sản xuất ra những tác phẩm nghệ thuật dưới dạng khắc trổ hay vẽ trong hang đá.

    Kích thước não: 1000–1850 cm3.

    Sống cách đây 120 ngàn năm tới nay.

    Hóa thạch đầu tiên của loài "Cro-Magnon" được tìm thấy năm 1868.

    Lucy, hóa thạch của loài Australopithecus afarensis:

    Đây là hình ảnh của Lucy được khôi phục lại bằng máy tính (nguồn: OCregister.com):

    Hộp sọ của loài Homo Habilis (nguồn: Onelife.com):

    ____________________________________

    Tham khảo thêm tại:

    1. Human Evolution - you try it

    2. Wikipedia: Human evolution

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi