Bù lãi suất và hiệu quả kích cầu

  • Bởi tqvn2004
    24/02/2009
    0 phản hồi

    Tiến sĩ Nguyễn Quang A

    (TuanVietNam) - Cho rằng kích cầu qua bù lãi suất là cách làm "lạ và sáng tạo” của VN, chưa có nước nào làm tập trung như vậy, TS. Nguyễn Quang A đặt ra yêu cầu đánh giá hiệu quả của phương thuốc này.

    Bù lãi suất là một biện pháp kích cầu có thể rất tốt và đáng hoan nghênh, tuy nhiên tính hiệu quả của chính sách này cần được nghiên cứu thêm. Nó lạ và “sáng tạo” vì chưa có nước nào làm tập trung như Việt Nam. Hơn nữa kích cầu không chỉ là biện pháp bù lãi suất. Hỗ trợ lãi suất không phải là phương thuốc bách bệnh.

    Từ lâu, nền kinh tế nước ta bị méo mó về cơ cấu, yếu kém về năng lực và đã dẫn đến những bất ổn vĩ mô trầm trọng và kéo dài. Tăng trưởng thiên về số lượng nhưng không bền vững. Đấy là những nguyên nhân chính gây lạm phát trong năm 2007 và nửa đầu 2008.

    Các biện pháp chống lạm phát và ổn định vĩ mô của Chính phủ đầu năm 2008 đã bắt đầu có tác dụng (lạm phát dịu đi một phần cũng do tác động của khủng hoảng toàn cầu). Những nguyên nhân sâu xa của bất ổn vĩ mô và lạm phát vẫn còn đó! Cần có những cải cách triệt để về cấu trúc, cơ cấu của nền kinh tế.

    Muốn cải thiện tình hình kinh tế trong trung và dài hạn phải cải tổ triệt để, tái cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng cân đối, bền vững nhằm loại trừ các yếu kém kể trên. Nhưng đó là những việc dài hạn chứ không phải việc kích cầu khẩn cấp.

    Chúng ta đang loay hoay với khó khăn nội tại, thì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa từng có hơn 60 năm lại ập tới với những ảnh hưởng rất nghiêm trọng lên nền kinh tế. Để tránh suy thoái các biện pháp kích cầu thường được sử dụng.

    Cuối 2008 Chính phủ đã có chủ trương kích cầu với gói 1 tỷ USD, rồi 6 tỷ USD. Đầu năm nay gói 1 tỷ USD được định hình với Quyết định 131/TTg-QĐ ngày 23/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ về bù 4% lãi suất cho một số khoản vay của các DN vừa và nhỏ.

    Dư luận tập trung bàn nhiều về gói kích cầu này, Chính phủ cũng ráo riết chỉ đạo hệ thống ngân hàng thực hiện. Chúng ta thử gợi những vấn đề liên quan đến hiệu quả của gói này để thảo luận.


    Các chính sách kích thích mang tính ngắn hạn, khẩn cấp nhằm khơi thông bế tắc để tránh suy thoái hay thúc đẩy phục hồi kinh tế. Phải lấy tiêu chuẩn hiệu quả làm đầu để lựa chọn chính sách. Ảnh: Vietnambranding.

    Cần nhấn mạnh rằng các chính sách kích thích mang tính ngắn hạn, khẩn cấp nhằm khơi thông bế tắc để tránh suy thoái hay thúc đẩy phục hồi kinh tế. Phải lấy tiêu chuẩn hiệu quả làm đầu để lựa chọn chính sách. Hiệu quả kích cầu có thể khác hiệu quả kinh tế.

    Theo định nghĩa, Tổng cầu = Tiêu dùng + Đầu tư + Chi tiêu của Chính phủ + (xuất khẩu – nhập khẩu).

    Để tăng tổng cầu có thể tăng tiêu dùng, tăng đầu tư, tăng chi tiêu Chính phủ và giảm nhập siêu (tăng xuất giảm nhập). Hiệu quả kích cầu của một chính sách là tác động tăng tổng cầu của nó và như thế có thể khác với hiệu quả kinh tế.

    Tính hiệu quả của kích cầu được hiểu là: 1 đồng dùng vào kích cầu tạo ra bao nhiêu đồng (còn gọi là hệ số nhân) trong tổng cầu của nền kinh tế. Hệ số càng lớn hiệu quả càng cao. Người có thu nhập thấp, nghèo thường chi tiêu phần lớn thu nhập cho các nhu cầu thiết yếu. Hàng họ mua kích thích các nhà sản xuất hàng thiết yếu. Các nhà sản xuất lại mua nguyên liệu của các nhà sản xuất khác, v.v. Hệ số nhân của những người nghèo và thu nhập thấp là lớn, tức là, kích cầu cho họ sẽ hiệu quả.

    Ngược lại 1 đồng kích cầu bằng cách miễn thuế cho người giàu (người phải đóng thuế thu nhập cá nhân) có hiệu quả ít hơn.

    Có cách đo lường và ước tính hiệu quả kích cầu? Đại loại kích cầu hiệu quả nếu nó có tác động nhanh (kịp thời), đảm bảo hay tạo ra nhiều công ăn việc làm, có độ lan tỏa nhanh và lớn (hệ số nhân lớn), nói cách khác là tạo ra nhiều cầu hơn, thúc đẩy cải thiện cán cân thương mại (tăng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước và giảm nhập siêu). Sau đó có thể tính đến các tiêu chí thứ yếu khác như hiệu quả kinh tế, hỗ trợ hay không cản trở các nỗ lực cải cách dài hạn v.v.

    Hiệu quả kích cầu

    Đấy là các tiêu chí để đánh giá một chính sách kích cầu có hiệu quả (hơn chính sách khác) hay không. Chúng ta sẽ dùng các tiêu chí này để xem xét sơ bộ hiệu quả kích cầu của chính sách bù lãi suất.

    Thứ nhất, gói kích thích mang tính ngắn hạn, khẩn cấp nên yếu tố thời gian rất quan trọng. Chính sách bù lãi suất theo Quyết định 131 thỏa mãn tiêu chí này ở mức vừa phải. Nó có thể được tiến hành tương đối nhanh và rộng (do tất cả các ngân hàng thương mại đều có thể tham gia) nên nhiều DN có thể vay. Thời hạn của gói chỉ là 8 tháng mang tính tạm thời chứ không phải lâu dài, như thế là tốt.

    Thứ hai, sở dĩ phải ưu tiên các ngành dùng nhiều lao động vì tác động xã hội ghê gớm của thất nghiệp gia tăng. Nếu người lao động tiếp tục có việc làm, có thu nhập thì sẽ có cơ sở để kích thích tiêu dùng. Những ngành dùng nhiều lao động thường có lương không cao, người lao động chi tiêu phần lớn thu nhập và làm cho việc kích tiêu dùng hiệu quả hơn.

    Theo tiêu chí này chính sách bù lãi suất chỉ dành cho các DN vừa và nhỏ, ưu tiên các DN tạo nhiều công ăn việc làm. Như vậy, theo tiêu chí này chính sách bù lãi suất có vẻ cũng khá song vẫn chỉ cho một lượng rất nhỏ người nghèo và có thu nhập thấp (số nhân viên của các công ty có thể vay).

    Các DN yếu kém sẽ không thể vay được (và cũng không đáng cho họ vay vì làm thế chỉ cản sự tái cơ cấu của nền kinh tế, nên tạo điều kiện cho họ phá sản một cách văn minh hơn là giúp họ lay lắt) và người lao động bị mất việc làm. Đối tượng người lao động này cần được kích cầu (đào tạo lại, giúp kiếm việc làm mới tạm thời hay lâu dài,…) vì khoản kích cầu ấy có hiệu quả cao.


    Nếu người lao động tiếp tục có việc làm, có thu nhập thì sẽ có cơ sở để kích thích tiêu dùng. Ảnh: Corbis.

    Các DN gặp khó khăn (có thể vượt qua nếu được trợ giúp) cũng khó có thể vay được. Theo tiêu chuẩn của các ngân hàng, các DN vay được là “khách hàng tốt” và giảm lãi suất cho họ chưa chắc đã có nhiều tác động làm tăng cầu (hệ số nhân của họ nhỏ).

    Thứ ba, thúc đẩy cải thiện cán cân xuất nhập khẩu. Khu vực DN nhà nước là khu vực tạo ra thâm hụt thương mại lớn nhất, khu vực nông nghiệp, ngư nghiệp, các DN vừa và nhỏ tạo ra nhiều xuất khẩu. Như vậy khu vực thỏa mãn tiêu chí này cũng là khu vực thỏa mãn tiêu chí sử dụng nhiều lao động.

    Gói bù lãi suất chỉ cho các DN vừa và nhỏ, và cho một số khoản vay nhất định, ưu tiên cho các DN xuất khẩu. Có thể nói chính sách cũng thỏa mãn tốt tiêu chí này.

    Ngoài ra, do chỉ bù lãi suất nên dùng được tác động đòn bẩy tài chính (với 1 tỷ USD bù lãi suất có thể cực đại tạo ra được tổng tín dụng 25 tỷ USD) và đấy là ưu điểm của chính sách này.

    Chưa rõ

    Có lẽ các nhà hoạch định chính sách cũng đã có những cân nhắc tương tự và như thế có vẻ rất bài bản. Vậy tại sao lại nói hiệu quả kích cầu của nó còn chưa rõ?

    Sở dĩ vậy là vì các tiêu chí trên mới chỉ là định tính, tức là đúng hướng, song nó có làm tăng tổng cầu thực sự không, và nếu có thì tăng ở mức nào, có tốt hơn các chính sách khác hay không, v.v. là các câu hỏi rất quan trọng chưa có câu trả lời (hay chưa được công bố).

    Bù lãi suất có tác dụng tương tự như hạ lãi suất có chọn lọc, mang tính chất chính sách tiền tệ hơn là tài khóa (tuy nhà nước chi 17.000 tỷ đồng là biện pháp tài khóa).

    Ngân hàng có tiền cho vay với lãi suất thấp: đấy mới chỉ là phía cung tín dụng. Phía cầu tín dụng thì sao? DN có vay không và nếu vay thì có sử dụng tiền vay đúng mục đích không? Các DN được vay bù lãi suất có tạo ra thêm nhiều cầu hơn so với không có bù lãi suất hay không?

    Nếu DN không bán được hàng thì dù lãi suất thấp họ cũng không vay. Khi tổng tín dụng không tăng thêm so với không bù lãi suất thì hiệu quả kích cầu là nhỏ. Nhà nước biếu không cho DN số tiền bù lãi suất nhưng không kích cầu được mấy. Nếu bị lạm dụng để đảo nợ, thay khoản vay cũ có lãi suất cao bằng khoản vay mới rẻ hơn thì tổng tín dụng khó có thể tăng.

    Tăng thực sự tổng cầu

    Phải làm cho tổng cầu tăng thực sự. Các DN cũng là người mua hàng (của DN khác) và nếu làm ăn có lãi họ có thể vay, như thế bù lãi suất cũng làm tăng cầu. Chỉ có các nhà hoạch định chính sách mới có đủ số liệu để tính toán hay ước lượng, nhưng chưa chắc tổng cầu sẽ tăng như mong muốn. Cần theo dõi và hiệu chỉnh kịp thời.

    Tuy nhiên, phải chú ý đến các biện pháp kích cầu khác như trợ cấp cho người nghèo, người có thu nhập thấp, người thất nghiệp (theo kiểu 200.000 đồng cho một gia đình nghèo tiêu tết vừa qua nhưng cần tránh ăn chặn), miễn, giảm thuế cho người dân, chi cho nông nghiệp, y tế, giáo dục, đào tạo, hoàn tất các dự án hạ tầng hiệu quả v.v. là các biện pháp kích tiêu dùng và đầu tư có thể hiệu quả hơn nhiều.

    Thậm chí các chính sách khác cũng phải cân nhắc đến khía cạnh thời gian cấp bách của kích cầu.

    Quá chú tâm vào bù lãi suất như biện pháp kích cầu vạn năng mà coi nhẹ các biện pháp khác là sai lầm.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi