Liệu chủ nghĩa tư bản có đạo đức? (phần 2)

  • Bởi Billy
    27/02/2009
    0 phản hồi

    Billy chuyển ngữ, <br/>
    American Interest, số tháng 3/4.

    Phần một của cuộc hội đàm có thể xem ở đây.

    Stephanie Flanders: Những nhiều người cho rằng cái chúng ta sản xuất và tiêu thụ có ảnh hưởng tới một vài khía cạnh đạo đức của chúng ta. Trong bài tham luận của Robert Reich, ông ta cho rằng một trong những vấn đề đạo đức của thị trường là nó ngăn cản người tiêu dùng đưa ra những quyết định có lương tâm.

    Jagdish Bhagwati: Reich cũng chỉ miêu tả việc những người có lương tâm, trách nhiệm với các nước nghèo phải giải quyết thói quen tiêu thụ hàng hóa từ những nước này. Tôi rất quan tâm tới tiêu chuẩn lao động ở các nước nghèo nhưng tôi cũng biết rằng con đường chăc chắn nhất để tăng lương và chuẩn lao động ở các nước nghèo là mở cửa thị trường của chúng ta cho sản phẩm của họ và tạo ra nhu cầu đối với những người lao động. Không như Reich, tôi chẳng thấy gì để đổ lỗi cho việc mua các hàng hóa giá rẻ ở các nước nghèo. Thậm chí, tôi cảm thấy đó là một điều tốt.

    Tất nhiên điều này không có nghĩa là tôi sẽ không kiên quyết phản đối việc hàng hóa được sản xuất trong những điều kiện làm tôi nhớ lại những miêu tả đau đớn của Chadwick về điều kiện làm việc trong các nhà máy trong cách mạng công nghiệp. Nhưng một lần nữa câu hỏi cho việc làm thế nào để chúng ta bảo đảm kết quả của nó một cách tốt nhất là một đề tài cho một cuộc tranh luận chính đáng. Tôi nghĩ có nhiều cách làm tốt hơn việc tẩy chay hoặc cấm vận buôn bán.

    Stephanie Flanders: Chuyện chúng ta hành xử thế nào cũng có liên quan ở khía cạnh lương tâm.

    Jagdish Bhagwati: Thực ra thói quen của tôi thể hiện cách hiểu của tôi của những hệ quả kinh tế cũng như cảm nhận cảu tôi về những sự lựa chọn. Khi tôi bị “quấy rầy” chỉ để mua những món hàng đắt hơn như café hay quần áo để cho công bằng trong buôn bán trong đó người sản xuất được trả giá cao hơn giá thị trường thì việc này ngang ngửa với việc hỏi tôi trợ cấp cho những người sản xuất đó. Nếu bạn muốn tiêu xài lòng tốt của bạn theo cách này cũng được. Vậy tại sao tôi lại bị lừa hoặc bị “ép” phải tuân theo lòng tốt của bạn?

    Tôi là một người tự do về mặt lương tâm và có hàng trăm cách khác nhau để tôi trở thành một người vị tha. Thay vì việc trợ cấp, tôi có thể xây dựng một sân thể thao hoặc giúp đỡ những nhóm dân sự chống lại HIV/AIDS. Tôi không đồng ý với nhận định rằng nếu tôi mua café với giá thì cao hơn thì tôi ở một mức độ nào đó đang làm trái lương tâm.

    Stephanie Flanders: Tôi cho rằng một vài kiểu hệ thống thị trường nào đó sẽ có ít những lựa chọn xấu nhất về mặt đạo đức. Tôi không chắc là sẽ có sự đồng thuận về tính công bằng của việc giải cứu tài chính nhưng tôi rất muốn nghe quan điểm của các vị về những cải cách mà chúng ta cần phải làm để có được một thị trường tốt hơn – tốt hơn về mặt đạo đức cũng như hiệu quả hơn về mặt kinh tế.

    Bernard-Henri Lévy: Tôi lạc quan về tương lai bất chấp việc tôi khá nản lòng với việc giải cứu vừa qua. Tiền công đã chảy vào các nhà băng, ở Pháp cũng như ở Anh hay ở Mĩ, và điều này là không đủ để cho một cuộc cải cách thực sự. Các nhà băng đã được cung cấp vốn tư bản thông qua việc chính phủ mua lại các nợ xấu nhưng họ chưa được hỏi một cách chi tiết họ sẽ thay đổi thế nào.

    Tôi nhận ra rằng có những cách lấp chỗ trống đơn giản mà có thể làm mọi việc không trở nên tồi tệ hơn để tránh một sự hoảng loạn. Sự lạc quan của tôi không đến từ việc này cũng không từ quan điểm cho rằng vần đề này chỉ thuộc lĩnh vực tài chính còn các lĩnh vực khác thì không sao – tôi không tin thế - mà sự lạc quan đến từ việc tôi cảm nhận thấy có sự quay lại của chính trị. Một hệ thống thị trường tự do sẽ giải phóng nó khỏi chính trị và những người lãnh đạo Mĩ đã khuyến khích điều này và chứng kiến điều này. Một sự cải cách đạo đức cũng sẽ tạo ra cải cách chính trị và đây là tương lai của chúng ta. Những người sáng tạo ra thị trường tự do, Adam Smith và những người khác, hiểu rằng cái cốt lõi nhất của kinh tế chính là chính trị, không phải theo quan điểm bộ máy hành chính hoặc là ảnh hưởng quá lớn của chính phủ mà trong những điều lệ của nó, trong cơ cấu kiểm tra và cân bằng giữa chính phủ, trong mỗi người dân, trong các cơ quan xã hội cũng như trong các nhà băng. Chính vì thế mà các nhà băng không thể chỉ được cho tiền để hành xử như một người thủ quỹ và giữ toàn bộ số tiền đó. Số tiền đó phải được lưu thông. Nó là dòng máu chảy của một xã hội dân chủ thịnh vượng và hòa bình. Chính phủ không thể bao lãnh hết các nhà băng chỉ vì họ cứ giữ các tín dụng ứ đọng mãi.

    Stephanie Flanders: Ông có thấy giận dữ về việc giải cứu không, Jagdish? Điều này có phải là trái đạo đức không?

    Jagdish Bhagwati:Ồ không. Vô đạo đức không phải là một cụm từ thích hợp ở đây. Một vụ giải cứu hiện này là một hành động cần thiết; nó có giá trị trong trường hợp này. Nhiều người cảm thấy bị chọc tức bởi họ ghét một điều là những con mèo béo mẫm – những người góp phần tạo ra cuộc khủng hoảng này – lại được bảo lãnh trong khi rất nhiều người vô tội phải chịu thiệt thòi. Họ nhìn nhận rằng những người đã lao theo cổ phiếu và trái phiếu thì đáng phải chịu hậu quả của cố phiếu và trái phiếu. Nhưng hãy nghĩ theo cách này: bạn phải chọn một người để chèo thuyền thì bạn sẽ chọn một người đang khủng hoảng và quá yếu để chèo thuyền hay một người khỏe manh, được nuôi dưỡng đầy đủ và có thể giúp bạn sống sót.

    Một phần của những ấn tượng xấu về việc bảo lãnh cũng đến từ việc các CEO của những công ty sản xuất đang bị thua lỗ đã rời khỏi các công tư này với khoản tiền kếch sù từ cổ phiếu trong khi những công ty này ngày trở nên khốn đốn. Điều này là hoàn toàn trái lại với những gì mà tất cả trẻ con ở trong các trường học phương Tây đã được dạy: người thuyền trưởng sẽ chìm xuống cùng con tàu còn những hành khách thì có thể chạy thoát trên những chiếc thuyền phao. Còn ở đây, các CEO lại chạy thoát trên những chiếc phao còn những người công nhân phải chìm cùng nhà máy.

    Stephanie Flanders: Nhưng những ý kiến của ngài chỉ phản ánh đạo đức của các CEO chứ không phải của hệ thống tư bản.

    Jagdish Bhagwati: Cũng không hẳn. Tất nhiên là có những CEO ma mãnh, và luôn tồn tại các hành động phi pháp bất chấp chúng ta kiểm soát tới đâu. Nhưng những động lực tài chính mà chúng ta cấy ghép trong hệ thống tư bản có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm những trò ma mãnh này. Nếu mọi người đều nghĩ các CEO và các nhà quản lí chọn chứng khoán thì nó sẽ tạo ra động lực nâng cao hiệu quả công ty. Nó thực sự diễn ra nếu mọi chuyện đều tốt lành. Nhưng khi công ty thua lỗ, các CEO cùng những thông tin từ bên trong sẽ ở một vị trí có thể bán số chứng khoán đó trước khi nó mất giá. Rõ ràng là những hệ thống này phải được tạo ra để làm việc trong điều kiện bình thường cũng như điều kiện khốn cùng.

    Đó là một sai lầm khi nghĩ rằng Adam Smith không nhận thấy được sự xói mòn đạo đức của các thể chế thị trường và sự sinh tồn của thị trường.


    John Gray: Vâng, tôi xin được trả lời câu hỏi thứ nhất của ngài, Stehpanie bằng việc đưa ra ba đề xuất có tính hàn lâm và hi vọng có một chút cải cách thực tiễn nào đó. Điều thứ nhất, như Bernad-Henri đã nói, là chúng ta nên dừng việc trích dẫn Adam Smith như là một người biện hộ không đủ năng lực cho thị trường tự do. Nếu bạn đọc Adam Smit, không chỉ là cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” mà còn cả cuốn “Lí thuyết về cảm nhận đạo đức” và “Bài giảng về luật học” thì bạn sẽ thấy ông ý là một trong những người suy nghĩ sắc sảo nhất về hệ thống thị trường mà nó đã nổi lên sau đó. Đó là một sai lầm khi nghĩ rằng Adam Smith không nhận thấy được sự xói mòn đạo đức của các thể chế thị trường và sự sinh tồn của thị trường. Thực tế là ông ấy đề xuất lực lượng dân quân quốc gia không phải là để tự vệ mà để thúc đẩy những giá trị mà thị trường làm xói mòn.

    Thứ hai, trở lại với câu hỏi về tính cam kết của người Mĩ với thị trường tự do có phải là một hệ tư tưởng không, tôi cho rằng chúng ta nên tránh việc nói một cách chung chung về thị trường và kinh tế thị trường. Có khá nhiều loại chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới, và chỉ một vài loại, trong đó có cái vừa bắt đầu sụp đổ là có thể gọi là thị trường tự do – không phải vì chúng hoàn toàn tự do, vì sẽ không có cái như thế, mà vì những người quản lí, đánh giá, ủng hộ nó, nghĩ về nó và lại đi giảng giải nó cho chính nó và những người khác. Liệu Trung Quốc có một thị trường tự do không? Còn Nga thì sao? Họ có một loại CNTB khác rất nhiều so với kế hoạch tập trung trước kia. Nhưng không nhà kinh tế hay xã hội học nào gọi đó là nền kinh tế thị trường tự do, và họ cũng không dùng bất cứ loại ngôn ngữ nào như thế. Điều này khiến chúng ta phải quay trở lại với khía cạnh hệ tư tưởng.

    Adam Smith - Ảnh Cobris

    Tôi cho rằng chúng ta có ở đây hôm nay một trường hợp của suy nghĩ về một hệ tư tưởng. Nếu bạn thích sự mở rộng của các thị trường vào các lĩnh vực của cuộc sống nơi mà không thích hợp với nó thì bạn chỉ có thể biện minh cho những thị trường rằng chúng luôn luôn hiệu quả hơn chính phủ. Và đó là một hệ tư tưởng.

    Hơn nữa, cả chính phủ Bush và Clinton đều cam kết đi tới thị trường tự do như một kế hoạch sứ mệnh. Đó không chỉ đơn giản là cách người Mĩ tổ chức đời sống xã hội và kinh tế. Họ không ngừng tuyên truyền với thế giới để đi theo mô hình của Mĩ vì họ cho rằng nói một cách toàn diện thì đây là môt hình tốt nhất. Đây là một điều nổi bật nhất của một hệ tư tưởng mà ai cũng muốn thấy.

    Và đó cũng là điều tôi bác bỏ: không phải loại chủ nghĩa tư bản nào cũng luôn là nhất ở bất cứ nơi đâu. Trong thế giới này, chúng ta nhận thấy, đúng hơn là chúng ta phải nhận thấy, con người có rất nhiều mục tiêu, sở thích và giá trị khác nhau. Đó là tại sao tính linh động của các hệ thống thị trường lại ca ngợi chính nó. Thị trường không phải là hoàn hảo và không bao giờ ngưng chuyển động và nó có thể thích ứng với những yêu cầu xã hội với nhiều giá trị khác nhau. Đó là tại sao thật là bị kịch khi ý tưởng của thị trường bị coi là chỉ có một loại phổ quát và tương thích ở mọi nơi.

    Nhân tiện tôi nói thêm, xã hội cũng như vậy. Một vài người ủng hộ CNTB như Hayek đã nhận ra những lợi ích của bất kì thị trường nào nhưng đặc biệt trong một thị trường tự do và không được quản lí thì nó sẽ không và không thể xứng đáng với những lời khen ngợi của công chúng. Bất kì một nỗ lực nào nhằm đánh đồng phần thưởng kinh tế với những quyết định trừu tượng về việc con người xứng đáng được hưởng sẽ bằng cách nào đó dẫn đến một dạng độc tài. Nó chôn sâu những tiêu chuẩn hiện tại, làm suy giảm năng suất và hạn chế tự do. Đó là tại sao những vấn đề của chúng ta ngày hôm này không thể giải quyết bởi kiểu CNTB nhân từ, mềm dịu hơn. Đó là một khía cạnh gai góc của CNTB, trong đó nó rời xa những chuẩn ý tưởng về đạo đức. Những khía cạnh đó sẽ được bảo vệ bởi những người ủng hộ CNTB. Chúng ta nên bảo vệ tính nhiều nghĩa, sự không hoàn hảo, không phải vì chúng ta thích chúng mà vì bất kì nỗ lực nào thoát ra khỏi chúng sẽ làm mọi thứ tồi tệ hơn.

    Bernard-Henri Lévy:Sự không hoàn thiện là một điều tất yếu của thị trường nhưng nó cũng mang lại các lợi ích. Theo tôi, đây là một ý quan trọng. Tất nhiên Adam Smith không muốn thị trường tự do trở thành một lí tưởng; không một nhà lý thuyết hoặc kinh tế học nào làm thế cả. Một cách nghĩ đúng về thị trường tự do cũng như dân chủ là cả hai ý tưởng chúng ta đều cố gắng thực hiện nhưng chưa bao giờ đạt tới. Đó là một quá trình liên tục không có điểm cuối, có nghĩa là nó không phải là một hệ thống tồi nhưng cũng không phải là hoàn toàn tốt. Từ Adam Smith tới David Ricardo tới Benjamin Constant tới Karl Marx, thì đây là hai yếu tố dính liền với nhau. Hệ thống này không phải quá tồi; nó cho phép văn minh hóa bằng việc mở ra một con đường để dung hòa bạo lực của sự cạnh tranh những tài nguyên quý hiếm. Nhưng nó có vẻ luôn bấp bênh trên bờ vực thẳm thì phải.

    Stephanie Flanders: Vậy còn ý kiến thứ ba của ngài thì sao, John?

    John Gray: Nó là cái tiếp theo của ý kiến thứ hai khi yếu tố địa lí chính trị được đưa vào cuộc thảo luận của chúng ta. Sứ mệnh của người Mĩ đã được thực thi với nhiều sự phản đối và chúng ta thấy ngay ngày hôm nay là một phần của thế giới chống lại sự phổ biến về phong cách Mĩ đang nói rằng họ sẽ trở nên tồi tệ hơn nữa trong cuộc khủng hoảng toàn cầu này nếu họ nghe theo lời khuyên của đồng thuận Washington. Điều đó có nghĩa là chúng không chỉ thấy một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mà còn thấy một sự chuyển dịch địa lí chính trị.

    Stephanie Flanders: Vậy việc người Mĩ không còn có đủ thuyết phục hoặc không đủ tiền để thuyết giảng về thị trường nữa có ý nghĩa gì? Liệu điều này sẽ làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn hay tồi tệ hơn?

    John Gray: Nó sẽ tốt đẹp hơn ở một khía cạnh nào đó và có thể tồi tệ hơn ở một khía cạnh khác. Nó tốt đẹp hơn vì hệ tư tưởng non yếu này và còn trứng nước này đã sụp đổ và chúng ta sẽ không nhìn thấy nó lần nữa trong cuộc đời của chúng ta. Nó có thể tồi tệ hơn vì không ai biết sẽ giải quyết cuộc khủng hoảng thế nào. Thay vì sự hợp tác toàn cầu, chúng ta có thể thấy những gì khá giống năm 1930, thậm chí có thể tồi tệ hơn thời đại của thị trường tự do mà tôi đã phản đối và chỉ trích. Chúng ta có thể thấy một hiện tượng cổ điển của chủ nghĩa bảo hộ và tính cạnh tranh của sự phá giá tiền tệ ở những dạng khác nhau của các nước tư bản. Cho đến bây giờ thì chúng ta về cơ bản đã biết hết điều này.

    Jagdish Bhagwati: Như tôi đã nói hồi trước, chúng ta đang trải qua một sự đi xuống tạm thời chủ yếu ở khu vực tài chính và chúng ta sẽ hiểu được nó và làm nó tốt trở lại. Tôi không nghĩ chúng ta có một cuộc khủng hoảng hệ thống toàn diện trong tay. Hãy để tôi nói rõ hơn: lấy việc mua bán như một ví dụ. Những cuộc khủng hoảng vĩ mô không phải thời điểm tốt để thúc đẩy buôn bán tự do nhưng tôi nghi ngờ chúng ta sẽ quay trở lại với việc bảo hộ nhiều hơn. Không có một nhà làm chính sách nào trên thế giới mà không hiểu được những sai lầm của hệ thống thuế Smoot-Hawley năm 1930 và lặp lại nó. Các nước G-8 và G-20 tiếp tục khẳng định ý định của họ không muốn dùng bảo hộ và nhờ có WTO mà có rất nhiều thủ tục trở ngại và nhờ những trải nghiệm của việc tăng thuế nhập khẩu không kiểm soát mà chủ nghĩa bảo hộ đã không thể bùng nổ dễ dàng.

    Một vài tư tưởng bi quan đến từ nỗi ám ảnh từ nước Mĩ và cách người Mĩ sử dụng thị trường đã bị mất uy tín vì những điều xảy ra ở Mĩ. Chúng ta luôn nghe nhiều người nói cụm từ “Đồng thuận Washington”, một cụm từ khẳng định nước Mĩ là người đi đầu của cải cách tự do, là ngu xuẩn. Nói như thế là không có ý nghĩa. Cải cách tự do ở nhiều nước đến từ việc nhận thức rằng những chính sách phi tự do áp dụng bởi những người phản đối thị trường trước kia đã thất bại, và một bước đi tới chủ nghĩa thực dụng là cần thiết. Sự biện luận của Washington là không cần thiết. Tôi có thể chứng minh điều đó với Ấn Độ nơi mà cải cách đền từ trong nước. Tôi khá chắc chắn những học giả người Pháp và những người phái tả của Mĩ chỉ trích cải cách tự do bao nhiêu thì những người làm chính sách ở những nước phát triển sẽ không chỉ trích các chính sách đó bấy nhiêu vì nó đem lại những lợi ích to lớn và kết quả là nhiều nước đã thoát khỏi đói nghèo.

    Hãy nhìn xem, mọi người sẽ không đóng cửa cái hệ thống đang hoạt động. Họ sẽ khắc phục những điểm yếu của khu vực tài chính như các nước châu Á đã làm trong năm 1997 mà không cần phải hi sinh quá nhiều lợi ích của tự do hóa thương mại. Chính vì thế mà tôi nhấn mạnh một lần nữa rằng chúng ta có thể đang bị ảnh hưởng hơi nhiều bởi cuộc khủng hoảng tài chính hiện thời và của nước Mĩ.

    Tôi cũng muốn nói thêm một điểm nữa về giá trị đạo đức. Những người cải cách theo hướng tự do và ủng hộ toàn cầu hóa như là một cơ hội hơn là một mối đe dọa đang dần đầu trong việc xóa đói giảm nghèo. Những dữ liệu về bình đẳng giới, lao động trẻ em, sức khỏe, và những vấn đề khác cũng chỉ ra chính những cải cách theo hướng thị trường – chứ không phải là những người theo trường phái tự do phương Tây - là một con đường rất tốt để đạt tới những mục đích đạo đức mà nhiều người thừa nhận.

    Thế giới hiện tại không thể chỉ đặt trên vai người Mĩ. Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng này là khá phức tạp, và sẽ còn nhiều chỉ trích nữa... Rất nhiều nước phải chia sẻ trách nhiệm cho những gì đang diễn ra.


    Bernard-Henri Lévy: Tôi cho rằng việc không để bị ám ảnh bởi nước Mĩ mà hãy nhìn vào bức tranh rộng hơn sẽ là một lời khuyên tốt. Và điều này cũng bao gồm những ngụ ý về đạo đức nữa. Thế giới hiện tại không thể chỉ đặt trên vai người Mĩ. Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng này là khá phức tạp, và sẽ còn nhiều chỉ trích nữa. Đằng sau đống hỗn độn về nhà đất còn có việc Trung Quốc đã không chấp nhận tăng giá đồng Nhân Dân tệ để tạo điều kiện cho xuất khẩu. Điều này làm cho những dòng vốn tư bản thế giới đã bị vặn méo và góp phần tạo ra hiện trạng kinh tế toàn cầu như hôm nay. Có một dự đoán rằng giá dầu với sự liên quan của Nga, Vê-nê-duê-la, I-ran và các nước khác, sẽ đẩy giá lương thực lên và làm tổn thương các nước nghèo. Rất nhiều nước phải chia sẻ trách nhiệm cho những gì đang diễn ra.

    John Gray: Tôi đồng ý với điểm đó. Mĩ vẫn sẽ là cường quốc quan trọng trong nền kinh tế thế giới băng nhiều cách, như qua IMF chẳng hạn, để áp đặt nhiều chính sách lên Ác-hen-ti-na hay In-đô-nê-si-a và các phần khác của thế giới. Nhưng hơn thế, việc chỉ trích là một vấn đề phức tạp bởi vì những sai lầm của họ gắn liền với những gì chúng ta làm. Ví dụ như chúng ta đã chuyển những nhà máy sản xuất, sự ô nhiễm và những vấn đề sinh thái cho Trung Quốc.

    Tôi không nói rằng chúng ta không nên làm thế. Tôi không nói Wal-Mart là một con quỷ hay việc cho phép nước Mĩ phụ thuộc vào dòng trái phiếu chính phủ từ Trung Quốc hay nơi nào đó là hoàn toàn ngu xuẩn. Tuy nhiên, tất cả những nền kinh tế này bị khóa chặt cùng nhau bởi sự phụ thuộc lẫn nhau. Chính vì thế mà có một trách nhiệm chung ở một mức độ nào đó. Và có rất nhiều nghịch lí ẩn sau bức màn đó nếu bạn nghe những thứ kiểu như: chúng ta đang nghe rất nhiều lời kêu gọi Trung Quốc nên nắm giữ trách nhiệm khôi phục hệ thống tiền tệ và Trung Quốc nên sử dụng tiền vào những khoản thâm hụt để vực dậy nền kinh tế thế giới. Việc này nghe cũng có vẻ có lí nhưng hãy nghĩ về điều chúng ta đang đặt câu hỏi: chúng ta đang kêu gọi đảng cộng sản Trung Quốc vực dậy hệ thống tài chính thế giới. Đối với người thành thạo về các nghịch lí thì sẽ có vài điều thú vị từ tình huống này.

    Stephanie Flanders: Vấn đề chia sẻ trách nhiệm làm dấy nên một điểm thú vị: làm thế nào để sự đi xuống của các tổ chức thế giới ảnh hưởng tới khả năng quản lí cuả chúng ta trong một nền kinh tế toàn cầu nhiều phụ thuộc hơn? Liệu có làm cho các nước làm việc với nhau khó khăn hơn hay không?

    John Gray: Sẽ là khó khăn hơn nếu có một sự dịch chuyển quyền lực trên thế giới này. Nước Mĩ đã là làm bá chủ thế giới ở nhiều lĩnh vực. Khi nó trở nên suy yếu hơn, quyền lực sẽ bị phân tán, và một số vấn đề về tính bền vững của quyền lực Mĩ trong bối cảnh có nhiều sự phụ thuộc quan trọng của các dòng vốn tư bản giữa các nước mà những người lãnh đạo của họ không chia sẻ những lợi ích và giá trị cùng nước Mĩ. Tất nhiên sẽ khó khăn hơn cho một dàn nhạc gồm ba, bốn, năm hay sáu ông lớn hợp tác với nhau một cách hiệu quả, đặc biệt khi mà các nước nhỏ hoặc các cường quốc với tính pháp trị nửa vời như Vê-nê-duê-la, I-ran, và có thể cả Nga nữa đang cố gắng làm hỏng kế hoạch này. Đó rõ ràng là một trong những cái điều đáng lo ngại từ việc đi xuống của nước Mĩ và sự lo ngại đó cũng bao hàm một phần đạo đức.

    Từ khóa: đạo đức

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi