Phát triển dẫn tới dân chủ như thế nào? (Phần hai)

  • Bởi Admin
    02/03/2009
    1 phản hồi

    Ronald Inglehart và Christian Welzel <br/>
    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Dân Luận xin trân trọng giới thiệu tới độc giả phần hai bài viết "Phát triển dẫn tới dân chủ như thế nào?", với những chứng cứ và lập luận chứng minh phát triển kinh tế có lợi cho dân chủ như thế nào.

    Đánh giá các giá trị


    Việt Nam đang trong quá trình chuyển dịch (nguồn: smuyen.org).

    Những chứng cứ thực tế mới đây đã cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết quý giá về cách mà hiện đại hóa đã thay đổi thế giới quan và động lực. Từ năm 1981 tới 2007, tổ chức World Values Survey và European Values Study đã tiến hành năm đợt thăm dò ý kiến mang tính đại diện trên toàn quốc tại nhiều quốc gia, bao phủ khoảng 90% dân số thế giới. (Để biết thêm chi tiết về dữ liệu trong các cuộc thăm dò, xin mời vào trang www.worldvaluessurvey.org). Kết quả cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia về niềm tin và các giá trị của con người. Ở một vài quốc gia, 95% người được hỏi nói rằng Chúa là cực kỳ quan trọng trong cuộc sống của họ; ở các quốc gia khác, chỉ có 3% nhìn nhận Chúa đóng vai trò quan trọng. Tại một vài xã hội, 90% người được hỏi cho rằng đàn ông xứng đáng được nhận vào làm hơn phụ nữ; trong khi ở xã hội khác, chỉ có 8% đồng ý như thế. Sự khác biệt giữa các quốc gia là khá lớn và lâu dài, và chúng có mối liên quan mật thiết tới mức độ phát triển kinh tế của một xã hội : Những người trong xã hội có thu nhập thấp thường nhấn mạnh vào tôn giáo và vai trò giới tính truyền thống hơn là những người trong các quốc gia giàu có.

    Những thăm dò [về] các giá trị này cho thấy thế giới quan của những người sống trong xã hội giàu khác biệt một cách hệ thống so với thế giới quan của những người sông trong các xã hội thu nhập thấp, trên một phạm vi rộng các quy tắc (norms) chính trị, xã hội và tôn giáo. Những sự khác biệt này chạy dọc hai chiều cơ bản: các giá trị truyền thống (traditional) vs lý trí-thế tục (secular-rational), và các giá trị sống còn (survival) vs biểu lộ bản thân (self-expression). (Mỗi chiều phản ánh điểm số của những câu hỏi được hỏi trong các thăm dò về các giá trị). Sự chuyển dịch từ các giá trị truyền thống sang các giá trị lý trí-thế tục liên quan tới sự chuyển dịch từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Các xã hội truyền thống nhấn mạnh vào tôn giáo, tôn trọng và lăng nghe người lãnh đạo, và lòng tự hào dân tộc. Những đặc tính này thay đổi khi xã hội trở nên thế tục và lý trí hơn.

    Sự chuyển dịch từ các giá trị sống còn sang biểu lộ bản thân liên quan đến sự trỗi dậy của các xã hội hậu công nghiệp. Nó phản ánh sự dịch chuyển văn hóa diễn ra khi thế hệ trẻ lớn lên trong môi trường không còn phải lăn lộn để tồn tại như thế hệ cha ông của chúng. Các giá trị sống còn đặt an toàn kinh tế và vật chất, các quy tắc xã hội mang tính tuân thủ vào vị trí ưu tiên hàng đầu. Các giá trị biểu lộ bản thân đặt tự do ngôn luận, tham gia vào quá trình ra quyết định, tham gia hoạt động chính trị, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, và chấp nhận các dân tộc thiểu số, người nước ngoài, tình dục đồng giới lên vị trí ưu tiên hàng đầu. Khi xã hội ngày càng nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân, thì sẽ tạo ra một nền văn hóa tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, trong đó mọi người yêu mến tự do cá nhân, sự biểu lộ bản thân và có xu hướng tham gia tích cực các hoạt động chính trị. Những giá trị này đặc biệt cần thiết với nền dân chủ -- và như thế nó giải thích tại sao phát triển kinh tế, đưa xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp và tới hậu công nghiệp, sẽ dẫn tới dân chủ hóa. Sự phát triển kinh tế chưa từng có trong 50 năm vừa qua đồng nghĩa với việc ngày càng nhiều người trên thế giới không còn phải lăn lộn vất vả để tồn tại. Dữ liệu ghi lại theo thời gian của các thăm dò về giá trị chỉ ra rằng những mối ưu tiên của số đông đã chuyển từ sự quá nhấn mạnh vào an toàn kinh tế và thân thể sang sự nhấn mạnh vào sự hạnh phúc chủ quan (subjective well-being), biểu lộ bản thân, tham gia vào quá trình ra quyết định, và quan điểm tương đối tin cậy và cảm thông.

    Khi xã hội ngày càng nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân (self-expression), thì sẽ tạo ra một nền văn hóa tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, trong đó mọi người yêu mến tự do cá nhân, sự biểu lộ bản thân và có xu hướng tham gia tích cực các hoạt động chính trị. Những giá trị này đặc biệt cần thiết với nền dân chủ -- và như thế nó giải thích tại sao phát triển kinh tế, đưa xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp và tới hậu công nghiệp, sẽ dẫn tới dân chủ hóa.


    Cả hai chiều đều có mối liên hệ gần gũi với phát triển kinh tế: Hệ thống giá trị tại các nước thu nhập cao khác rất xa với hệ thống giá trị ở các nước thu nhập thấp. Mỗi quốc gia mà Ngân hàng Thế giới đánh giá là có mức thu nhập cao đều ghi điểm cao trên cả hai chiều -- với sự nhấn mạnh vào cả giá trị lý trí - thế tục lẫn biểu lộ bản thân. Tất cả các quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp đều xếp hạng thấp trên cả hai chiều. Những nước có thu nhập trung bình cao nằm đâu đó giữa hai thái cực. Ở một mức độ đáng chú ý, các giá trị và niềm tin trong một xã hội bất kỳ phản ánh mức độ phát triển kinh tế của nó -- giống như lý thuyết hiện đại hóa đã tiên đoán.

    Sự liên hệ mạnh mẽ giữa hệ thống giá trị của một xã hội và con số GDP trên đầu người của xã hội đó cho thấy, phát triển kinh tế có xu hướng tạo ra những thay đổi dự đoán được trong hệ thống niềm tin và giá trị của một xã hội, và các chứng cứ ghi lại theo các mốc thời gian ủng hộ giả thuyết này. Khi so sánh vị trí của một quốc gia tại một chuỗi các thăm dò về giá trị, chúng ta có thể thấy gần như tất cả các quốc gia có con số GDP trên đầu người tăng cũng chứng kiến sự chuyển dịch về các giá trị như đã được dự đoán trước.

    Tuy nhiên, chứng cứ từ thăm dò các giá trị cũng cho thấy những thay đổi văn hóa phụ thuộc vào quá khứ; di sản văn hóa của xã hội cũng góp phần định hình vị trí của xã hội đó trên bản đồ văn hóa toàn cầu. Bản đồ này cho thấy những khu vực tách biệt của các quốc gia: Châu Âu Tin Lành, Châu Âu Công Giáo, Châu Âu Cộng Sản cũ, các nước nói tiếng Anh, Châu Mỹ La-Tinh, Nam Á, thế giới Hồi Giáo, và Châu Phi. Các giá trị được nhấn mạnh bởi các xã hội khác nhau rơi vào một mô hình rất giống nhau, mô hình này phản ánh cả hai khía cạnh: mức độ phát triển kinh tế của xã hội đó, và di sản tôn giáo và thuộc địa của nó. Nhưng ngay cả khi những di sản văn hóa của xã hội tiếp tục tác động tới các giá trị mà xã hội đó tôn thờ, phát triển kinh tế đem tới những thay đổi có những kết quả quan trọng. Theo thời gian, nó tái định hình niềm tin và các giá trị trên đủ các mặt -- và nó mang đến nhu cầu ngày càng tăng của công chúng đối với thể chế dân chủ và yêu cầu giới lãnh đạo phải chú ý tới nguyện vọng của nhân dân. Và trên một phần tư thế kỷ mà các thăm dò giá trị nói trên được thực hiện, công chúng tại hầu hết các quốc gia đã ngày càng nhấn mạnh vào các giá trị biểu lộ bản thân. Sự dịch chuyển văn hóa này khiến cho các nền dân chủ ngày càng dễ xuất hiện tại những nơi nó chưa từng tồn tại, cũng như trở nên hiệu quả và trực tiếp hơn tại những nơi đã nó đã có mặt.

    PHÁT TRIỂN VÀ DÂN CHỦ

    Năm mươi năm trước, nhà xã hội học Seymour Martin Lipset đã chỉ ra rằng các quốc gia giàu thường có cơ hội trở thành quốc gia dân chủ hơn là các quốc gia nghèo. Mặc dù tuyên bố này đã bị nghi ngờ trong nhiều năm qua, nó đã đứng vững trước nhiều cuộc thử nghiệm. Nguyên nhân của mối quan hệ này cũng bị đặt dấu hỏi: Phải chăng các nước giàu dễ dân chủ hơn là vì dân chủ dẫn tới thịnh vượng, hay phát triển có ích cho dân chủ? Cho tới hôm nay, câu trả lời dường như đã rõ, nguyên nhân chính là từ phát triển kinh tế đã dẫn tơi dân chủ. Trong thời gian đầu của hiện đại hóa, các quốc gia độc tài cũng duy trì tốc độ tăng trưởng cao tương tự các quốc gia dân chủ. Nhưng tới một mức độ phát triển kinh tế nào đó, ngày càng nhiều khả năng là dân chủ sẽ nổi lên và tồn tại. Do đó, trong bảng điểm của các quốc gia dành được dân chủ trong khoảng 1990, phần lớn là các quốc gia có thu nhập trung bình: hầu như tất cả các quốc gia thu nhập cao đã là quốc gia dân chủ, chỉ có một ít quốc gia thu nhập thấp thực hiện được quá trình chuyển đổi. Hơn thế, trong số các quốc gia dân chủ chuyển đổi trong năm 1970 tới 1990, dân chủ đã sống sót tại tất cả các quốc gia thực hiện việc chuyển đổi khi chúng ở mức kinh tế tương đương với Argentina ngày nay hoặc cao hơn; trong số các quốc gia chuyển sang dân chủ khi kinh tế kém hơn mức này, nền dân chủ ở đây chỉ có tuổi thọ trung bình là 8 năm.

    Lợi ích mà phát triển kinh tế đem lại cho dân chủ nằm ở hai khía cạnh: Thứ nhất, nó tạo ra một tầng lớp trung lưu đông đảo, có giáo dục, có thói quen suy nghĩ độc lập.

    Thứ nhì, nó biến đổi những giá trị và động lực của xã hội, khiến người ta khao khát tự do và quyền tự quyết nhiều hơn, thúc đẩy họ tham gia tích cực hơn vào chính trị, đặt câu hỏi và yêu cầu những câu trả lời thích đáng từ bộ máy cầm quyền. Có thể nói, dân chủ ra đời do những nhu cầu mới từ cuộc sống mới.


    Sự tương quan mạnh mẽ giữa phát triển và dân chủ phản ánh thực tế rằng phát triển kinh tế có lợi cho dân chủ. Câu hỏi tại sao, sự phát triển lại dẫn tới dân chủ, đã được tranh luận một cách gay gắt, nhưng câu trả lời bây giờ mới xuất hiện. Nó không phải là kết quả của một số kỳ quái nào đó làm cho các thể chế dân chủ tự động xuất hiện khi đất nước đạt tới mức GDP nào đó. Mà phát triển kinh tế mang tới những thay đổi về xã hội và chính trị, chỉ khi nó làm thay đổi hành vi của mỗi cá nhân. Nói cách khác, phát triển kinh tế có ích cho dân chủ ở khía cạnh là nó, đầu tiên, tạo ra một tầng lớp trung lưu rộng lớn, có giáo dục và có sự liên kết - những người này có thói quen suy nghĩ độc lập; và thứ hai; biến đổi những giá trị và động lực của người dân.

    Bây giờ đây, chúng ta có thể khả năng hơn bao giờ hết để đo đạc và đánh giá xem những thay đổi quan trọng là gì, và chúng đã tiến bao xa trong mỗi quốc gia cụ thể. Việc phân tích đa biến các dữ liệu từ các cuộc thăm dò giá trị cho phép chúng ta chọn ra sự ảnh hưởng tương đối của các thay đổi kinh tế, xã hội và văn hóa, và những kết quả này chỉ ra rằng, sự phát triển kinh tế là có ích cho dân chủ trong phạm vi là nó mang đến những thay đổi cấu trúc cụ thể (đặc biệt là sự phát triển tri thức), và những thay đổi văn hóa (đặc biệt là sự phát triển của các giá trị biểu lộ bản thân). Chiến tranh, khủng hoảng, thay đổi thể chế, quyết định của tầng lớp lãnh đạo, và những vị lãnh đạo cụ thể cũng có ảnh hưởng tới những gì đã và đang xảy ra, nhưng thay đổi văn hóa và cấu trúc là những yếu tố chủ yếu trong sự xuất hiện và sống sót của nền dân chủ.

    Hiện đại hóa đưa giáo dục lên một tầng cao mới, đăt lực lượng lao động vào những công việc đòi hỏi tư duy độc lập, và làm cho mọi người gắn kết hơn và được trang bị tốt hơn để tham gia vào chính trị. Khi các xã hội "tri thức" xuất hiện, người ta trở nên quen với việc sử dụng những sáng kiến và đánh giá của bản thân trong công việc, và họ cũng sẵn sàng đặt những câu hỏi cho hệ thống cai trị cứng rắn và mang tính cấp bậc hơn.

    Hiện đại hóa cũng khiến người ta đảm bảo hơn về mặt kinh tế, và các giá trị biểu lộ bản thân trở nên phổ biến, khi phần lớn dân số lớn lên mà không phải lo lắng tới làm gì để có thể tồn tại. Sự ao ước tự do và quyền tự quyết là khát vọng chung. Chúng có thể tạm khuất sau những nhu cầu thiết yếu hơn, khi người dân phải lăn lộn để tồn tại, nhưng khi cuộc sống đã được đảm bảo, mức độ ưu tiên của chúng sẽ ngày càng tăng. Động lực cơ bản của dân chủ - khát vọng của con người về lựa chọn tự do -- sẽ bắt đầu đóng một vai trò quan trọng. Người ta bắt đầu đặt quan tâm vào lựa chọn tự do trong chính trị, và bắt đầu yêu cầu các quyền tự do chính trị và dân sự, và các thể chế dân chủ.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Có lẽ đây là một trong những bằng chứng đầu tiên cho thấy các giá trị "biểu lộ bản thân" đang dần dần xuất hiện trong tầng lớp trung lưu Việt Nam:

    Vnexpress viết:
    Hỗn loạn tại chung cư cao cấp The Manor

    Bị chặn xe do không nộp phí từ chiều 2/3, cư dân tòa nhà The Manor Hà Nội đã tụ tập phản đối chủ đầu tư Bitexco cho đến tận trưa ngày 3/3. Đa phần dân cư không có ý định giải tán khiến các lối ra vào trong khu "nội bất xuất, ngoại bất nhập" đối với mọi ôtô.

    Không có sự thống nhất với ban đại diện lâm thời của khu dân cư, một số người dân đã tự ý chặn những lối ra vào khác khiến toàn bộ ôtô trong khu thành "nội bất xuất, ngoại bất nhập".

    Người dân dán những biểu ngữ trên kính trước ôtô của mình.

    Nội dung của những biểu ngữ này rất khác nhau, nhưng đều tập trung đòi quyền lợi đối với khu để xe.

    Sáng nay, rất nhiều người dân nghỉ việc để tụ tập đòi quyền lợi, bất chấp trời mưa lạnh...

    Cuộc biểu tình tự phát này vi phạm quy định tụ tập trên 5 người là phải xin phép. Nhưng cũng may, Đảng ta rất rộng lượng, miễn là không tụ tập biểu tình phải đối Đảng thì cho các bác các anh các chị tụ tập vô tư :D