Giá điện tăng đến bao nhiêu là đủ?

  • Bởi Billy
    04/03/2009
    0 phản hồi

    Bắt đầu từ hôm nay, giá điện mà EVN bán đã tăng...
    Ước gì, một ước mơ nhỏ nhoi và chính đáng, lương tôi cũng được cải thiện tốt hơn!

    Hiện nay, chúng ta đang quá chú trọng đánh giá việc tăng giá điện ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội, mà ít khi nhìn thẳng vào vấn đề cốt lõi và minh bạch “tại sao phải tăng giá điện”. Việc tăng giá điện sẽ kéo theo hàng loạt khó khăn thì ai cũng hiểu được, thế nên để nhận được sự chia sẻ từ phía người dân với mình, thì theo tôi, EVN cần có cơ chế minh bạch công khai cho dân biết tại sao phải tăng giá điện thay vì chỉ nói: EVN làm điện đang bị lỗ. Và thực tế EVN không thiếu vốn, cũng chẳng lỗ!

    1. Vấn đề tổ chức.

    Trước tiên tôi muốn nói đến bộ máy cồng kềnh của EVN. Một cơ cấu nhân sự vận hành từ cách đây hàng chục năm liệu có còn phù hợp? Mô hình tập đoàn kinh tế và dưới nó là các tổng công ty hay công ty thành viên là một mô hình tiên tiến của các nước tư bản đang vận hành hiệu quả. Ở đây Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) được hình thành từ Tổng công ty ĐLVN (thay cụm từ Tổng công ty bằng cụm từ Tập đoàn) dưới EVN là các Công ty ĐL vùng, miền và địa phương cùng các Công ty thuộc ngành khác Điện: viễn thông, tài chính; bất động sản, bảo hiểm. Việc đánh giá hiệu quả của các Công ty tài chính và bất động sản thuộc EVN thì chẳng cần nói đến, bởi EVN hiện tại đang có chủ trương trả lại tiền cho các cổ đông đã góp vốn (nhưng lại không nói gì đến lãi sau hàng năm trời cầm tiền của cổ đông và việc cácc cổ đông góp vốn từ tháng 4 tháng 5 nhưng sổ cổ đông lại ghi ngày tháng góp vốn là của tháng 10 thì … những tháng đó tiền trôi đi đâu?!). Và việc đánh giá hoạt động Viễn thông cũng cần được xem lại minh bạch hơn từ việc ép nhân viên và khách hàng sử dụng sản phẩm với giá cao cho đến giá thiết bị đầu cuối cao một cách phi lý.

    Về lĩnh vực điện của EVN, cơ cấu ngành dọc phân phối điện đến người tiêu dùng (chưa đề cập đến sản xuất hay truyền tải điện) theo thứ tự như sau:

    + Trước khi đổi thành Tập đoàn:

    Và sau khi hình thành Tập đoàn ĐL (chưa nói đến lĩnh vực viễn thông, tài chính, bất động sản) :

    Như vậy là sự hình thành Tập đoàn kinh tế EVN được hiểu như để hợp pháp cho các lĩnh vực kinh doanh ngoài điện với việc giữ nguyên cơ chế đó, con người đó. Mặt khác, không phải là các Điện lực địa phương trực thuộc các CTĐL miền (như Nghệ An, Bắc Ninh…) không có đủ năng lực như HP, HCM hay HN, nếu như không muốn nói chính các ĐL địa phương này mong muốn và hoàn toàn có đủ sức trực tiếp trực thuộc EVN như HP, HN, HCM…

    Do vậy, vấn đề được đặt ra là sự tồn tại và hoạt động hiệu quả của các CTĐL miền sẽ như thế nào khi mà mọi thứ từ cơ chế, nhân lực và tài chính đều được phân cấp hết cho các ĐL địa phương? Phải chăng EVN đang thiếu nhân lực, thiếu người tài?

    2. Vấn đề quản lý các dự án.

    Vẫn biết hàng năm EVN do Chính phủ chỉ định đơn vị vào Kiểm toán (luôn là kiểm toán nhà nước - VACO) và các đơn vị thành viên EVN cũng được EVN chỉ định VACO vào kiểm toán. Vậy nhân sự khó khăn này, EVN hãy lấy lòng tin người dân để nhận được sự đồng lòng chia sẻ khó khăn bằng cách thuê một kiểm toán độc lập có uy tín của nước ngoài vào làm và công khai kết quả kiểm toán đó?

    Trước hết, hãy xem xét các quy hoạch điện như phát triển nguồn, truyền tải và phân phối tiêu thụ điện của EVN. Viện Năng lượng là đơn vị gần như là duy nhất của EVN thực hiện công việc này. Chất lượng của các báo cáo quy hoạch này cần được công khai để các nhà chuyên môn không chỉ trong EVN tham gia ý kiến. Chỉ đơn giản như sơ đồ phát triển lưới điện 2006 - 2015 có xét đến 2025của các địa phương (nhưng lại được phê duyệt vào tháng 7/2007; gọi là sơ đồ VI) thì đến nay mới 2008 đã bị phá vỡ. Nguyên nhân rất đơn giản, bởi cách làm của những nhóm quy hoạch thuộc VNL khi đến các địa phương, nếu xin cấp các số liệu thật để phục vụ thì họ chỉ nhận được những số liệu không chính xác và hời hợt, còn để họ tự điều tra, thống kê và phân tích như một bài toán quy hoạch thực thụ thì… chưa có tiền lệ, bởi lẽ việc thẩm định và đánh giá sản phẩm của họ cũng… chưa có tiền lệ! Xem ra việc làm sơ đồ quy hoạch điện cho các địa phương không chỉ lãng phí hàng trăm triệu đồng mỗi nơi nữa.

    Tiếp theo, đến việc thực hiện quản lý và thi công các dự án điện. Ngay cả những người đứng đầu cũng thừa nhận “cơ chế bôi trơn” trong công việc, cũng như thanh tra Chính phủ nhận xét 100% các côntg trình ĐTXD có thất thoát lớn. Từ mời thầu, đấu thầu đến thi công và giám sát thi công cần được giám sát chặt chẽ hơn. Chưa thấy người đứng đầu nào chịu trách nhiệm khi công trình bị phanh phui thất thoát hay chậm tiến độ hay chất lượng kém.

    Việc các dự án ngồn điện chậm tiến độ, khiến EVN luôn đau đầu vì thiếu điện, chưa được xem xét và quy trách nhiệm cá nhân cụ thể, thì cũng sẽ khó mà nói rằng sau khi tăng giá bán điện lên 20% hay bất cứ giá nào, nghĩa là EVN có thêm vốn sẽ khiến các dự án điện đảm bảo tiến độ hơn. Trong khi EVN luôn nói thiếu vốn, thì các đơn vị thành viên lại rất khó khăn trong việc lập kế hoạch để giải ngân hết và hiệu quả nguồn vốn XDCB và sửa chữa lớn (SCL).

    3. Vấn đề thất thoát điện năng và vận hành hệ thống điện hiệu quả.

    Trước hết, không thể phủ nhận những nỗ lực cố gắng của EVN trong bối cảnh giá nhiên liệu dao động nhanh, kinh tế lạm phát đồng thời vì tiến độ các dự án nguồn và truyền tải không đáp ứng trong khi nguồn năng lượng rẻ nhất là thủy điện lại thiếu vào mùa khô. Tuy nhiên, vấn đề sẽ được cải thiện nhiều, nếu EVN cũng như các đơn vị thành viên kiểm soát tốt lưới điện phân phối, là lưới điện bán trực tiếp cho khách hàng của mình.

    Có một nghịch lý là trong khi đa số các nguồn vốn XDCB, SCL luôn luôn trong tình trạng không kịp giải ngân thì lưới điện phân phối đa số là vận hành từ nhiều năm trước đây đã cũ nát, chắp vá, thậm chí có nhiều đường dây phân phối dài lại chưa được cải tạo kịp thời. Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến những sự cố chủ quan của ngành điện. Từ đó nhiều công trình được hạch toán tính vào giá thành kinh doanh điện cũng cần được kiểm soát tốt hơn.

    Trong việc tính toán vận hành hệ thống tối ưu và giảm tổn thất điện năng, EVN đã có rất nhiều chương trình và khóa đào tạo (PSS; DAS; JICA…và cả ở nước ngoài), chúng ta cần đánh giá hiệu quả thật sự của các dự án này bởi số vốn bỏ ra không nhỏ, trong khi ứng dụng thực tế không mang lại như mong muốn. Hãy chỉ đơn giản nhìn vào những con số báo cáo tổn thất điện năng của các đơn vị thành viên với EVN, chúng ta cũng thấy được sự phi lý trong đó. Một tổn thất điện năng của hệ thống bao gồm tổn thất thương mại (sai số thiết bị đo; bị ăn cắp; sai số chủ quan…) và tổn thất kỹ thuật (có thể tính được dựa trên các tham số thiết bị của lưới điện).

    Với tổn thất thương mại, không có cách nào khác là nâng cao năng lực quản lý của các đơn vị kinh doanh điện. Sai số thiết bị đo của người bán thì luôn lớn hơn 0 và nằm trong quy định của pháp lệnh đo lường (tùy từng thiết bị nhưng luôn là giá trị ± ). Sai số chủ quan do người ghi, người đọc chỉ số và cả chu kỳ ghi chỉ số, thời điểm và nguồn số liệu tính. Với việc giảm tổn thất kỹ thuật, không có cách nào khác là cải tạo, vận hành lưới điện một cách linh hoạt và hiệu quả. Một lưới điện cũ nát và cấp điện với bán kính lớn sẽ cho tổn thất nhiều. Tổn thất kỹ thuật luôn luôn có và hoàn toàn có thể tính và kiểm soát được. Tổn thất của hệ thống điện nhỏ nhất là bằng tổn thất kỹ thuật.

    Vậy mà có những số liệu báo cáo tổn thất lại còn nhỏ hơn cả tổn thất kỹ thuật, thậm chí là tổn thất âm!

    Một hệ thống điện mà tổn thất nhiều, vận hành không linh hoạt, chưa tối ưu thì đương nhiên lãi của người bán điện cũng sẽ giảm đi, nhưng người mua thì không ai được giảm tiền cả! Vẫn biết, khách hàng chỉ trả số tiền sau đồng hồ đo đếm của mình nhưng những tổn thất trước khi đến đồng hồ thì có lẽ không chỉ riêng EVN phải gánh!

    4. Những quan điểm giữa EVN và khách hàng sử dụng điện.

    “Giá điện của VN thấp hơn thế giới và trong khu vực, trong khi giá nhiên liệu thì theo thị trường thế giới mà không phụ thuộc vào thu nhập người dân hay GDP nước nào cả.” Và EVN không thể hoạt động theo cơ chế lấy thu bù chi tức là có lãi được.

    Theo tôi cách lập luận và so sánh như vậy hoàn toàn khập khiễng và ngụy biện.

    Thứ nhất, việc xây dựng lên giá thành sản xuất ra một kW điện tất nhiên là phức tạp và nhiều thành phần liên quan nhưng chắc chắn là tính được, chỉ có điều ở VN lại không công khai như các nước khác. Chi phí đầu vào, sản xuất, khấu hao, nhân công, tổn thất, vận hành…sẽ đánh giá được năng lực quản lý của EVN, trên cơ sở đó mới đánh giá được giá điện bán ở VN cao hay thấp. Mặt khác, tỷ trọng sản lượng điện từ thủy điện (có giá thành rẻ nhất) ở VN lại chiếm phần lớn rồi mới đến nhiệt điện dầu, than hay khí, (các nước khác có điện nguyên tử chiếm tỷ trọng cao nhất).

    Thứ hai, người dân không yêu cầu EVN hay Chính phủ thực hiện việc bán điện cho dân theo kiểu người nghèo mua giá thấp, nhà giàu trả giá cao. Mà cần EVN hay Chính phủ đưa ra chính sách năng lượng làm sao để thúc đẩy nền kinh tế VN, đảm bảo đúng chất lượng điện năng theo luật Điện lực cũng như trong nội dung hợp đồng mua bán điện đã ký với các khách hàng mua điện. Và đồng thời chính sách năng lượng đó cũng giúp cho người sử dụng buộc phải tiết kiệm hơn và có trách nhiệm hơn chứ không chỉ việc tăng giá bán mới làm được.

    Việc không nhận được nhiều sự chia sẻ của khách hàng với EVN và sự phản ánh về chất lượng cung cấp điện không đúng như trong hợp đồng, thường được EVN dựa vào luật Điện lực để giải thích và đổ lỗi cho cấp dưới địa phương có một số cá nhân nhũng nhiễu khách hàng… theo tôi cũng là sự đùn đầy và chưa nhìn thằng vào trách nhiệm của EVN.

    Trước hết theo luật ĐL thì quy trình để cắt điện rất nghiêm ngặt, và được thông báo trước cho khách hàng; Luật cũng quy định bên bán điện có thể phải bồi thường hay bị xử phạt nếu họ vi phạm luật và hợp đồng. Nhưng vấn đề mấu chốt lại nằm ở chỗ: “trừ trường hợp bất khả kháng!”. Đúng là theo lẽ thường, đã là trường hợp bất khả kháng thì cả bên mua và bán đều phải chịu. Nhưng thật không công bằng khi bên mua điện không có quyền kiểm tra cái bất khả kháng đó là đúng hay sai, có thật sự là ấbt khả kháng? Để hạn chế việc quản lý yếu kém hay những tiêu cực dẫn đến việc cung cấp điện không đảm bảo theo quy định trong luật và hợp đồng (chất lượng điện năng, tính ổn định, sự cố gây mất điện…) nên chăng nhà nước có một tổ chức độc lập (không thuộc EVN) để phân tích và điều tra những sự cố mà ngành điện cho là bất khả kháng.

    Và EVN sẽ giải thích như thế nào ngay khi thường xuyên tiết giảm phụ tải do thiếu điện (khác với khi lưới truyền tải quá tải) đúng vào thời điểm hồ Hòa Bình phải xả hai, ba cửa đáy và đồng thời văn bản số 2185/EVN-KH ngày 12/5/2008 do TGĐ EVN Phạm Lê Thanh ký cũng như sự chỉ đạo thực hiện của cấp dưới địa phương: cắt giảm phụ tải vào giờ thấp điểm và đóng điện trả lại vào giờ cao điểm? Nếu như không có công tơ điện tử 3 giá thì liệu EVN có làm như vậy để nâng giá bán điện bình quân lên không? Hành động này giống như việc tư thương đầu cơ tích trữ hàng hòng đẩy giá bán lên cao.

    Thủy điện chiếm tỷ trọng rất lớn và chúng được sử dụng để chạy nền trong biểu đồ phụ tải, vậy EVN sẽ giải thích như thế nào khi mà các hồ chứa của thủy điện liên tục xả nhiều cửa đáy thì hệ thống vẫn thiếu điện? Vấn đề không hoàn toàn ở chức năng kiêm nhiệm là điều tiết lũ hay thủy lợi mà là hệ thống truyền tải không đáp ứng được (được bao nhiêu phần trăm công trình truyền tải đảm bảo tiến độ?) dẫn đến hệ thống phân phối ắt thiếu điện.

    Việc cắt điện tùy tiện, tràn lan ở các cấp dưới EVN cũng cần phải được lưu ý hơn nữa nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các khách hàng mua điện. Không thể cứ mỗi khi mất điện ngành điện lại đứng trên luật ĐL để trả lời khách hàng là do sự cố bất khả kháng. Theo tôi, nhà nước hay hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có một tổ chức độc lập để kiểm tra, điều tra mỗi khi bên điện lực bị sự cố bất khả kháng. (không lẽ sự cố cháy MBA AT2 500kV Đà Nẵng cũng là khách quan vì thế chẳng có khách hàng nào được bồi thường thiệt hại; vô số những sự cố gây mất điện khiến nhiều doanh nghiệp bị thiệt hại về kinh tế và uy tín mà nguyên nhân là do năng lực quản lý của ngành chưa tốt) Và các kết quả điều tra sự cố cần được thông báo cho những khách hàng liên quan.…

    “Theo quyết định số 19/2006/QĐ-BCN ký ngày 11/7/2006 của Bộ CN về Quy Phạm Trang bị điện (11TCN – 19 – 2006), Điều II.5.20: Ðối với các ÐDK, lấy thời gian sử dụng giả định của công trình là 15 nãm đối với ÐDK 35kV trở xuống, 20 nãm đối với ÐDK 110kV, 30 nãm đối với ÐDK 220kV, 40 nãm đối với ÐDK 500kV và khỏang vượt lớn”.

    Đây là thời gian dùng để tính toán thiết kế và đầu tư cho các đường dây tải điện. Thời gian này không có nghĩa là đến khi ấy mới được đưa vào sửa chữa lớn và càng không phải giá trị tuổi thọ của công trình. Nhưng giải thích như thế nào khi mà thực tế hầu hết các công trình ĐDK từ 35 đến dưới 500kV đều đang vận hành, khai thác tốt có tuổi từ 20 năm trở lên? Phải chăng việc khấu hao nhanh, thời gian khấu hao ngắn mà EVN áp dụng cho các công trình điện cũng là một gánh nặng cho cấu thành giá thành điện?

    Tóm lại, theo tôi, EVN cần nâng cao năng lực quản lý các dự án điện, năng lực vận hành và khai thác hệ thống ở các đơn vị thành viên trực tiếp bán điện và minh bạch công khai cách tính giá thành sản xuất ra điện, khi đó khách hàng dễ thông cảm hơn ngay cả khi tăng giá điện.

    Tham khảo: http://saga.vn/Taichinh/Ketoan-Kiemtoan/Ketoantaichinh/4652.saga

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi