Phát triển dẫn tới dân chủ như thế nào? (Phần đầu)

  • Bởi Billy
    02/03/2009
    2 phản hồi

    Ronald Inglehart và Christian Welzel <br/>
    Billy chuyển ngữ

    <strong>Tóm tắt:</strong> Các thể chế dân chủ không thể tạo dựng được dễ dàng; chúng có xu hướng nổi lên chỉ khi một số điều kiện về xã hội và văn hóa tồn tại. Nhưng sự phát triển kinh tế và hiện đại hóa đã thúc đẩy những điều kiện này theo một hướng đi đúng và làm tăng khả năng phát triển của dân chủ. <br/> <br/>

    Ronald Inglehart là giáo sư chính trị học tại trường Đại học Mi-chi-gân và là người quản lí của tổ chức Điều Tra Các Giá Trị Thế Giới; Christian Welzel là giáo sư chính trị học tại Đại học Brement, Đức. Cả hai là đồng tác giả của cuốn “Hiện đại hóa, thay đổi văn hóa và dân chủ”.

    Những điều chúng ta biết về hiện đại hóa

    Trong vài năm gần đây, sự nở rộ dân chủ đã nhường bước cho sự thoái trào dân chủ. Giữa năm 1985 và 1993, có một sự chuyển đổi sang dân chủ ở nhiều nước và điều này tạo ra khá nhiều lạc quan về tương lai của dân chủ. Nhưng gần đây, dân chủ đã đi xuống ở Băng-la-đét, Ni-giê-ri-a, Phi-líp-pin, Nga, Thái Lan và Vê-nê-duê-la. Những nỗ lực của chính quyền Bush trong việc tạo dựng dân chủ ở Áp-ta-nít-tăng và I-rắc có vẻ đã làm cho cả hai quốc gia lâm vào hỗn loại. Những việc này, cùng với sự lớn mạnh của Nga và Trung Quốc đã làm nhiều người cho rằng dân chủ đã đi qua đỉnh điểm và sẽ không phát triển nữa.

    Đây là một kết luận sai lầm. Những điều kiện quan trọng của các xã hội trên thế giới cho thấy chúng ta đang có một thực tế phức tạp. Tin xấu là sẽ là không thực tế nếu ai đó giả định rằng các thể chế dân chủ có thể tạo dựng một cách dễ dàng, gần như ở mọi nơi, mọi lúc. Tuy viễn cảnh là không bao giờ tuyệt vọng nhưng dân chủ có xu hướng nổi lên và tồn tại ở những điều kiện xã hội và văn hóa nhất định. Chính quyền Bush đã bỏ qua thực tại khi cố gắng tạo dựng dân chủ ở I-rắc mà không tạo dựng được an ninh nội địa và bỏ qua các điều kiện văn hóa.

    Tuy nhiên, tin tốt là theo như những dẫn chứng thực tế thì những điều kiện cho dân chủ đang dần nổi lên với quá trình hiện đại hóa. Hiện đại hóa là một đặc trưng của những thay đổi xã hội liên quan tới công nghiệp hóa. Quá trình này xâm nhập vào tất cả các khía cạnh của đời sống, tạo nên việc chuyên nghiệp hóa, đô thị hóa, chất lượng giáo dục và tuổi thọ nâng cao cũng như kinh tế phát triển nhanh. Điều này cũng tạo ra một quá trình tự củng cố trong chính trị và về lâu dài làm cho các thể chế chính trị dân chủ có xu hướng phát triển hơn. Ngày hôm nay, chúng ta có một cái nhìn rõ hơn bao giờ hết về quá trình hiện đại hóa này đã xuất hiện như thế nào.

    Điều này có nghĩa là sự bùng nổ kinh tế ở Trung Quốc và Nga sẽ có những tác động tích cực: những thay đổi quan trọng đang diễn ra tạo điều kiện cho sự nổi lên của những hệ thống chính trị dân chủ và tự do trong những năm tới.


    Xu hướng tiến tới dân chủ về lâu dài đã luôn đi cùng với sự trào dâng và thoái trào. Đầu thế kỉ 20, chỉ có một nhúm các nước dân chủ tồn tại, và nhiều nước này còn thậm chí không thỏa mãn được các tiêu chuẩn dân chủ của ngày nay. Có một sự tăng trưởng rõ rệt của số lượng nước dân chủ sau thế chiến I, một sự trào dâng nữa sau thế chiến II và một làn sóng nữa cuối chiến tranh lạnh. Mỗi đợt sóng luôn đi cùng với một sự thoái trào nhưng số lượng nước dân chủ không bao giờ trở lại mốc ban đầu. Đầu thế kỉ 21, có khoảng 90 quốc gia được coi là dân chủ. Mặc dù các nước dân chủ này có nhiều khuyết điểm, xu thế chung vẫn là: về lâu về dài, sự hiện đại hóa sẽ đem đến dân chủ. Điều này có nghĩa là sự bùng nổ kinh tế ở Trung Quốc và Nga sẽ có những tác động tích cực: những thay đổi quan trọng đang diễn ra tạo điều kiện cho sự nổi lên của những hệ thống chính trị dân chủ và tự do trong những năm tới. Nó cũng có nghĩa là sẽ không còn lí do nào cho những lo sợ về việc dân chủ luôn ở thế bị động. Sự năng động của việc hiện đại hóa và dân chủ hóa đang dần trở nên rõ ràng và có vẻ chúng sẽ tiếp tục vận hành trong thời gian tới.

    Cuộc tranh luận lớn

    Khái niệm về hiện đại hóa có một lịch sử lâu dài. Trong thế kỉ 19 và 20, lí thuyết của Mác về hiện đại hóa cho rằng việc bãi bỏ tài sản tư sẽ làm chấm dứt bóc lột, bất công và tranh chấp. Cùng thời, một phiên bản của CNTB cho rằng phát triển kinh tế sẽ làm tăng mặt bằng cuộc sống và phát triển dân chủ. Hai quan điểm về hiện đại hóa đã cạnh tranh nhau khốc liệt trong suốt chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, vào thập kỉ 70, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu trì trệ và phát triển kinh tế hay dân chủ hóa cũng không rõ ràng ở những nước nghèo. Không có một phiên bản nào của chủ nghĩa không tưởng trở thành hiện thức và nhiều người cho rằng lí thuyết hiện đại hóa đã chết.

    Nhưng từ cuối chiến tranh lạnh, lí thuyết hiện đại hóa đã bao trùm lên cuộc sống mới và một phiên bản mới của lí thuyết hiện đại hóa nổi lên với ngụ ý rằng cách hiểu của chúng ta về việc phát triên kinh tế toàn cầu sẽ đi đầu. Bỏ qua những cái quá đơn giản của những phiên bản đầu tiên, khái niệm mới của việc hiện đại hóa tạo ra những tia sáng cho sự thay đổi văn hóa như việc nổi lên của bình đẳng giới, làn sóng dân chủ hóa gần đây hay lí thuyết dân chủ hòa bình.

    Trong hầu hết lịch sử của con người, quá trình phát triển công nghệ diễn ra rất chậm và những phát triển trong việc sản xuất lương thực cũng chỉ đủ bù đắp cho việc tăng dân số. Những nền kinh tế nông nghiệp đi vào một trạng thái khá ổn định và không có tăng trưởng trong mặt bằng sống. Lịch sử đã được coi là xoay vòng hoặc đi xuống từ những kỉ nguyên hoàng kim đã qua. Tình thế đã thay đổi với cuộc cách mạng công nghiệp và việc phát triển kinh tế bền vững. Điều này đã dẫn đến các cách nhìn của những người tư bản và cộng sản về phát triển kinh tế. Mặc dù hai tư tưởng này cạnh tranh nhau rất khốc liệt, cả hai đều hướng đến phát triển kinh tế, cải thiện xã hội và đem nhiều người tham gia vào chính trị. Mỗi bên đều tin tưởng rằng các quốc gia phát triển của các nước thế giới thứ ba sẽ đi theo con đường của mình để đến với hiện đại hóa.

    Vào thời kì đỉnh cao của chiến tranh lạn, một phiên bản của lí thuyết hiện đại hóa đã nổi lên ở nước Mĩ trong đó miêu tả việc kém phát triển như là hệ quả của những đặc tính tâm lí cũng như văn hóa của một đất nước. Việc kém phát triển được cho là thể hiện tôn giáo truyền thống cũng như những quan niệm cộng đồng phi lý kiềm hãm sự phát triển. Những nước dân chủ phương Tây giàu có, theo như lí thuyết đó, có thể tạo ra những giá trị hiện đại và đem quá trình đó và quốc gia thông qua những trợ giúp về kinh tế, văn hóa, quân sự. Tuy nhiên đến những năm 1970, rõ ràng là trợ giúp kinh tế đã không đem lại thịnh vượng hoặc dân chủ và điều này là xói mòn niềm tin vào phiên bản của lí thuyết hiện đại hóa này và làm những người theo chủ nghĩa dân tộc hay quốc gia ngày càng chỉ trích nó nhiều hơn. Nó cũng chịu nhiều chỉ trích của “những người theo lí thuyết lệ thuộc”. Họ cho rằng thương mại với các nước giàu đã bóc lột những người nghèo và làm những nước này trở nên lệ thuộc vào các nước khác. Những người thuộc tầng lớp phía trên trong những nước phát triển thì chào đón suy nghĩ này vì nó có nghĩa là nghèo đói không có liên quan gì tới những vấn đề quốc nội hay tham nhũng của những lãnh đạo địa phương. Đó là điểm yếu của chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Đến những năm 1980 thì lí thuyết này trở nên phổ biến. Các nước thế giới thứ ba có thể thoát khỏi sự bóc lột toàn cầu bằng việc rút khỏi thị trường toàn cầu và sử dụng những chính sách thay thế cho nhập khẩu [1].

    Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hóa - ảnh isdemir

    Gần đây, các chiến lược thay thế cho nhập khẩu đã thất bại rõ ràng. Những nước ít tham gia vào thương mại toàn cầu như Cuba, Miễn Điện hoặc Bắc Triều Tiên không phải là những nước thành công và kém phát triển nhất. Những chiến lược theo hướng xuất khẩu đã tỏ ra hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và cuối cùng là dân chủ hóa. Con lắc đã quay ngược lại và một phiên bản mới của lí thuyết hiện đại hóa đã giành được sự thuyết phục. Việc phát triển kinh tế nhanh ở các nước Đông Á, và sau đó là việc dân chủ hóa của Hàn Quốc và Đài Loan có vẻ như khẳng định một điều cơ bản: việc tạo ra các thị trường trên thế giới sẽ cho phép phát triển kinh tế; việc đầu tư vào các nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng lao động để sản xuất ra những mặt hàng công nghệ cao sẽ tạo ra tầng lớp trung lưu có học vấn cao hơn. Một khi tầng lớp trung lưu này trở nên đủ lớn thì nó sẽ tạo áp lực đòi hỏi dân chủ tự do – một hệ thống chính trị hiệu quả nhất trong những nước tiên tiến. Tuy nhiên, ngày hôm nay, nếu ai đó nhắc đến hiện đại hóa trong một hội nghị về phát triển kinh tế thì ai đó cũng có thể nghe những chỉ trích trở lại của những người theo thuyết lệ thuộc như thể là không có bằng chứng nào mới nổi lên từ năm 1970 cho lí thuyết hiện đại hóa.

    Một sự hiện đại hóa mới

    Rõ ràng là các phiên bản trước của thuyết hiện đại hóa có vài điểm sai lầm. Ngày nay, không ai mong đợi một cuộc các mạng của những thuộc người giai cấp vô sản để từ bỏ sở hữu công và tạo nên một kỉ nguyên không có bóc lột hay tranh chấp. Cũng không ai mong đợi quá việc công nghiệp hóa sẽ dẫn đến các thể chế dân chủ; chủ nghĩa cộng sản và phát xít đã nổi lên từ quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên, rất nhiều dẫn chứng đã cho thấy phần giả định cốt lõi của thuyết hiện đại hóa đã đúng. Việc phát triển kinh tế thường mang đến những sự thay đổi có thể đoán trước được về văn hóa, xã hội hay chính trị. Nhưng các phiên bản trước của thuyết hiện đại hóa cần phải được chỉnh sửa lại ở vài khía cạnh.

    Thứ nhất, việc hiện đại hóa là không tuyến tính. Nó không đi theo một hướng nào nhất định mà quá trình đó đi quá những điểm công. Những thực nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng thời kì hiện đại hóa đi liền với những thay đổi thế giới quan của con người. Công nghiệp hóa dẫn đến những sự thay đổi lớn, tạo bộ máy hành chính cồng kềnh, phân tầng, tập trung quyền lực, sự cô lập và sự chuyển dịch từ những giá trị truyền thống sang giá trị dựa trên lí trí. Sự nổi lên của xã hội hậu công nghiệp đem lại những sự thay đổi văn hóa theo một hướng khác: thay vì tạo dựng bộ máy hành chính cồng kềnh và tập trung, xu hướng mới là tăng dần nhấn mạnh vào sự tự chủ cá nhân và những giá trị của việc tự biểu lộ. Xu hướng này đã dẫn đến sự giải phóng nhiều hơn từ những người có quyền.

    Thứ hai, con đường thay đổi của xã hội và văn hóa còn phụ thuộc vào lịch sử. Mặc dù việc phát triển kinh tế thường đem đến những thay đổi có thể dự đoán trong thế giới quan của con người nhưng những di sản của xã hội – như đạo Tin Lành, Thiên Chúa giáo, đạo Hồi, đạo Khổng, hay chủ nghĩ cộng sản – sẽ vẫn còn ảnh hưởng lâu dài trong thế giới quan đó. Giá trị hệ thống của xã hội thể hiện sự tương tác giữa những động lực hiện đại hóa và những ảnh hưởng dai dẳng của truyền thống. Mặc dù những người theo thuyết hiện đại hóa cổ điển ở cả phương Đông và phương Tây đều nghĩ rằng tôn giáo và nghi thức truyền thống sẽ bị triệt tiêu, cả hai đều thể hiện sức bền của chúng. Mặc dù phần đông những xã hội công nghiệp ngày càng trở nên giàu có hơn và có mức học vấn cao hơn, nhưng việc tạo ra một giá trị toàn cầu thống nhất là khó xảy ra. Những di sản văn hóa sẽ vẫn tồn tại lâu dài.

    Thứ ba, hiện đại hóa không phải phương Tây hóa. Điều này trái ngược với điểm chính của phiên bản trước của lí thuyết. Quá trình công nghiệp hóa bắt đầu từ phương Tây, nhưng trong vài thập kỉ qua, Đông Á là nơi có mức phát triển kinh tế cao nhất thế giới. Nhật đứng đầu thế giới về tuổi thọ trung bình và một vài chỉ số khác. Mĩ không phải là hình mẫu cho việc thay đổi văn hóa toàn cầu và các xã hội đang công nghiệp hóa sẽ không trở thành như Mĩ – một phiên bản khá phổ biến mà thuyết hiện đại hóa dự đoán. Thực tế, xã hội Mĩ vẫn gìn giữ những giá trị truyền thống hơn những nước có thu nhập cao khác.

    Kiến thức xã hội không thể áp dùng một cách hiệu quả nếu không có phần đông dân chúng hiểu biết hoặc tự biết nghĩ. Thêm vào đó, việc an ninh kinh tế lên cao cũng tạo ra sự nhấn mạnh hơn vào quyền biểu lộ cá nhân – một thứ mà đánh giá cao tự do lựa chọn cũng như thúc đẩy các hoạt động chính trị.


    Thứ tư, việc hiện đại hóa không dẫn đến dân chủ ngay lập tức. Thay vào đấy, đó là một con đường dài, dần dần tạo ra những thay đổi về xã hội và văn hóa làm cho việc dân chủ hóa dễ dàng hơn. Việc có GDP trên đầu người cao không thôi không hẳn sẽ tạo ra dân chủ. Nếu điều đó xảy ra thì Ko-oét và các tiểu vương quốc Ả rập sẽ trở thành các mô hình dân chủ (các quốc gia này chưa trải qua quá trình hiện đại hóa như nói ở trên). Nhưng việc nổi lên của xã hội tiền công nghiệp tạo ra những thay đổi về văn hóa và xã hội thuận lợi cho dân chủ. Kiến thức xã hội không thể áp dùng một cách hiệu quả nếu không có phần đông dân chúng hiểu biết hoặc tự biết nghĩ. Thêm vào đó, việc an ninh kinh tế lên cao cũng tạo ra sự nhấn mạnh hơn vào quyền biểu lộ cá nhân – một thứ mà đánh giá cao tự do lựa chọn cũng như thúc đẩy các hoạt động chính trị. Trên mức đó, việc né tránh dân chủ hóa là rất khó khăn, bởi vì đàn áp đòi hỏi của số đông cho những khoảng không xã hội rộng mở hơn sẽ trở nên quá đắt đối với hiệu quả kinh tế. Do đó, trong những bước cao hơn, việc hiện đại hóa tạo ra thay đổi xã hội sẽ làm các thể chế dân chủ dễ nổi lên và phát triển hơn.

    Ý tưởng cốt lõi của lý thuyết dân chủ hóa là việc phát triển kinh tế hay khoa học kĩ thuật đem lại những thay đổi về xã hội, văn hóa và chính trị. Có rất nhiều dẫn chứng thực nghiệm chứng minh điều này. Phát triển kinh tế có liên quan chặt chẽ lời sự thay đổi lâu dài về niềm tin và động lực của con người và điều này sẽ tạo ra những thay đổi về vai trò của tôn giáo, động lực làm việc, tỉ lệ sinh sản, vai trò giới tính cũng như quan điểm về tình dục. Nó cũng tạo ra sự đòi hỏi số đông cho các thể chế dân chủ cho những việc làm có trách nhiệm hơn của những người lãnh đạo. Những thay đổi này tổng hợp lại sẽ làm dân chủ dễ nổi lên hơn và làm chiến tranh là không thể chấp nhận được đối với quần chúng.

    ______________________________

    Chú thích:

    [1] Chính sách thay thế nhập khẩu dựa trên một giả định cho rằng các nước nên giảm bớt phụ thuộc nước ngoài bằng việc sản xuất các sản phẩm địa phương thay vì nhập khẩu. Chính sách này có ưu điểm là thúc đẩy sản xuất nội địa và giảm tỉ lệ thất nghiệp nhưng hiệu quả sản xuất thấp kinh tế vì một quốc gia không thể mạnh trên mọi mặt.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Khách viết:
    Mình nghĩ các bạn quên không giới thiệu tên bản gốc.
    Dịch từ How development leads to democracy của tác giả Christian Welzel và Ronald Inglehart

    Cảm ơn bác đã nhắc nhở! Chúng tôi đã viết đầy đủ tên bản gốc của bản dịch.

    Mình nghĩ các bạn quên không giới thiệu tên bản gốc.
    Dịch từ How development leads to democracy của tác giả Christian Welzel và Ronald Inglehart