Xung đột lợi ích trong nền sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản

  • Bởi htn
    27/02/2009
    0 phản hồi

    Hồ Xuân Thiện

    Nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên tỉ lệ thuận với thiệt hại do việc sử dụng đấy. Việc sử dụng quá mức tài nguyên sẽ gây ra các thiệt hại lớn vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường và tạo hậu quả nghiêm trọng. Ta cần làm gì để tránh?

    1. Tổng quan

    Nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên tỉ lệ thuận với thiệt hại do việc sử dụng đấy. Nhu cầu sử dụng tăng kéo theo thiệt hại tăng. Nhưng do tài nguyên thiên nhiên là số lượng cố định, nên đến một điểm thời gian nhất định nào đấy, việc sử dụng quá mức sẽ gây ra các thiệt hại lớn vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường và tạo hậu quả nghiêm trọng.

    Quan điểm trên cũng đúng với nền sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản (SX NN&TS) của Việt Nam. Nhu cầu xã hội đòi hỏi gia tăng sản lượng NN&TS theo thời gian, trong khi tài nguyên đất đai và nước thì bị suy giảm do quá trình đô thị hoá lấy mất đất nông nghiệp và ô nhiễm nguồn nước.

    Sản xuất NN&TS hiện đại đã làm tăng sự canh tác trên diện tích cực lớn với kiểu gene đồng nhất. Điều này chắc chắn sẽ mang lại sự tăng cả về số lượng lẫn mức độ thiệt hại của các loại dịch hại. Nếu xu hướng này vẫn tiếp tục xảy ra và phát triển như hiện nay thì đến một thời điểm nhất định SX NN&TS của Việt Nam sẽ không còn mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn và tài nguyên sẽ bị suy kiệt.

    2. Vấn đề xung đột lợi ích

    Trong xã hội Việt Nam đã hình thành nhiều nhóm cần những lợi ích khác nhau trong sản xuất NN&TS, và đã bắt đầu có sự xung khắc giữa các nhóm này. Gần đây và cho đến hiện nay, Việt Nam đang phải chứng chịu nhiều loại dịch hại nghiêm trọng. Một trong các vấn đề thời sự là cúm gia cầm, hội chứng vàng lùn-lùn xoắn lá (VLLXL) trên lúa, thuỷ sản nhiễm hoá chất và kháng sinh, và dịch muỗi.

    2.1. Trường hợp dịch cúm gia cầm và hội chứng VLLXL

    Cúm gia cầm được gây ra bởi dòng virus cúm H5N1. Các loài thuỷ cầm có khả năng mang rất nhiều dòng virus cúm khác nhau, kể cả H5N1, mà không biểu hiện triệu chứng bệnh. Quá trình chăn nuôi thuỷ cầm sẽ dẫn đến việc các loài này sẽ là vật chủ lưu trữ và lan truyền của virus cúm. Vì vậy, theo quan điểm dịch tể học thì chăn nuôi thuỷ cầm rất có hại cho việc phòng chống cúm H5N1. Trước đây Việt Nam đã có quy định cấm ấp nở và nuôi thuỷ cầm.

    Hình 1: Lúa bị hội chứng vàng lùn-lùn xoắn lá (trên, tác giả: Hồ Văn Chiến, Trung Tâm Bảo vệ Thực vật Phía Nam), và rầy nâu là tác nhân truyền virus (dưới, bản quyền: Description of Plant Viruses).

    Hội chứng VLLXL trên lúa (hình 1) hiện nay do 2 loài virus (virus lùn lúa cỏ và virus lùn xoắn lá) gây ra (có thể nhiều hơn 2 loài). Hai loài virus này được truyền bởi rầy nâu. Hiện nay, rầy nâu đang xuất hiện trên khắp Nam Trung Bộ và Nam Bộ với mật số rất cao, có lúc lên đến hơn 10.000 con/m2. Phương pháp phòng trừ hiện nay là sử dụng thuốc hoá học để diệt rầy và nhổ bỏ cây lúa bệnh.

    Tuy nhiên, một trong các phương pháp truyền thống diệt rầy hiệu quả và rất kinh tế là nuôi vịt chạy đồng. Vịt con có khả năng diệt rầy nâu rất tốt trên điều kiện đồng ruộng. Vì vậy, tuy bị cấm nhưng ở một số nơi nông dân buộc phải nuôi lại vịt chạy đồng. Do được nuôi trái phép nên số vịt này không được chích ngừa cúm. Lợi ích do nuôi vịt chạy đồng để tiêu diệt rầy nâu, đồng thời trị hội chứng VLLXL đã xung đột với việc kiểm soát cúm H5N1. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã cho phép ấp nở và nuôi thuỷ cầm trở lại, nhưng phải đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền địa phương.

    2.2. Vấn đề thuỷ sản nhiễm hoá chất và kháng sinh

    Việc sản xuất thuỷ sản cũng bị xung đột về lợi ích. Hiện nay tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), thuỷ sản được nuôi khắp nơi trong các ao hồ trên đất liền, hay bè và đăng quần trên sông. Ở nhiều vùng, hàng ngàn hộ nuôi thuỷ sản tập trung dày đặc tạo thành các làng bè ở Châu Đốc, Long Xuyên. Số lượng các loài thuỷ sản cũng khác nhau, chủ yếu là để phục vụ xuất khẩu (cá tra/basa, tôm) rồi đến tiêu thụ nội địa (cá điêu hồng, cá lóc…).

    Các hộ nuôi thuỷ sản để tiêu thụ nội địa tuỳ ý sử dụng các loại hoá chất (ví dụ: green malachite, dùng để trị nấm) và kháng sinh (ví dụ: chloramphenicol). Hai loại này đã được sử dụng như thần dược để làm vệ sinh ao hồ và trị bệnh cá. Tuy nhiên, các hộ nuôi thuỷ sản để xuất khẩu lại không thể sử dụng các hoá chất này, vì nếu tỉ lệ các chất này vượt quá ngưỡng cho phép (chỉ vài phần ngàn tỉ) thì thuỷ sản đã bị cấm xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản. Nhưng có nhiều hộ nuôi thuỷ sản xuất khẩu không hề sử dụng những loại hoá chất này, sản phẩm của họ lại bị nhiễm vì sử dụng cùng nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi những hộ nuôi để tiêu thụ nội địa. Lợi ích của hai loại hộ nuôi thuỷ sản này đã bị xung đột nghiêm trọng.

    Sản xuất nông nghiệp cũng gây xung đột với sản xuất thuỷ sản. Đến mùa sản xuất lúa, các hộ nuôi thuỷ sản lại lo lắng, vì nước sông mang các loại thuốc bảo vệ thực vật (BTTV) từ đồng ruộng đổ ra sông. Vào thời gian này, các loại thuỷ sản bị chết hàng loạt do nhiễm thuốc.

    2.3. Dịch muỗi

    Lúa là sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của miền Nam. Ở vùng này, nước hiện diện trong ruộng lúa quanh năm. Việc lạm dụng các loại thuốc BVTV để phòng trị rầy nâu, ốc bưu vàng và chuột đã vô tình tiêu diệt cả các loài động vật có ích sống trong nước như cá và ếch nhái. Mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng trong ruộng lúa đã đưa đến hậu quả các loài muỗi phát triển với mức độ cực nhanh vì không bị các loài thiên địch tự nhiên khác kiểm soát. Nhiều nơi đã được miêu tả là muỗi đuổi theo người dân giữa ban ngày, và mọi người phải sống trong mùng kể cả ngày lẫn đêm. Dịch sốt xuất huyết cứ đến mùa lại lên. Nông dân sử dụng nhiều thuốc BVTV, và họ đã phải trả giá cho chính hành động của mình. Lợi ích do thuốc BVTV đã làm thiệt hại cho môi trường sống của người dân.

    Nếu muỗi vẫn tiếp tục sinh sản không kiểm soát như hiện nay, trong tương lai không chỉ là dịch sốt xuất huyết phát triển, mà còn sẽ có nhiều loại bệnh do muỗi truyền cũng sẽ trở thành đại dịch… Đấy chỉ là vấn đề thời gian.

    2.4. Các vấn đề khác

    Tập quán ăn uống của người Việt Nam lại gây hại cho các nông dân của họ. Dân ta sử dụng hầu như tất cả các loài sinh vật để làm thực phẩm. Nói đến chim và ếch, người Việt sẽ nghĩ ngay đến các món ăn đặc sản: chim rô ti, đùi ếch chiên bơ và xào lăn… Không ai nghĩ đến việc chúng là các loài ăn côn trùng gây hại, và vì vậy sẽ góp phần bảo vệ môi trường. Chim và ếch cứ mất dần do bị săn bắt và chết do thuốc BVTV. Hiện nay khó mà tìm thấy chúng ở ngoài ruộng. Các loài côn trùng hại lúa sẽ càng phát triển khi không có chim chóc và ếch nhái.

    Lợi ích của người sản xuất thực phẩm cũng đối nghịch với lợi ích của người tiêu dùng. Trong thực phẩm, hàn the (sodium borate) là một loại phụ gia bị cấm sử dụng tại Việt Nam. Trước đây nó được cho là một loại phụ gia vạn năng. Bất kỳ loại thực phẩm nào khi cho hàn the vào đều trở nên ngon lành: cá thịt sẽ tươi lâu, lạp xưởng và chả giò sẽ dai ngon… Nhưng đây là một loại hoá chất cực độc cho người. Hàn the khi vào cơ thể người thì sẽ không bị đào thải, mà sẽ lưu tồn và gây ung thư. Formol cũng vậy, mặc dù biết là sẽ gây hại cho sức khoẻ, nhưng người sản xuất bánh phở vẫn cho vào để làm bánh ngon hơn, để rồi người tiêu thụ bánh phở đấy phải gánh chịu hậu quả.

    Người tiêu dùng thích sữa có nhiều đạm, nhưng doanh nghiệp không thể bổ sung đạm vì sẽ bị giảm lợi nhuận. Vì vậy họ nghĩ ra một cách: thêm melamine vào sữa để tăng lượng nitơ và đánh lừa các máy phân tích đạm lỗi thời. Hậu quả là hàng ngàn trẻ em trên Trung Quốc bị bệnh. Việt Nam vì không có thông số nên không biết bao nhiêu em bị ảnh hưởng. Chắc chắn là con số này không nhỏ.

    3. Giải pháp

    Hình 2: Sự tương quan giữa sản xuất và thiệt hại của mô hình chuyên canh lúa.

    Để giải quyết các mâu thuẫn đã nói, lợi ích và trách nhiệm của các nhóm người trên cần phải được thay đổi. Nếu thay đổi được sự xung đột về lợi ích của các nhóm người sản xuất và tiêu dùng thì sẽ giảm được thiệt hại do các xung đột này gây ra.

    Chủ trương cho nuôi và ấp nở có kiểm soát thuỷ cầm hiện nay tại Việt Nam cần phải được cân nhắc kỹ hơn. Xét về mặt chính sách, chủ trương này sẽ đưa việc ấp nở gia cầm vào tầm kiểm soát của chính quyền. Nhưng liệu các chính quyền địa phương có kiểm soát được không? Vừa qua đã có hiện tượng nhiều địa phương giấu dịch. Nếu cứ cho ấp nở và hiện tượng giấu dịch lại xảy ra, như vậy khác nào lại tạo điều kiện cho dịch cúm gia cầm phát triển mạnh hơn. Chính sách cho ấp nở và nuôi thuỷ cầm chứa tiềm năng nguy hiểm lớn và cần được kiểm soát chặt chẽ. Nên đánh giá chính xác các rủi ro và lợi ích rồi quyết định có nên tiếp tục thực hiện hay chấm dứt chính sách này. Để kiểm soát được rầy nâu, có nhiều biện pháp khác chứ không chỉ là nuôi vịt chạy đồng.

    Rầy nâu và các loài virus gây hội chứng VLLXL nhân mật số theo các vụ lúa trong một năm và qua nhiều năm khác nhau (xem mô hình trong hình 2). Trong điều kiện hiện nay, càng thâm canh lúa thì VLLXL càng phát triển. Đến một điểm tối đa, sản xuất lúa không thể tăng nữa vì các yếu tố giới hạn tăng lên, bao gồm rầy nâu và VLLXL, và sản xuất nông nghiệp sẽ không còn mang lại hiệu quả kinh tế. Ta cần phá vở chu kỳ này bằng cách khi sản xuất chưa đến đỉnh điểm, và thiệt hại vì vậy cũng chưa cao đến mức tối đa, thì chuyển sang một mô hình sản xuất khác có quá trình sử dụng tài nguyên khác, bao gồm các yếu tố giới hạn khác, và vì vậy sẽ phá vở cân bằng hiện có của các thiệt hại.

    Quá trình thâm canh lúa, tăng vụ để đáp ứng đủ số lượng phục vụ cho xuất khẩu có lẽ đã không còn phù hợp do áp lực quá cao lên môi trường và sức khoẻ con người. Đã đến lúc cơ cấu nông nghiệp chú trọng về sản xuất lúa phải thay đổi. Các cơ quan quản lý nông nghiệp cần phải tính toán lại nhu cầu thực phẩm an toàn của cả nước hiện nay, và sản xuất chỉ đáp ứng đủ nhu cầu đấy mà thôi. Thay vào đấy, ta phát triển các loại cây trồng khác, như cây có dầu, rau sạch… mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn lúa.

    Hiện nay cách tốt nhất để giảm áp lực của mật số rầy nâu và các virus hại lúa là thay đổi cơ cấu cây trồng. Tuỳ vào các vùng khác nhau mà có thể làm 1 hoặc 2 vụ lúa trong năm, và trồng các cây trồng khác khi không trồng lúa. Tất nhiên lúa vẫn sẽ đóng vai trò chủ đạo, nhưng cần phải khuyến khích nông dân chuyển sang canh tác các cây trồng khác không phải là ký chủ của rầy nâu và các loại virus hại lúa. Nông dân vẫn sẽ thu lợi từ việc sản xuất cây trồng khác, đồng ruộng không phải ngập nước quanh năm, muỗi cũng không có điều kiện phát triển, rầy nâu cũng không còn nguồn thức ăn liên tiếp và mật số cũng không đến nỗi cao như hiện nay, và áp lực diệt rầy cũng không còn nhiều để đến nổi phải phát triển lại cách chăn nuôi vịt chạy đồng mang tiềm năng gây đại dịch cúm.

    Phải có các giải pháp trước mắt và giải pháp lâu dài để giải quyết vấn đề thuỷ sản nhiễm hoá chất và kháng sinh. Giải pháp trước mắt là kiểm tra và cấm những loại hoá chất này, và đề ra biện pháp chế tài hợp lý đối với những người sử dụng chúng. Hiện nay những người nuôi thuỷ sản đều tự quyết định loài thuỷ sản cần nuôi theo nhu cầu ngắn hạn của thị trường. Cách này không bền vững. Cơ cấu theo vùng các loài thuỷ sản được nôi theo từng khu vực khác nhau cũng cần phải được tính đến để tách các hộ nuôi phục vụ nội địa ra khỏi khu vực các hộ nuôi xuất khẩu. Nên nghiên cứu đề nghị để từng địa phương có phương pháp luân canh các loài thuỷ sản nhằm làm giảm áp lực dịch bệnh và sử dụng thuốc hoá học. Giải pháp lâu dài hơn là nâng cao kiến thức của những người nuôi thủy sản, đồng thời nghiên cứu những phương pháp nuôi sạch phù hợp với điều kiện ĐBSCL và không dùng hoá chất/kháng sinh độc hại.

    Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay đang ảnh hưởng tiêu cực đến nền SX NN&TS. Các sản phẩm, nhất là thuỷ sản, không còn xuất khẩu được với số lượng ồ ạt như trước, nông dân điêu đứng vì lỗ lã. Tuy nhiên, điều này hiện nay lại có lợi cho môi trường nước vùng ĐBSCL vì các sông rạch không phải hứng chịu áp lực quá lớn của chăn nuôi và chế biến thuỷ sản như trước.

    Đối với các vấn đề về ăn uống, hiện nay mối quan tâm hàng đầu của người sản xuất và tiêu thụ là độ ngon của thực phẩm. Họ chưa để ý đến nguồn gốc và sự an toàn của chúng. Có lẽ biện pháp hữu hiện và bền vững nhất và giáo dục và thay đổi nhận thức hiện tại để cả hai cùng từ bỏ thói quen sử dụng các hoá chất có hại trong thực phẩm và chấp nhận thực phẩm an toàn.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi