Tư Bản và Xã Hội: Hai mặt của một vấn đề

  • Bởi Bien-Tap
    28/02/2009
    3 phản hồi

    Trần Bình Nam

    Không có gì giải thích rõ ràng sự khác biệt giữa khuynh hướng Cộng Hoà và khuynh hướng Dân Chủ tại Hoa Kỳ bằng hai câu nói của tổng thống Ronald Reagan và Barack Obama về vai trò của chính phủ.

    Ngày 20/1/1981 trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống Reagan nói: “Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, chính phủ không phải là giải pháp, chính phủ chính là vấn đề của chúng ta” (nguyên văn: “In this present crisis, government is not the solution to our problem; government is the problem”).

    Tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20/1/2008 thì nói: “Chúng ta không còn thắc mắc chính phủ quá lớn hay quá nhỏ, thay vào đó chúng ta hỏi chính phủ có làm việc hữu hiệu không – có tạo ra công ăn việc làm lương đủ sống, có chế độ săn sóc sức khỏe tốt, có hưu bổng đầy đủ cho người nghỉ hưu không…” (nguyên văn: “The question we ask today is not whether our government is too big or too small, but whether it works -- whether it helps families find jobs at a decent wage, care they can afford, a retirement that is dignified.”)

    Đối với tổng thống Reagan, đại diện cho khuynh hướng Cộng Hoà, nguyên tắc cung cầu là bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế quốc gia. Và chính sách thuế khoá của chính phủ nếu thích hợp (chính yếu là giảm thuế) sẽ tạo điều kiện cho giới tư bản đầu tư tiền bạc đúng lúc đúng chỗ mang lại sự phồn thịnh. Nếu chính phủ dùng quyền viết ngân sách để đánh thuế cao rồi dùng tiền thuế bỏ vào các chương trình chi tiêu và trợ cấp để ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội thì nền kinh tế sẽ héo mòn như một cái cây cần đất khô lại được trồng vào một vùng đất lắm nước. Nói cách khác chính phủ sẽ là nguyên nhân của mọi vấn đề nếu can thiệp vào sự vận hành của luật cung cầu.

    Những người Dân Chủ hiểu luật cung cầu là cốt tuỷ của một nền kinh tế tự do, và vai trò quan trọng của các ngân hàng và các đại công ty trong một nền kinh tế, nhưng họ không khoán trắng vào tay các nhà tư bản. Nếu để hoàn toàn tự do không có sự kiểm soát của chính phủ, lòng tham (bản tính tự nhiên của con người) sẽ làm các nhà tư bản bóp méo sinh hoạt kinh tế và đến một lúc nào đó khủng hoảng kinh tế sẽ bộc phát.

    Mặt khác trong thế giới tư bản của luật cung cầu thành phần có khả năng trí tuệ và đa năng sẽ chiếm thế thượng phong, tích luỹ một tỉ số lớn tài sản quốc gia tạo ra sự chênh lệch khả năng kinh tế giữa các tầng lớp trong xã hội. Cho nên những người Dân Chủ chủ trương chính phủ phải nhúng tay vào sinh hoạt kinh tế, dùng quyền ngân sách để phân phối tài nguyên quốc gia sao cho sự vận hành dưới bảng chỉ đường của luật cung cầu không trở thành méo mó tạo ra bất công xã hội.

    Nói chung người Cộng Hoà hay người Dân Chủ đều biết giới hạn kinh tế tư bản và sự cần thiết của sự can thiệp của chính phủ. Cái khác biệt là mức độ.

    Kinh tế thị trường huy động sức người sức của hữu hiệu nhưng thỉnh thoảng theo chu kỳ tạo ra khủng hoảng kinh tế. Trong khi sự can thiệp quá nặng tay của chính phủ tạo ra sự trì trệ kinh tế. Cho nên ai cũng thấy sự cân bằng giữa sự vận hành của luật cung cầu và sự can thiệp của chính phủ là cần thiết.

    Và đó là lý do tại sao tại Hoa Kỳ qua các cuộc bầu cử định kỳ đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hoà thay phiên nhau cầm quyền để sinh hoạt kinh tế (và qua đó sinh hoạt chính trị) được điều chỉnh vĩ mô qua thời gian, và tại sao nếu đảng này vào toà Bạch Cung thì đảng kia thường nắm Quốc hội để làm nhiệm vụ đối lập điều chỉnh vi mô các chính sách kinh tế làm cho sinh hoạt xã hội được hài hoà.

    Trên thực tế, Lực lượng Tư bản và Sự Can thiệp của Chính phủ là hai điều đều cần thiết và bổ túc cho nhau. Tuy nhiên mỗi lần do điều kiện kinh tế phải chuyển đổi “chính trị” từ phương thức này sang phương thức khác bởi quyết định của dân qua bầu cử thì phe mất quyền chính trị thường có khuynh hướng đối kháng để kềm hãm phe thắng thế không đi quá đà trong các chính sách mới, đồng thời chuẩn bị thế chính trị cho khuynh hướng của mình.

    Và khi sự chuyển đổi chính trị là kết quả của một tình trạng khủng hoảng xã hội và kinh tế thì phản ứng đối kháng càng mạnh mẽ. Và điều này giải thích sự phản kháng đầy mầu sắc đảng phái của đảng Cộng Hoà đối với luật kích thích kinh tế 787 tỉ vừa được tổng thống Obama ký ban hành ngày 17/2/2009. Các lý lẽ phản kháng (như quá nhiều chương trình chi tiêu, quá nhiều chương trình trợ cấp, chương trình phi lý như giúp những người mất nhà do họ thiếu trách nhiệm khi vay tiền mua nhà biết rằng mình không có khả năng trả ...) đều hữu lý trên mặt lý thuyết nhưng không hữu lý trên mặt thực tế. Khi con bệnh đang hồi thập tử nhất sinh phương thuốc cần nặng về chữa trị biến chứng hơn là nặng về chữa trị nguyên nhân có tính dài hạn. Và đó là bản chất và nội dung của luật kích thích kinh tế 787 tỉ mỹ kim.

    Trong 8 năm cầm quyền tổng thống George W. Bush áp dụng đường lối kinh tế thuần tư bản đặt nặng trên hai nguyên tắc làm kim chỉ nam từ thời tổng thống Reagan là (1) giúp đỡ cho các đại công ty phát triển làm ăn, tin rằng người nghèo sẽ được hưởng phúc lợi theo (trickle –down economics) và (2) giảm thuế - nhất là giảm thuế cho những người giàu có, những tay tư bản – để các nhà tư bản có thêm tiền đầu tư làm cho nền kinh tế chuyển vận mang lại phúc lợi cho xã hội (supply-side economics).

    Tuy nhiên chính phủ Cộng Hoà đã tạo ra một khung cảnh sinh hoạt kinh tế thiếu kiểm soát đưa đến quá đáng và lợi dụng. Giới tư bản (tượng trưng là Wall Street và Main Street – Thị trường Chứng khoán và Ngân hàng) được tự do do sự phá bỏ các khâu kiểm soát (regulations) trở nên làm ăn thiếu nguyên tắc. Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất quá thấp và quá lâu, các dân biểu kiếm phiếu bằng cách khuyến khích mọi người mua nhà dù không đủ điều kiện và làm ngơ trước mọi dấu hiệu bất ổn đã đưa đến cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ vào tháng 9/2008. Sau gần 6 tháng (9/2008 – 2/2009) các cơ sở tài chánh lớn và các ngân hàng kếch xù trụ cột của kinh tế quốc gia hoàn toàn sụp đổ và mới nhất là sự lung lay của hai đại ngân hàng còn sống sót là Bank of America và City Bank. Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất và trầm trọng nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng năm 1929.

    Và đã có khủng hoảng kinh tế thì chính phủ phải can thiệp.

    Đó là điều từng xảy ra như một nguyên tắc, mặc dù mỗi lần xẩy ra đều có cuộc tranh cãi giữa các chính trị gia và các nhà kinh tế về mức độ và sự hữu hiệu của phương pháp chữa trị.

    Trong cuộc đại khủng hoảng năm 1929 tổng thống Franklin D. Roosevelt đã thành lập Tổng Cục Tìm Việc Làm (Work Projects Administration – WPA) tạo ra 8 triệu công ăn việc làm, thành lập chương trình An sinh Xã hội (Social Security) cho người nghỉ hưu và người già cũng như các cơ chế bảo vệ và kiểm soát như FDIC (Federal Deposit Insurance Commission) và SEC (Securities & Exchange Commisssion). Trong cuộc khủng hoảng tháng 9/2008 tổng thống Bush cũng đã khẩn cấp quốc hữu hoá hai đại công ty cho vay tiền (chính yếu để mua nhà) sạt nghiệp Fannie Mae và Fredie Mac và vội vàng thông qua luật cho phép Bộ Tài chánh tiêu 700 tỉ mỹ kim cứu nguy các cơ sở tài chánh nòng cốt của nền kinh tế quốc gia đang trên đà sụp đổ.

    Và sau khi tổng thống Obama nhậm chức, công việc đầu tiên của ông là thúc đẩy quốc hội, và chưa đầy một tháng đã ký ban hành ngân sách kích thích kinh tế (stimulus package) 787 tỉ mỹ kim gồm gần 25% giảm thuế theo yêu sách của đảng Cộng Hoà, và còn lại cho các chương trình tạo công ăn việc làm ngay trước mắt và xây dựng căn bản hạ tầng cho sự phát triển bền vững như sửa chữa đường sá, cầu cống, trường học, hệ thống điện toán đa dẫn (broadband), chương trình tự túc năng lượng...

    Các nhà kinh tế tư bản cũng như một số dân biểu nghị sĩ đảng Cộng Hoà cho rằng ngân sách 787 kích thích kinh tế của tổng thống Obama không giúp đặt căn bản cho sự phát triển dài lâu như sự giảm thuế cho giới tư bản và khuyến khích giúp đỡ các đại công ti. Họ quên rằng các chính sách trên đã được thi hành trong 8 năm của Bush và vì quá tin vào sự nhiệm mầu của thuyết supply-sidetrickle-down quên cả nhiệm vụ kiểm soát đã đưa đến tình trạng nguy ngập hôm nay.

    Người ta phê bình đảng Dân Chủ và ông Obama đang áp dụng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của Âu châu, hậu quả sẽ làm cho Hoa Kỳ trở nên nghèo khó thiếu thốn như tại Âu châu. Sự phê bình này có giá trị ở chỗ Hoa Kỳ là một nước tư bản và nền kinh tế tư bản cung cầu của nó đã giúp nước Mỹ thành cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng sự phê bình không có giá trị ở chỗ là nếu không tạm thời Âu châu hoá nền kinh tế Hoa Kỳ thì trận bão táp kinh tế 2008 này có thể sẽ làm tê liệt quốc gia. Các nước Âu châu không phải bỗng nhiên có một chế độ kinh tế tư bản đậm mầu sắc xã hội như hiện nay, trong đó sự giúp đỡ người yếu kém trong xã hội cũng cần thiết như sự phát triển kinh tế. Là một lục địa già và cũ (Old Europe - theo lời của cựu bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld) Âu châu đã trải qua mọi thử thách, và có thể họ đang chọn cái giải pháp mà họ cho là tối hảo.

    Chương trình kích thích kinh tế tổng thống Obama vừa ký ban hành sẽ làm chậm lại đà suy thoái kinh tế hiện nay, đó là điều không cần bàn cãi. Điều cần bàn cãi là nó có giúp cho nền kinh tế phục hồi hoàn toàn hay không, và một câu hỏi then chốt khác là hệ lụy thâm thủng ngân sách (để có tiền kích thích kinh tế) là một gánh nặng con cháu chúng ta có kham nổi hay không. Vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới sau cuộc khủng hoảng này hoàn toàn lệ thuộc vào đáp số của hai câu hỏi trên.

    Nhìn rộng ra, hình như chính trị kinh tế thế giới biến chuyển qua lại giữa hai quan niệm phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Khi tình trạng phát triển kinh tế gặp trở ngại như suy thoái kinh tế đe doạ an sinh xã hội thì các biện pháp mang lại an sinh xã hội trở thành ưu tiên. Khi các biện pháp quá chú trọng về an sinh xã hội làm cho kinh tế bị ngưng trệ thì đó là lúc giảm sự can thiệp của chính phủ đề nền kinh tế được tự do.

    Khi những người lập quốc Hoa Kỳ hình thành trên căn bản một chế độ lưỡng đảng, một bên Cộng Hoà chủ trương phát triển là chính (dân sinh sẽ được phục vụ do thành quả của kết quả kinh tế), một bên Dân Chủ chú trọng đến dân sinh (phát triển là một quan tâm nhưng ưu tiên sau dân sinh) bảo đảm bởi một Hiến pháp đa đảng họ đã thấy sự vận hành này của xã hội mà mọi chế độ chính trị đều phải tuân theo như một quy luật. Cho nên sự tranh cãi giữa Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ không là một vấn đề. Đó là một sinh hoạt dân chủ để làm cho Hoa Kỳ luôn là một quốc gia hùng mạnh trong khi nhân dân được bảo đảm một đời sống tự do, phóng khoáng và đầy đủ.

    Thuyết Mác xít do Karl Marx và Engels chủ trương trên bản chất là một nỗ lực giải quyết bất công xã hội do cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Anh quốc (cuối thế kỷ 18 kéo dài sang đầu thế kỷ 19) mang lại như môi trường bị huỷ hoại, đời sống kinh tế chênh lệch, thành phần thợ thuyền bị bóc lột... Nhưng lý thuyết cải tạo xã hội của Marx chủ trương tiêu diệt tư hữu và thị trường đã đi quá đà, chệch hướng, và đã cung cấp một căn bản lý thuyết cho những tay đầu cơ chính trị thiết lập những chế độ độc tài. Chế độ độc tài Mác xít tại Liên bang Xô viết (trong đó chính phủ nắm toàn bộ sinh hoạt kinh tế) đã tàn tạ cùng với các nước Đông Âu, và các chế độ cộng sản tại Trung quốc, và Việt Nam cũng trên con đường tàn tạ nhường chỗ cho kinh tế thị trường.

    Tại Việt Nam chính quyền cộng sản từ năm 1986 đã tạm từ bỏ chế độ kinh tế tập trung trả quyền quyết định kinh tế cho nông dân và các thương gia nhưng vẫn kéo dài cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” trong một nền kinh tế mệnh danh là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lý thuyết “định hướng” này không có gì sai trái nếu nó được dùng như một phương thức để tránh những thái quá của kinh tế thị trường như sự phân nhiệm “Cộng Hoà, Dân Chủ” tại Hoa Kỳ. Rất tiếc tại Việt Nam nó là một công thức để bảo vệ đảng cầm quyền. Đảng nắm các sinh hoạt quốc doanh nói là để bảo vệ xã hội nhưng thực chất là để bảo vệ quyền lợi của đảng.

    Tại Trung quốc có một biến chuyển đáng quan tâm do ông Lý Thành (Cheng Li) nêu ra trong bài viết nhan đề “China’s Team of Rivals” đăng trong tạp chí Foreign Policy số Tháng Ba/Tháng Tư 2009. Theo ông Lý, Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc đã có một quyết định độc đáo trong Đại hội đảng thứ 17 (10/2007) là cất nhắc hai Ủy viên Trung ương đảng trẻ tuổi vào Uỷ ban Thường trực của Bộ chính trị là hai ông Tập Cận Bình (Xi Jinping) và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) để chuẩn bị cho một trong hai trở thành Tổng bí thư đảng vào đại hội đảng thứ 18 năm 2012.

    Hai nhân vật này có khuynh hướng và đường lối chính trị khác nhau. Ông Tập Cận Bình thuộc nhóm có khuynh hướng cởi mở chủ trương kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân (gọi là nhóm Con Dòng – Elitism) (1) trong khi ông Lý Khắc Cường thuộc nhóm có khuynh hướng chăm lo các vấn đề xã hội và sự ổn định của đời sống nông thôn là chính (gọi là nhóm Dân Tuý – Populist). Hình như ông Hồ Cẩm Đào có ý chuẩn bị hai khuynh hướng đối chọi nhau trong đảng như một cơ chế điều chỉnh những thái quá của sự nhắm mắt phát triển bất chấp hậu quả hay sự can thiệp quá sâu đậm của nền kinh tế xã hội tàn dư của nền kinh tế Mác Xít. Có thể đảng Cộng sản Trung quốc đã cảm nhận được rằng đảng không thể giữ tính chính thống và tồn tại nếu tiếp tục đường lối kinh tế dựa vào xuất cảng là chính như hiện nay và đàn áp mọi tiếng nói đối lập của nhân dân. Với công thức mới đảng Cộng sản Trung quốc chuẩn bị cho đối lập lên tiếng qua khuynh hướng Lý Khắc Cường (hoặc ngược lại qua khuynh hướng Tập Cận Bình nếu khuynh hướng Lý Khắc Cường cầm quyền). Mèo trắng mèo đen đều có ích nếu duy trì được sự chính thống của đảng. Và vào đại hội thứ 18 tùy theo đảng Cộng sản Trung quốc chọn đường lối ưu tiên phát triển hay ưu tiên chăm lo dân sinh ổn định xã hội mà ông Tập Cận Bình hay Lý Khắc Cường sẽ được bầu vào chức vụ Tổng bí thư.

    Nếu quả thật đây là thâm ý chính trị của đảng Cộng sản Trung quốc thì chuyển biến này sẽ tạo ra tại Trung quốc một khung cảnh chính trị không khác gì Cộng Hoà và Dân Chủ tại Hoa Kỳ.

    Âu, Á, Tư Bản chủ nghĩa và Xã Hội chủ nghĩa gặp nhau ở đây. Và cuối cùng công thức xã hội Âu châu, một xã hội có tự do dân chủ, có một nền chính trị đa đảng và một chế độ xã hội trong đó người không may mắn và ít khả năng vẫn có thể sống chứ không bị chôn vùi dưới lớp gạch nặng nề của các đại ngân hàng và của các đại công ty sẽ là cái xã hội mà Hoa Kỳ và Trung quốc vốn khởi đầu từ những xuất phát hoàn toàn đối nghịch với nhau sẽ cùng đi đến.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Thien Binh viết:
    Và cuối cùng công thức xã hội Âu châu, một xã hội có tự do dân chủ, có một nền chính trị đa đảng và một chế độ xã hội trong đó người không may mắn và ít khả năng vẫn có thể sống chứ không bị chôn vùi dưới lớp gạch nặng nề của các đại ngân hàng và của các đại công ty sẽ là cái xã hội mà Hoa Kỳ và Trung quốc vốn khởi đầu từ những xuất phát hoàn toàn đối nghịch với nhau sẽ cùng đi đến.

    ...

    Pháp là một thí dụ; quốc gia này rất đặc biệt đề cao sự công bằng xã hội, người Mỹ thường mỉa mai đó là những Robin Hood thời đại bởi những người Pháp có vẻ rất thích lấy của người giàu chia đều cho người nghèo. Vô hình chung việc làm này kiềm chế động lực phát triển,làm nản lòng những tầng lớp tinh túy nhất đồng thời tạo ra một tầng lớp ăn bám xã hội, ngân sách dành cho phúc lợi thâm hụt nặng nề, khả năng phá sản nền kinh tế có thể tới bất kì lúc nào. Tóm lại là một quốc gia đang sa sút toàn diện. Lịch sử đã hơn một lần chứng minh càng đề cao công bằng thì con người càng mất đi tự do.

    Thành công của những quốc gia Bắc Âu hay Đức thực tế lại ít liên quan tới cái gọi là chủ nghĩa xã hội. Theo tôi, nguyên nhân có lẽ là do con người của họ thuần nhất, dân trí đã phát triển tới mức cao nhất và tố chất "thượng đẳng" của dân tộc của họ là nhiều.

    Điều cần thiết cho sự phát triển là cần tạo ra sự công bằng về cơ hội hơn là công bằng về quyền lợi theo kiểu chia đều. Và điều này tôi chỉ thấy tại Bắc Mỹ, mảnh đất của những người di cư, nơi mà ngay một người da đen cũng có thể trở thành tổng thống của siêu cường duy nhất trên thế giới.

    ...

    Hiện nay các quyền lợi an sinh xã hội đang giảm dần.
    TT Pháp thuộc đảng XH bắt đầu có chủ trương theo cánh hữu, giúp các công ty để phát triển kinh tế.
    Đảng XH Pháp đánh thuế cao vào tài sản cá nhân, làm nhiều người giàu bỏ ra nước ngoài như Dépardieu, ...
    Pháp và một số quốc gia đạt tới tiêu chuẩn của chủ nghĩa xã hội, đang gặp vấn đề kém cạnh tranh kinh tế vì mức lương quá cao đối với chủ nhân. Điều này làm sản phẩm tao ra có giá cao và các công ty này bỏ chạy qua các nước khác như TQ, VN, mang danh là CS nhưng thực chất là tư bản sơ khai

    Thành công của Đức một phần là do họ chưa có mức lương tối thiểu bắt buộc. Giá thành không quá cao. Đến 2015 Đức mới có mức lương tối thiểu bắt buộc. Ngoài ra dân Đức làm việc có kỷ luật, tích cực entreprenant

    " ... nguyên nhân có lẽ là do con người của họ thuần nhất, dân trí đã phát triển tới mức cao nhất và tố chất "thượng đẳng" của dân tộc của họ là nhiều. " Câu này của bác Thien Binh có nhiều người không đồng ý nhất là đoạn "tố chất "thượng đẳng" của dân tộc". Tố chất này là gì ? Từ đâu ra ? Chẳng lẽ là do di truyền ? Tôn giáo có ảnh hưởng hay không ?

    Hai từ thị trường nó không có tội gì cả, kẻ có tội là những kẻ lợi dụng hai từ thị trường này để đổ tội cho nó, nhằm che lấp đi những yếu kém và tội của mình.
    Quy luật cung cầu đã có từ nhiều ngàn năm nay trong xã hội loài người(Anh cần gì thì tôi cho, anh cần gì thì tôi đổi cho, anh cần gì thì tôi bán cho), quy luật này bản chất nó đơn giản thuần túy không phức tạp, nhưng trong đời sống con người hàng ngày sao lại xảy ra sự phức tạp? Vì chính con người chúng ta đã làm cho cái quy luật này phức tạp với lý do chính vì lòng tham lam vô độ cố hữu của con người.
    Từ cái lòng tham vô độ đó mà nảy sinh ra muôn loại mưu mô và mánh khóe, mọi thủ đoạn để thỏa mãn lòng tham. Từ sự tham lam vô độ này mà ở Việt nam trong mấy chục năm qua đã hình thành lên một dòng xoáy vấn nạn có tốc độ ngày càng mạnh và lan rộng trong toàn xã hội.
    Có rất nhiều ông cứ động tý là đổ lỗi cho cơ chế thị trường, nhưng tôi thấy ở các nước văn minh minh khác , ở họ cũng có đời sống thị trường đó thôi, sao họ lại không có dòng xoáy vấn nạn như chúng ta? Ở họ bộ máy chính phủ từ trung ương tới địa phương là bộ máy làm việc, còn ở ta là một cỗ máy với những con người núp bóng để sinh tồn kiếm trác hay để làm việc hiệu quả cho bản thân cho đất nước?
    Ở các nước mà ta gọi là nước tư bản thì không biết công dân của họ có nhận họ là công dân tư ban không? Còn công dân ở ta có nhận là công dân xã hội chủ nghĩa không? Và công dân ở những nước văn minh phát triển họ gọi chúng ta là loại công dân gì nào?

    Và cuối cùng công thức xã hội Âu châu, một xã hội có tự do dân chủ, có một nền chính trị đa đảng và một chế độ xã hội trong đó người không may mắn và ít khả năng vẫn có thể sống chứ không bị chôn vùi dưới lớp gạch nặng nề của các đại ngân hàng và của các đại công ty sẽ là cái xã hội mà Hoa Kỳ và Trung quốc vốn khởi đầu từ những xuất phát hoàn toàn đối nghịch với nhau sẽ cùng đi đến.

    Đây có thể là ý kiến đánh giá chủ quan của ông Trần Bình Nam. Người Mỹ có lẽ khó lòng chấp nhận một thể chế xã hội như tại các quốc gia Châu Âu. Những giá trị cũ tại Cựu lục địa là thứ mà những thế hệ di dân đầu tiên đặt chân lên đất Bắc Mỹ đã không bao giờ chấp nhận. Giá trị cốt lõi và quý giá nhất mà người Mỹ luôn đề cao là sự tự do. Cũng chính bởi vậy mà Hoa Kỳ luôn có khả năng sửa chữa những mâu thuẫn và vấn đề nội tại của nó một cách hiệu quả. Giá trị này hoàn toàn khác với mô thức tổ chức xã hội tại Châu Âu. Một số quốc gia châu Âu phát triển ở mức cao đã thật sự đạt tới tiêu chuẩn của chủ nghĩa xã hội. Nhưng bên cạnh đó những quốc gia này cũng gặp phải đầy rẫy những vấn đề mà chính bản thân nó không thể giải quyết được.

    Pháp là một thí dụ; quốc gia này rất đặc biệt đề cao sự công bằng xã hội, người Mỹ thường mỉa mai đó là những Robin Hood thời đại bởi những người Pháp có vẻ rất thích lấy của người giàu chia đều cho người nghèo. Vô hình chung việc làm này kiềm chế động lực phát triển,làm nản lòng những tầng lớp tinh túy nhất đồng thời tạo ra một tầng lớp ăn bám xã hội, ngân sách dành cho phúc lợi thâm hụt nặng nề, khả năng phá sản nền kinh tế có thể tới bất kì lúc nào. Tóm lại là một quốc gia đang sa sút toàn diện. Lịch sử đã hơn một lần chứng minh càng đề cao công bằng thì con người càng mất đi tự do.

    Thành công của những quốc gia Bắc Âu hay Đức thực tế lại ít liên quan tới cái gọi là chủ nghĩa xã hội. Theo tôi, nguyên nhân có lẽ là do con người của họ thuần nhất, dân trí đã phát triển tới mức cao nhất và tố chất "thượng đẳng" của dân tộc của họ là nhiều.

    Điều cần thiết cho sự phát triển là cần tạo ra sự công bằng về cơ hội hơn là công bằng về quyền lợi theo kiểu chia đều. Và điều này tôi chỉ thấy tại Bắc Mỹ, mảnh đất của những người di cư, nơi mà ngay một người da đen cũng có thể trở thành tổng thống của siêu cường duy nhất trên thế giới.

    Mô hình xã hội Việt Nam (hay Trung Quốc) hiện mới chỉ dừng ở mức tư bản nguyên thủy pha màu sắc phong kiến. Trong mỗi người dân vẫn luôn tồn tại một ông quan. Với trình độ ấy mà mơ tưởng tới chủ nghĩa xã hội thì thật là ảo tưởng lắm ru!

    Xây dựng quốc gia theo mô hình chủ nghĩa dân tộc dân chủ, với nền tảng là ý thức dân tộc kết hợp với thể chế dân chủ tự do tạo điều kiện con người có thể phát huy hết tiềm năng đóng góp cho sự trỗi dậy của đất nước có lẽ phù hợp với bản chất của dân Á Châu chúng ta hơn. Nhật Bản và đặc biệt là Hàn Quốc là tấm gương sáng cho sự thành công của những quốc gia dân tộc dân chủ.