Ích lợi của dân chủ: Dân chủ thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng như thế nào? (Phần đầu)

  • Bởi tqvn2004
    01/03/2009
    0 phản hồi

    Morton Halperin, Joseph T. Siegle, và Michael Weinstein<br />
    Tqvn2004 lược dịch

    Giới thiệu

    JOANNE MYERS: Vào tháng 11 năm 2003, để kỷ niệm 20 năm ngày thành lập tổ chức Cổ vũ Dân chủ cấp Quốc gia (National Endowment for Democracy), Tổng thống Bush đã có một bài phát biểu với ngôn từ hết sức thận trọng nhằm đề cao những giá trị của dân chủ. Mặc dù ý đồ chính là đưa ra lý do hợp lệ cho việc tấn công Iraq, thông điệp quan trọng trong bài phát biểu này là dân chủ và phát triển là bạn đồng hành, và rằng sự thịnh vượng, sức sống và sự phát triển của con người liên quan trực tiếp tới mức độ tự do mà họ được hưởng hàng ngày.

    Nhìn lại 2 năm vừa qua, tôi chắc chắn rằng có nhiều thính giả có thể không đồng ý cách mà Tổng thống quảng bá quan điểm dân chủ của mình. Mặc dù vậy, những nghiên cứu gần đây, bao gồm cả nghiên cứu của khách mời của chương trình chiều nay, đã chỉ ra rằng thông điệp được đề cập trong bài phát biểu tháng 11 năm 2003 là có lý của nó. Nói một cách khác, các chính phủ dân chủ đã chứng tỏ mình có thể nâng cao mức sống của người dân và khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội tốt hơn nhiều so với các chính phủ độc tài.

    Thông qua nghiên cứu số liệu thống kê trong vòng 40 năm qua tại các lãnh thổ rất khác nhau, từ Trung Quốc và Ấn Độ tới Bun-ga-ry và Bê-la-rút, khách mời của chương trình hôm nay sẽ chỉ ra rằng ý tưởng “phát triển trước / dân chủ sau” không chỉ sai, mà còn dẫn tới những chính sách làm chôn vùi những nỗ lực quốc tế nhằm nâng cao mức sống của hàng trăm triệu người ở các nước đang phát triển. Nói cho cùng, dân chủ không phải là kẻ thù của sự phát triển, mà là một đồng minh không thể thiếu.

    Trong thời điểm mà các lãnh đạo đất nước chúng ta đang tán dương hiệu quả của nền dân chủ ra nước ngoài và các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại luôn gắn liền với những vấn đề về phát triển, tôi rất hân hạnh được đón chào các khách mời của chương trình ngày hôm nay, những người đã tìm hiểu các vấn đề này trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế, và họ đã chuẩn bị để thuyết trình trước chúng ta một tầm nhìn mới về chính sách đối ngoại của Mỹ, một chính sách bao hàm những giá trị tốt đẹp nhất của nền dân chủ và kinh tế Mỹ.

    Xin mời cùng tôi đón chào các vị khách, Mort Halperin, Joseph Siegle, và Michael Weinstein. Các bạn sẽ thấy tiểu sử của họ đính kèm với danh mục khách mời hôm nay.

    Phần phát biểu

    MORT HALPERIN: Michael, Joe, và tôi đề nghị trình tự thuyết trình như sau: Tôi sẽ giải thích tại sao chúng tôi viết cuốn sách, Joe sẽ nói về những gì chúng tôi phát hiện, và rồi Michael sẽ cung cấp cho các bạn những khuyến nghị về chính sách của chúng tôi.

    Chúng tôi có ý định viết về nghiên cứu này kể từ khi để ý tới một điều dường như là nghịch lý, đã tồn tại từ trước nhiệm kỳ của Bush, và vẫn đang tiếp diễn, bất chấp sự thay đổi về cách diễn đạt trong nhiệm kỳ Bush. Đó là, các vị Tổng thống liên tiếp của nước Mỹ đã nói, đặc biệt là sau thời kỳ chiến tranh lạnh, rằng mục đích chính của chính sách đối ngoại Mỹ là đẩy mạnh hoặc tăng cường dân chủ, và chính sách của chúng ta là nhằm hỗ trợ những ai đang đấu tranh để thiết lập và duy trì thể chế dân chủ.

    Thế nhưng nếu bạn nhìn vào hỗ trợ phát triển từ Hợp chủng quốc, từ các tổ chức tài chính quốc tế và thậm chí từ Châu Âu và Cộng đồng Châu Âu, bạn sẽ thấy không hề có lợi ích dân chủ. Đó là, các nước dân chủ, trên thực tế, nhận ít hỗ trợ phát triển hơn các nước không dân chủ. Bạn cũng có thể tìm thấy trong các bài phát biểu, thậm chí cả các hiến chương, của các tổ chức phát triển một niềm tin rằng dân chủ không phải công việc của họ. Họ nói ngày càng nhiều về “một chính phủ tốt” như một khía cạnh của phát triển, nhưng không nói về dân chủ. Những người điều hành USAID (www.usaid.gov) tin rằng công việc của họ là cổ vũ cho sự phát triển, chứ không phải dân chủ. Điều này cho phép họ cân nhắc những vấn đề liên quan đến “chính phủ tốt”, nhưng không đưa ra câu hỏi cơ bản: “Đây có phải là một xã hội dân chủ mà chúng ta muốn hỗ trợ?”.

    Thực vậy, các tổ chức tài chính quốc tế đã, với một ngoại lệ, đặt ra hiến chương trong đó yêu cầu họ không được cân nhắc giữa nước dân chủ và không dân chủ, hoặc như cách nói trong của hiến chương, không phân biệt thể chế chính trị.

    Bên dưới chính sách này của chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế là một tư tưởng về mối liên hệ giữa dân chủ và phát triển. Có một cách nhìn được nhiều người chấp nhận là nước nghèo cần trì hoãn dân chủ tới khi họ phát triển. Hồi tôi còn ở trường đại học, đây là cách nhìn của Scandinavi về dân chủ, rằng chỉ có các nước Scandinavi mới có đủ điều kiện để trở nên dân chủ, và rằng bạn phải có một tầng lớp trung lưu vững chắc trước khi bạn có thể thưởng thức dân chủ. Lý luận này tiếp tục – thể hiện trong bài viết của Samuel Huntington and Seymour Martin Lipset – rằng nếu các quốc gia nghèo trở nên dân chủ, bởi vì sức ép của nền dân chủ là phải đáp ứng quyền lợi của nhân dân, họ sẽ phải vay mượn rất nhiều và chi tiêu theo cách không có lợi cho phát triển – các lý luận này đang được Thủ tướng hiện tại của Mexico dùng để chỉ trích những người tiền nhiệm. Những quyết định tồi này sẽ khiến sự phát triển không xảy ra, và bởi người dân sẽ bực tức, họ sẽ quay lại với nền độc tài.

    Do đó, đơn thuốc là, hãy tìm cho mình một ông độc tài tốt bụng – người ta ít khi giải thích bằng cách nào bạn đảm bảo được ông độc tài đó tiêu tiền để phát triển đất nước thay vì chuyển nó tới tài khoản ngân hàng bên Thụy Sĩ – đợi đến khi ông độc tài đó tạo ra sự phát triển, nhờ đó tạo ra tầng lớp trung lưu, và rồi, không thể tránh khỏi, tầng lớp trung lưu sẽ yêu cầu tự do, và bạn sẽ có chính quyền dân chủ.

    Chúng tôi có linh cảm rằng kế hoạch nêu trên là không đúng. Chúng tôi cũng tin rằng đây là lần đầu tiên chúng tôi có đủ dữ liệu thông kê để phân tich và trả lời câu hỏi: “Liệu một nước nghèo có thể hưởng lợi ích từ dân chủ hay không, khi mà nước đó mong muốn vừa phát triển vừa củng cố nền dân chủ?”

    Thông qua việc phân tích dữ liệu, chúng tôi đã đi đến một số kết luận về chính sách:

    JOSEPH SIEGLE: Có ba giả thiết về lợi ích của nền độc tài đối với nước nghèo và các giả thiết này hiện nay vẫn còn thịnh hành:

    1) Các nước nghèo thực thi chính sách phát triển kinh tế tốt hơn dưới sự điều hành của một nhà nước độc tài, bởi vì nhà nước độc tài có khả năng quản lý và sắp xếp nguồn lực có hạn tốt hơn.

    2) Một khi các nước nghèo đã đạt tới mức phát triển nhất định, các nước này có nền móng cho xã hội dân chủ và sẽ nhiều khả năng chuyển sang thể chế dân chủ thành công hơn.

    3) Nỗ lực dân chủ hóa khi thời cơ chưa chín muồi có khả năng dẫn tới chậm phát triển, và thậm chí cả nội chiến. Nó sẽ làm những khác biệt khó chịu thường thấy trong các quốc gia đa chủng tộc bộc lộ và điều này dẫn đến mất ổn định chính trị.

    Tôi sẽ đưa ra những bình luận của mình về ba giả thiết này, nhưng trước hết hãy làm rõ một vài giả thiết riêng của chúng tôi trong phần này:

    Thứ nhất, các phân tích của chúng tôi tập trung vào các nước nghèo với thu nhập đầu người dưới 2000USD một năm. Chúng tôi làm như vậy bởi vì không ai tranh cãi về việc các quốc gia giàu mạnh có nên đi theo con đường dân chủ hay không, và các nền dân chủ giàu mạnh đều phát triển và liên tục có tài sản và của cải để tích lũy theo thời gian. Câu hỏi đặt ra ở đây là, làm thế nào để đạt được điều đó? Liệu có nên phát triển kinh tế trước?

    Chúng tôi cũng đã cố gắng hết sức để thực hiện phân tích một cách tỉ mỉ nhất: Chúng tôi quan sát tất cả các nước nghèo, đi lùi sâu về quá khứ ở mức độ dữ liệu cho phép, tức từ năm 1960 đến nay. Chúng tôi làm như vậy để tránh những ngộ nhận ảnh hưởng tới giới nghiên cứu trong 50 năm nay, trong đó những quốc gia đơn lẻ thường được dùng như mô hình để chỉ ra quá trình phát triển nên được thực hiện như thế nào.

    Thứ ba, chúng tôi sử dụng một định nghĩa dân chủ tương đối rộng. Chúng tôi muốn đi xa hơn định nghĩa “dân chủ tức là có bầu cử”, nghĩa là phải tính đến các yếu tố khác của nền dân chủ như: cơ chế chia xẻ quyền lực và kiểm tra chéo, cơ chế cho phép dân chúng tham gia quyết định quốc sách, bao gồm cả cơ chế bảo vệ quyền tự do cá nhân. Chúng tôi đã lượng hóa định nghĩa của mình bằng một vài chỉ số độc lập: Thứ nhất là Polity Index, tạo bởi Ted Gurr tại trường University of Maryland; và thứ hai, chỉ số hàng năm về tự do của Freedom House.

    Dựa vào các giả thiết nêu trên, tôi xin được quay lại với 3 giả thiết ban đầu về lợi ích của nền độc tài đối với nước nghèo và nói rõ kết quả phân tích thống kê của chúng tôi.

    Thứ nhất, giả thiết rằng các nước độc tài thực hiện công cuộc phát triển đất nước tốt hơn. Trong 45 năm qua, không có chứng cứ nào chứng tỏ các nước độc tài nghèo tăng trưởng nhanh hơn các nước dân chủ nghèo. Nếu bạn bỏ qua Tây Á, bạn sẽ thấy các nước dân chủ nghèo phát triển nhanh hơn 50%, trung bình, trong giai đoạn này. Các nước Baltic, Botswana, Costa Rica, Ghana, và Senegal tăng trưởng nhanh hơn Angolas, Syrias, Uzbekistans và Zimbabwes. Đó là một thực tế, cho dù đến 25% các nước độc tài không công bố thông tin về nền kinh tế. Chúng tôi cho rằng, nếu các nước này được tính vào con số thống kê, tốc độ tăng trưởng của các nước độc tài còn thấp hơn nữa.

    Các con số thông kê thu được khi chúng tôi nhìn vào các mặt phát triển xã hội - như khả năng tiếp cận nguồn nước sạch, tỷ lệ biết chữ của phụ nữ, chăm sóc sức khỏe – còn cách biệt xa hơn nữa. Lấy ví dụ, xét về tuổi thọ trung bình, các nước dân chủ nghèo thường có tuổi thọ trung bình dài hơn các nước độc tài nghèo khoảng 9 năm. Cơ hội học hết phổ thông trung học lớn hơn 40%. Tỷ lệ trẻ tử vong thấp hơn 25%. Sản lượng nông nghiệp cao hơn khoảng 25%, nếu xét trung bình giữa nước nghèo dân chủ và độc tài. Đây là một con số quan trọng, bởi tới 70% dân số nước nghèo sống ở vùng nông thôn.

    Có rất nhiều cách lý giải con số thống kê này, chúng tôi sẽ đề cập đến trong phần câu hỏi và trả lời. Một đặc điểm khá nổi bật là dân chủ thực hiện việc phòng tránh các thảm họa tốt hơn nhiều so với độc tài. Nếu chúng ta nhìn vào các khủng hoảng tài chính trong vòng bốn thập kỷ vừa qua và chọn ra 20 quốc gia bị ảnh hưởng lớn nhất cho mỗi thập kỷ, chúng ta thu được 80 quốc gia và chỉ có 5 trong đó là quốc gia dân chủ. Tương tự, nếu bạn quan sát các quốc gia có sự sụt giảm GDP đầu người trên năm vào khoảng 10%, xác suất để quốc gia đó là nước dân chủ chỉ bằng một nửa so với nước độc tài.

    Chúng tôi rút ra những kết luận tương tự đối với các vấn đề nhân đạo. Khủng hoảng người tị nạn gần như lúc nào cũng là kết quả của hệ thống chính trị độc tài. Nếu bạn nhìn vào các làn sóng người tị nạn trong vòng 20 năm gần đây, bạn sẽ phải lục lọi trong số 88 trường hợp để tìm ra 1 trường hợp không phải do độc tài. Đó là trường hợp của Sierra Leone vào cuối thập kỷ 90.

    Amartya Sen, người đoạt giải Nobel kinh tế, đã rất nổi tiếng với phát hiện rằng “chưa từng có một nền dân chủ với tự do báo chí nào trên thế giới gặp phải nạn đói lớn”.

    Mọi người ngay lập tức nghĩ rằng tránh được nạn đói là vì áp lực của dân chúng mà các nước dân chủ nghèo phải đối mặt; do đó, chính phủ chi tiêu nhiều hơn vào lĩnh vực y tế và giáo dục, dẫn đến các vấn đề kinh tế vĩ mô khác. Trên thực tế, điều này không đúng. Chúng tôi đã rất ngạc nhiên biết rằng, các nước dân chủ nghèo không chi tiêu nhiều vào y tế và giáo dục hơn các nước độc tài nghèo, xét theo tỷ lệ GDP. Họ cũng không nhận được viện trợ từ bên ngoài nhiều hơn các nước độc tài nghèo. Họ không bị thâm hụt ngân sách lớn. Đơn giản là họ biết sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả hơn thôi.

    Như vậy bí ẩn thành công của nền dân chủ, ở nhiều mặt, chính là sự ổn định theo thời gian. Có lẽ không có ví dụ nào tốt hơn nước Mỹ: Trong toàn bộ lịch sử, ít khi nước Mỹ đạt danh hiệu phát triển nhanh nhất trên thế giới, nhưng, với tốc độ phát triển trung bình chỉ 2% GDP một năm, nó đã tích lũy một cách có hệ thống lượng của cai lớn nhất so với bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử.

    Tôi xin phân tích tiếp giả thiết thứ hai, cho rằng một nước độc tài khi đạt tới mức thu nhập trung bình, họ sẽ chuyển sang dân chủ. Với tốc độ tăng trưởng hạn chế mà chúng ta thấy ở trên, tương đối ít nước độc tài “thực sự” đạt tới mức thu nhập trung bình. Trên thực tế, từ năm 1960 đến nay, chỉ có 6 nước độc tài đạt được GDP trung bình 2000USD một năm.

    Cuốn sách của Fareed Zakaria lý luận rằng, chúng ta không nên thúc đẩy nền dân chủ cho tới khi các nước này đạt thu nhập đầu người 6000USD một năm. Nếu chúng ta nghe lời cuốn sách, trong số 87 quốc gia dân chủ hiện nay, chỉ có 4 nước đủ tiêu chuẩn. Điều này có nghĩa là các quốc gia vùng Baltics, Costa Rica, Balan, Nam Phi và nhiều nước khác chưa đủ điều kiện để trở thành quốc gia dân chủ.

    Chúng tôi không nói rằng các nước dân chủ nghèo thực thi tốt hơn tất cả các nước độc tài nghèo. Rõ ràng có một số ngoại lệ. Tuy nhiên, thậm chí trong số các nước độc tài nghèo đang tăng trưởng, xác suất chuyển sang nền dân chủ khi họ đã tăng trưởng và đạt tới mức thu nhập trung bình cũng không cao hơn so với khi họ còn nghèo. Khi chúng tôi nhìn vào những điểm khác thường của những nước tăng trưởng này, hầu hết nằm ở Tây Á, chúng tôi đã hỏi câu hỏi tại sao họ lại khác biệt với các hệ thống độc tài khác và cái gì đặc biệt ở họ. Chúng tôi sau đó so sánh họ với 65 tới 70 nước độc tài khác với tốc độ phát triển tồi tệ để học tập kinh nghiệm, nhưng phát hiện ra rằng đó là một mô hình phát triển tồi.

    Giả thiết thứ ba và cũng là cuối cùng cho rằng dân chủ quá sớm sẽ đem lại bất ổn. Thống kê cho thấy không có cơ sở vững chắc cho giả thiết này. Điều chúng tôi thấy, rút ra từ những cuộc xung đột trong 15 năm qua, rằng nguyên nhân chủ yếu tạo ra xung đột là đói nghèo. Các nước nghèo thường dễ xảy ra xung đột hơn các nước giàu. Các quốc gia có thu nhập đầu người dưới 2000USD một năm có xung đột xảy ra trung bình một năm trong vòng năm năm, kể từ 1980. Trong khi đó những nước có thu nhập trên 4000USD một năm, xung đột xảy ra trung bình một năm trong 33 năm.

    Khi bạn nhìn vào các nước đang có biến đổi chính trị, bạn sẽ thấy các nước chuyển sang dân chủ có xác suất xảy ra xung đột không lớn hơn so với các nước nghèo khác. Từ sau chiến tranh lạnh, thậm chí họ còn ít bị xung đột hơn. Trong các nước tiểu vùng Sahara Châu Phi, nơi hầu hết các cuộc nội chiến diễn ra trong những năm gần đây, các nước dân chủ hóa có xác suất xảy ra nội chiến thấp hơn một nửa so với các nước nghèo trong cùng khu vực.

    Những quan sát này có ảnh hưởng quan trọng tới vấn đề an ninh thế giới. 30% các cuộc nội chiến tràn sang biên giới nước khác. Nội chiến ở một quốc gia có xu hướng kéo theo sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng trên đầu người của các nước lân cận, trung bình là 0.5% một năm. Điều này dẫn tới khả năng mất ổn định chính trị và biến động kinh tế. Các nước nghèo với cấu trúc nhà nước yếu là nơi các tổ chức quốc tế lợi dụng thiết lập chi nhánh và tiến hành hoạt động.

    Nhìn chung, ba giả thiết quan trọng nhất về lợi ích của độc tài từ trước đến này không được chứng thực bằng phân tích thông kê của chúng tôi. Điều chúng tôi thấy là dạng thức chính phủ hiện này ở một nước đang phát triển có ảnh hưởng quan trọng tới tốc độ phát triển mà nước đó thu được, và nếu cứ theo các giả thiết nói trên mà trì hoãn dân chủ, chúng ta thực tế đang kéo dài sự chậm phát triển và nâng cao khả năng xung đột chính trị và xung đột khu vực, cũng như trì hoãn thời điểm mà người dân có thể lãnh đạo đất nước.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi