Rời bỏ quê hương - 2 triệu năm trước

  • Bởi tqvn2004
    26/02/2009
    0 phản hồi

    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Homo ergaster

    Cách đây 2 triệu năm, một loài Homo mới xuất hiện - loài đầu tiên mà chúng ta có thể nhận dạng thực sự là con người.

    Loài Homo ergaster tiến hóa trong giai đoạn trái đất lạnh và khô một cách nhanh chóng, làm chết ngày càng nhiều rừng nhiệt đới ở Châu Phi và tạo ra một xa mạc tại nửa phía bắc của lục địa này.

    Câu chuyện một đứa trẻ


    Xương sọ của bé Nariokotome sống cách đây 1,5 triệu năm.

    Một trong những nguồn thông tin giá trị nhất về loài Homo ergaster là một bộ xương phát hiện năm 1984 bởi Alan Walker và Kamoya Kimeu tại Nariokotome ở West Turkana, Kenya. Hài cốt này là của một đứa trẻ tuổi chừng 11 tới 13. Khoảng 1,5 triệu năm trước, thân thể cậu bé này đã bị chìm xuống một đầm lầy và trở thành hóa thạch. Răng của cậu bé có dấu hiệu áp-xe tại chỗ răng sữa bị rụng, cho thấy có thể cậu đã chết vì nhiễm trùng máu (septicaemia).

    Cậu bé Nariokotome, đó là tên người ta đặt cho bộ xương, đã phát triển được phần xương sọ dày và nhô ra ngang trên đôi mắt. Một cặp răng thỏ to chìa ra từ một cái mồm rộng và vẩu, nằm dưới cái mũi dài và rộng.

    Những rẻ xương sười dài

    Cậu ta cao chừng 1 mét 60, và có thể sẽ cao tới 1 mét 85 khi trưởng thành.

    Đây rõ ràng là một cậu bé vạm vỡ, với thân hình thích nghi tuyệt vời cho một cuộc sống với nhiều hoạt động ngoài trời nắng. Những tộc người sống ở vùng đồng cỏ gần xích đạo ngay nay, như tộc Masai ở Kenya, cũng có thân thể cao và đẹp như thế.

    Hình dạng thân thể đó tạo ra một bề mặt lớn giúp cơ thể có thể dễ dàng "làm nguội", giúp cậu bé Nariokotome không bị say nóng dưới mặt trời chói lòa.

    Biện pháp làm mát

    Loài vượn nhân hình này có lẽ là loài đầu tiên cân bằng nhiệt độ cơ thể bằng cách đổ mồ hôi. Đối với những động vật cần phải hoạt động ngay cả giữa trưa nắng nóng và khô, đổ mồ hôi là một cơ chế hiệu quả để duy trì nhiệt độ an toàn cho cơ thể và bộ não.

    Thân của Homo ergaster có lẽ trông bằng phẳng và phần lớn không có lông, bởi phương pháp tỏa nhiệt nhờ đổ mồ hôi tốt nhất là qua da trần. Màu da của nó gần như chắc chắn là ngăm đen, để bảo vệ nó khỏi những tia nắng mặt trời nguy hại.

    Cuộc sống ngoài trời


    Homo ergaster đi những quãng đường xa để tìm thức ăn.

    Homo ergaster di chuyển những quãng đường dài bằng đôi chân của mình, bởi nó nỗ lực tìm kiếm đủ thức ăn để nuôi thân hình và bộ não đang phát triển của mình.

    Để cơ sử dụng năng lượng hiệu quả hơn khi bước đi bằng hai chân, ergaster đã phát triển một khung chậu hẹp hơn. Nhưng hông nhỏ lại khiến nó phải trả giá.

    Trước hết, khung chậu hẹp lại khiến phần lồng ngực phía dưới cũng hẹp theo. Để tránh cho phổi bị siết chặt lại, phần lồng ngực phía trên của ergaster phải mở rộng ra, làm cho ngực của nó có hình dạng như cái thùng phi ở con người. Thứ hai, và quan trọng hơn, khung chập hẹp siết chặt con đường sinh đẻ ở phụ nữ. Sự thay đổi nhỏ bé duy nhất này dường như đã gây ra một ảnh hưởng to lớn tới quan hệ của con người.

    Lý do trở nên thủy chung

    Một khung chậu hẹp sẽ gây ra nhiều vấn đề khi sinh nở. Do não bộ tăng kích thước, người mẹ sẽ phải nỗ lực rất lớn để đẩy đứa con "đầu to" qua một khung chậu hẹp. Giải pháp của tự nhiên là "thỏa hiệp". Trong khi loài tinh tinh, khi sinh ra, đã có bộ não gần như trưởng thành, loài người sinh ra với bộ não kém trưởng thành hơn. Điều này khiến cho trẻ con ở loài người yếu đuối và dễ tổn thương trong những năm đầu của cuộc đời, khi mà não của nó đang kiến tạo những kết nối nơ-ron quan trọng.

    Kết quả là, người mẹ ở loài người sẽ phải ấp ủ chăm bẵm con nhiều hơn, và làm cho chị ta buộc phải dựa nhiều hơn vào "bạn trai" hay cộng đồng xung quanh. Nhiều chuyên gia cho rằng, sự chuyển dịch này đánh dấu khởi đầu của khái niệm "gia đình".

    Những giá trị hiện đại

    Ít có sự khác biệt giữa hai giới tính trong loài Homo ergaster có thể phản ánh một mẫu hình chia sẻ và hợp tác giữa đực và cái rất đặc trưng của loài người.

    Homo ergaster có lẽ đã giao tiếp bằng cử chỉ cộng với một vài âm thanh hạn chế. Xương sống của cậu bé Nariokotome chưa phát triển tới mức cho phép cậu kiểm soát hơi thở, điều kiện cần thiết để tạo ra những phát âm phức tạp.

    Những cái răng nanh nhỏ của cậu bé Nariokotome cho thấy ergaster dựa nhiều hơn vào công cụ đá để xử lý thức ăn. Bắt đầu bằng 'công cụ đá Oldowan' - rất sơ khai - chẳng qua chỉ là những viên đá vỡ có cạnh sắc. Nhưng tới khoảng 1,6 triệu năm trước, ergaster đã phát triển rìu đá cầm tay hình trái tim, gọi là 'rìu hai cạnh Acheulean', một công cụ cho phép vượn nhân hình chặt thịt tốt hơn.

    Bước ra ngoài Châu Phi

    Chỉ ít lâu sau khi Homo ergaster xuất hiện cách đây 1,9 triệu năm, loài người bắt đầu rời khỏi Châu Phi lần đầu tiên và di cư tới các lục địa khác. Những người đầu tiên này tới Dmanisi thuộc lãnh thổ Georgia ngày nay vào khoảng 1,8 triệu năm trước. Ở đây, họ bắt gặp những cánh đồng cỏ lạnh lẽo và chia mùa, nơi có các loài động vật Châu Phi như đà điểu và hươu cao cổ sống lẫn với các loài động vật Âu Á (Eurasian) như sói và hổ răng kiếm Megantereon.

    Loài người nhanh chóng lan sang phía Đông, tới tận đảo Java thuộc Indonesia. Loài vượn nhân hình sống tại khu vực cận nhiệt đới Châu Á vào lúc này thuộc về loài Homo erectus. Loài người thời kỳ đầu này học cách tồn tại trong những rừng tre, loại rừng phủ khắp khu vực này của Châu Á. Số lượng ít ỏi các công cụ đá ở những di tích vượn nhân hình Đông Nam Á cho thấy erectus có thể đã tạo ra công cụ từ tre, một loại vật liệu cứng và linh hoạt.

    Công cụ từ tre

    "Họ có thể đã dùng tre để làm giáo cho săn bắn, và cọc để hạ gục các con vật trên cây cao", giáo sư Russel Ciochon thuộc trường đại học Iowa cho biết.

    Homo erectus sống trong rừng tre cùng với lợn, một loại voi có tên gọi Stegodon và một loài khỉ lớn nhất mà con người từng biết tới - vượn khổng lồ Gigantopithecus. Có thể là loài Gigantopithecus đã bị loài người thời kỳ đầu săn đuổi ở Châu Á. "Họ có lẽ không dám chọc những con đã trưởng thành, nhưng họ có thể nhắm những con còn bé. Nếu chúng ta nhìn những người đang sống trong rừng ngày nay, họ cũng chén các loài khỉ vượn", ông Ciochon nói.

    Tới Châu Á lúc nào?

    Khi nào người vượn Homo erectus tới khu vực cận nhiệt đới Châu Á vẫn là điều gây tranh cãi. Trong khi người ta biết rõ rằng erectus đã phát triển trên toàn khu vực này cách đây 1,8 triệu năm, nhiều di tích cho thấy loài vượn nhân hình này có thể có mặt từ trước nữa. Một hàm răng vượn nhân hình và dụng cụ đá được tìm thấy ở hang Longuppo, Trung Quốc, có tuổi tới 1,9 triệu năm trước.

    Tại Mojokerto và Sangiran ở Java, người ta cũng tìm thấy chứng tích về vượn di hinh với tuổi tương tự như ở Trung Quốc. Những kẻ thích du lịch mới được tìm thấy này tới đây có lẽ bởi họ ngày càng phụ thuộc vào thịt. Những loài ăn thịt thường cần phạm vi săn mồi lớn hơn nhiều so với loài ăn cỏ có cùng kích thước, bởi tổng lượng calo sẵn có trên một đơn vị diện tích lãnh thổ của loài ăn thịt thường thấp hơn.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi