Phát triển dẫn tới dân chủ như thế nào? (Phần ba)

  • Bởi tqvn2004
    03/03/2009
    1 phản hồi

    Ronald Inglehart và Christian Welzel <br />
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    NỀN DÂN CHỦ HIỆU QUẢ

    Trong thời kỳ bùng phát của các nền dân chủ, diễn ra vào năm 1985 tới 1995, dân chủ bầu cử (electoral democracy) nhanh chóng lan tỏa trên toàn thế giới. Các hiệp ước chiến lược giữa các cường quốc đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này, với một môi trường quốc tế thuận tiện: Kết thúc cuộc Chiến tranh Lạnh mở đường cho dân chủ hóa. Thoạt đầu, có xu hướng cho rằng bất kỳ chế độ nào có bầu cử tự do và công bằng là chế độ dân chủ. Tuy nhiên, có nhiều nền dân chủ mới vấp phải tham nhũng khủng khiếp và thất bại trong việc thực hiện nguyên tắc pháp quyền (rule of law), điều cần thiết để dân chủ hoạt động hiệu quả. Do đó, ngày càng nhiều những quan sát viên hiện nay nhấn mạnh vào sự không đầy đủ và thỏa đáng của các nền "dân chủ bầu cử", "dân chủ hỗn hợp", "dân chủ độc đoán" và các dạng dân chủ giả tạo khác, trong đó quan điểm của công chúng thường bị nhóm lãnh đạo chính trị bỏ qua và không có ảnh hưởng gì đáng kể tới quyết định của chính phủ. Như thế, phân biệt giữa dân chủ hiệu quả và không hiệu quả là một việc cần thiết.

    Bản chất của dân chủ là nó trao quyền lực vào tay các thường dân. Một nền dân chủ hiệu quả hay không được quyết định, không chỉ bởi số lượng các quyền chính trị và dân sự tồn tại trên giấy tờ, mà còn bởi mức độ chính quyền thực sự tôn trọng những quyền đó.


    Bản chất của dân chủ là nó trao quyền lực vào tay các thường dân. Một nền dân chủ hiệu quả hay không được quyết định, không chỉ bởi số lượng các quyền chính trị và dân sự tồn tại trên giấy tờ, mà còn bởi mức độ chính quyền thực sự tôn trọng những quyền đó. Cái đầu tiên trong số hai thành phần này -- sự tồn tại của các quyền trên giấy tờ -- được đánh giá bởi bảng xếp hạng thường niên của Freedom House: nếu một quốc gia tổ chức tuyển cử tự do, Freedom House có xu hướng đánh giá nó như một quốc gia "tự do", cho nó điểm số cao nhất cao nhì trong thang điểm. Do đó, các quốc gia dân chủ mới nổi lên ở Đông Âu có điểm cao tương tự các quốc gia dân chủ lâu đời ở Tây Âu, mặc dù phân tích chi tiết cho thấy tham nhũng rộng khắp đang khiến các nền dân chủ mới này kém hiệu quả hơn rất nhiều, còn lâu mới xứng đáng với sự lựa chọn của các công dân thuộc quốc gia đó. May thay, Ngân hàng Thế Giới có một thước đo khác cho thấy các thể chế dân chủ thực sự hiệu quả như thế nào. Do đó, chúng ta có thể tự tạo một chỉ số "thô sơ" để đánh giá tính hiệu quả của nền dân chủ, bằng cách nhân hai điểm số này lại với nhau: Dân chủ trên giấy tờ (formal democracy), đánh giá bởi Freedom House; và tính liêm chính của thể chế và nhóm lãnh đạo, đánh giá bởi Ngân hàng Thế giới.

    Nền dân chủ hiệu quả đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn hơn là dân chủ bầu cử. Chúng ta có thể thiết lập dân chủ bầu cử ở gần như bất kỳ đâu trên thế giới, nhưng nó có lẽ sẽ không tồn tại lâu, nếu nó không thực sự chuyển giao quyền lực từ nhóm lãnh đạo sang cho người dân. Dân chủ hiệu quả dễ tồn tại nhất bên cạnh một cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, bao gồm không chỉ các nguồn lực kinh tế, mà cả những thói quen tham gia [hoạt động xã hội và chính trị] rộng khắp, và sự khao khát quyền tự quyết (autonomy). Theo đó, nó liên quan chặt chẽ tới mức độ mà cộng đồng trong một quốc gia nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân. Quả như thế, có một mối tương quan mạnh mẽ giữa các giá trị trong xã hội và bản chất của thể chế chính trị quốc gia.

    Gần như tất cả các nền dân chủ ổn định đều coi trọng các giá trị biểu lộ bản thân. Đa số các quốc gia Mỹ La Tinh tỏ ra dưới sự mong đợi, bởi các nền dân chủ ở đây kém hiệu quả hơn mức người ta dự đoán từ các giá trị hiện tại của công chúng. Điều này cho thấy các xã hội này đã sẵn sàng cho dân chủ ở mức độ cao hơn, nếu pháp quyền được củng cố ở đây. I-ran cũng tỏ ra dưới phong độ -- một thể chế thần quyền chấp nhận mức độ dân chủ thấp hơn nhiều so với khao khát của công dân nước này. Những người nghiên cứu chính trị chỉ dựa trên quan điểm nhóm lãnh đạo có thể ngạc nhiên khi biết rằng công chúng I-ran, trái lại, ủng hộ dân chủ khá mạnh mẽ. Ngược lại, Cyprus, Étx-tô-nia, Hung-ga-ri, Ba Lan Lát-via, và Lít-via lại là những quốc gia làm tốt hơn mong đợi, cho thấy nền dân chủ ở đây vượt quá mức dự đoán từ các giá trị hiện hữu của công chúng -- có lẽ điều này phản ánh quá trình dân chủ hóa của các nước này được kích thích bởi tấm vé gia nhập Cộng Đồng Chung Châu Âu (EU).

    Nhưng liệu các giá trị biểu lộ bản thân dẫn tới dân chủ, hay liệu dân chủ dẫn tới sự thay đổi các giá trị biểu lộ bản thân? Các chứng cứ chỉ ra rằng các giá trị này dẫn tới dân chủ. (Nếu bạn quan tâm đến các dẫn chứng đầy đủ chứng minh tuyên bố này, xin xem cuốn sách của chúng tôi, "Hiện đại hóa, Thay đổi văn hóa và Dân chủ" - tự đề tiếng Anh: "Modernization, Cultural Change, and Democracy"). Thể chế dân chủ không cần phải tồn tại để các giá trị biểu lộ bản thân xuất hiện. Những chứng cứ ghi lại theo thời gian từ các cuộc thăm dò về giá trị chỉ ra rằng trong những năm trước khi làn sóng dân chủ xảy ra, ở cuối thập niên 1980 hay đầu 1990, các giá trị biểu lộ bản thân đã bắt đầu xuất hiện qua một tiến trình thay đổi giữa các thế hệ về giá trị -- không chỉ ở các quốc gia dân chủ Tây Âu, mà ngay cả trong các xã hội độc đoán. Tới năm 1990, công chúng Đông Đức và Séc Slô-va-kia -- đang sống dưới hai chế độ độc tài nhất trên thế giới -- đã phát triển các giá trị biểu lộ bản thân ở mức độ cao. Yếu tố sống còn không phải là hệ thống chính trị, mà ở thực tế rằng hai quốc gia này nằm trong những quốc gia phát triển nhất trong thế giới Cộng Sản, với hệ thống giáo dục tốt và hệ thống phúc lợi tân tiến. Do vậy, khi lãnh đạo Xô Viết, ông Mikhail Gorbachev tuyên bố Học thuyết Brezhnev, loại bỏ mối đe dọa can thiệp quân sự của Xô Viết, họ đã nhanh chóng chuyển sang thể chế dân chủ.

    Trong những thập niên gần đây, các giá trị biểu lộ bản thân đã tiếp tục lan rộng và mạnh mẽ hơn, làm cho các công dân có xu hướng trực tiếp can thiệp vào chính trị. (Thực thế, làn sóng dân chủ hóa trở thành sự thực chính là nhờ số lượng chưa từng thấy những người tham gia vào các cuộc biểu tình). Liệu thế có nghĩa là các thể chế độc tài sẽ không tránh khỏi đổ vỡ? Không. Sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào các giá trị biểu lộ bản thân có xu hướng bào mòn tính chính đáng của các thể chế độc tài, nhưng trong khi các thể chế độc tài vẫn nắm giữ quân đội và cơ quan an ninh, họ vẫn có thể đè bẹp các lực lượng ủng hộ dân chủ. Dù sao, ngay cả những thể chế thô bạo cũng phải trả giá đắt khi cản trở xu hướng này, bởi làm như thế họ cũng đồng thời ngăn cản sự trỗi dậy của một một nền kinh tế tri thứ có hiệu quả.

    SÁCH LƯỢC HIỆN ĐẠI

    Sự hiểu biết mới về hiện đại hóa này gợi ý nhiều điều cho các quan hệ quốc tế. Một trong số đó là, nó giúp giải thích tại sao các nền dân chủ tiến bộ không gây chiến với nhau. Những nghiên cứu gần đây cung cấp những minh chứng thực tế và chắc chắn ủng hộ kết luận này, và chúng có từ thời Adam Smith và Immanuel Kant. Kể từ khi xuất hiện vào thời gian đầu thế kỷ 19, dân chủ tự do đã trải qua vài cuộc chiến, nhưng gần như chưa từng có chiến tranh giữa các nền dân chủ tự do với nhau. Phiên bản mới này của lý thuyết hiện đại hóa cho thấy hiện tượng hòa bình dân chủ là do thay đổi văn hóa liên quan tới hiện đại hóa nhiều hơn là với dân chủ.

    Trong thời kỳ đầu lịch sử, các quốc gia dân chủ vẫn tấn công lẫn nhau một cách thường xuyên. Nhưng các quy tắc phổ biến giữa chúng tiến hóa theo thời gian, ví dụ như xóa bỏ tình trạng nô lệ, sự phát triển dần dần của quyền công dân, và sự dịch chuyển sang phía bình đẳng giới diễn ra gần như tại mọi xã hội hiện đại. Sự thay đổi văn hóa khác trong xã hội hiện đại -- những xã hội có xu hướng dân chủ -- đó là chiến tranh ngày càng trở nên không thể chấp nhận được, và con người có xu hướng bày tỏ sự chán ghét chiến tranh của mình và nố lực lái chính sách của quốc gia theo hướng đó [phi chiến tranh]. Chứng cứ từ thăm dò giá trị trên toàn thế giới chỉ ra rằng công dân tại các quốc gia thu nhập cao ít có xu hướng bài ngoại hơn là công dân các quốc gia thu nhập thấp, và họ cũng ít sẵn sàng chiến đấu vì tổ quốc mình hơn là công dân ở các quốc gia thu nhập thấp. Hơn nữa, các nền dân chủ có kinh tế phát triển cũng hành xử hòa bình với nhau hơn là các quốc gia kém dân chủ, và họ cũng ít để xảy ra nội chiến hơn các quốc gia kém dân chủ.

    Dưới hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc, cơ sở hạ tầng xã hội cho dân chủ đang trỗi dậy, và nó sẽ tiến xa hơn nhận định của phần lớn các nhà quan sát. Trung Quốc đang tiến tới cái ngưỡng số đông nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân, tương tự ngưỡng mà Chi-lê, Ba Lan, Nam Hàn và Đài Loan đạt được trước khi chuyển đổi sang dân chủ.


    Lý thuyết hiện đại hóa có những gợi ý mang cả tính khuyến khích lẫn cẩn trọng cho chính sách ngoại giao của Mỹ. I-rắc, tất nhiên rồi, là một bài học về cẩn trọng. Trái với quan điểm hấp dẫn là dân chủ có thể được thiết lập tức khắc tại bất kỳ đâu trên thế giới, lý thuyết hiện đại hóa cho thấy dân chủ có xu hướng phát triển dưới một số điều kiện nhất định. Nhiều yếu tố cho thấy sẽ là không thực tế nếu trông đợi dân chủ được thiết lập một cách dễ dàng ở I-rắc, trong đó bao gồm sự chia rẽ sắc tộc sâu sắc, do thể chế Saddam Hussein làm trầm trọng thêm. Sau khi hạ gục Saddam, việc để cho an toàn tính mạng (physical security) trở nên tồi tệ hơn trước là một sai lầm đặc biệt nghiêm trọng. Sự tin tưởng và lòng khoan dung giữa các cá nhân nảy nở khi con người cảm thấy an toàn. Dân chủ khó có thể tồn tại trong xã hội bị méo mó bởi mất lòng tin và không khoan dung, và I-rắc hiện nay đứng đầu bảng xếp hạng về chủ nghĩa bài ngoại, hơn bất cứ xã hội nào mà chúng ta có dữ liệu. Một chỉ dẫn tốt về chủ nghĩa bài ngoại là người dân tuyên bố không thích có người nước ngoài làm hàng xóm. Trong 80 quốc gia, trung bình có 15% người được hỏi tuyên bố "không muốn". Trong số người Kurd ở Iraq, có 51% người được hỏi trả lời "không muốn". Trong số người Ả-rập ở Iraq, có tới 90% trả lời không muốn. Cùng một nhịp với vấn đề này, I-rắc (và cả Pakistan và Zimbabwe) ghi điểm rất thấp tại cả giá trị biểu lộ bản thân lẫn dân chủ hiệu quả.

    Lý thuyết hiện đại hóa cũng có những gợi ý tích cực dành cho chính sách ngoại giao Mỹ. Được hỗ trợ bởi rất nhiều chứng cứ, nó đi tới kết luận rằng phát triển kinh tế là lực đẩy cơ bản để đạt tới thay đổi dân chủ -- điều này có nghĩa rằng Washington nên làm tất cả những gì có thể để cổ vũ phát triển. Nếu nó muốn đem dân chủ tới, ví dụ, cho Cuba, thì việc cô lập lại là phản tác dụng. Hoa Kỳ đáng lẽ nên gỡ bỏ cấm vận, khuyến khích phát triển kinh tế, và củng cố mối quan hệ xã hội (và cả các mối quan hệ khác nữa) của Cuba với thế giới. Không có gì chắc chắn, nhưng những bằng chứng thực tế cho thấy, khi người ta cảm thấy an toàn hơn, và bắt đầu nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân, thì các chế độ độc tài sẽ bị suy yếu.

    Tương tự như thế, mặc dù rất nhiều nhà quan sát đã lo ngại về sự hồi sinh về kinh tế của Trung Quốc, tăng trưởng này có ích lợi về lâu về dài. Dưới hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc, cơ sở hạ tầng xã hội cho dân chủ đang trỗi dậy, và nó sẽ tiến xa hơn nhận định của phần lớn các nhà quan sát. Trung Quốc đang tiến tới cái ngưỡng số đông nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân, tương tự ngưỡng mà Chi-lê, Ba Lan, Nam Hàn và Đài Loan đạt được trước khi chuyển đổi sang dân chủ. Và, có thể làm ngạc nhiên nhiều nhà quan sát tập trung vào chính trị ở mức lãnh đạo, I-ran cũng đã gần tới ngưỡng này. Khi mà Đảng CS Trung Quốc và các lãnh đạo thần quyền ở I-ran còn kiểm soát lực lượng quân sự và an ninh, các thể chế dân chủ sẽ chưa xuất hiện ở mức quốc gia. Nhưng áp lực ngày càng tăng của số đông cho tự do hóa bắt đầu xuất hiện, và đàn áp họ sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế và thui chột đạo đức xã hội. Nhìn chung, làm sao cho Trung Quốc và Iran thịnh vượng là điều mà Hoa Kỳ nên làm vì lợi ích riêng của mình.

    Nhìn rộng hơn, lý thuyết hiện đại hóa ám chỉ rằng Hoa Kỳ nên chào đón và khuyến khích phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Mặc dù phát triển kinh tế cần có những điều chỉnh khó khăn, ảnh hưởng lâu dài của nó là khuyến khích sự trỗi dậy của các xã hội khoan dung hơn, ít bài ngoại hơn, và cuối cùng là dân chủ hơn.

    (Hết)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Dưới hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc, cơ sở hạ tầng xã hội cho dân chủ đang trỗi dậy, và nó sẽ tiến xa hơn nhận định của phần lớn các nhà quan sát. Trung Quốc đang tiến tới cái ngưỡng số đông nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân, tương tự ngưỡng mà Chi-lê, Ba Lan, Nam Hàn và Đài Loan đạt được trước khi chuyển đổi sang dân chủ.
    ========================
    Tôi cho rằng VN cũng giống như Trung Quốc rất khó đạt tới dân chủ thật sự, nếu Đảng Cộng sản sụp đổ thì một chế độ độc tài sẽ lên thay thế mà thôi.

    Lý do rất quan trọng là những đặc tính quan trọng về dân chủ chưa được thấm nhuần trong suy nghĩ của từng người dân VN, đặc biệt là giới trí thức trung lưu.

    Ngay cả những người đang tự xem mình là nhà đấu tranh cho dân chủ họ cũng thiết đi những đặc tính thiết yếu để xây dựng một nền dân chủ thực chất cho một dân tộc. Chẳng hạn như tôn trọng quyền được tự do suy nghĩ của người khác, tôn trọng một hệ tư tưởng khác biệt với mình như tư tưởng cộng sản, tôn trọng văn hóa khác biệt với văn hóa mình, tôn trọng tự do của người khác và trên tất cả là tôn trọng những giá trị thật sự của dân chủ.