Liệu chủ nghĩa tư bản có đạo đức? (phần 1)

  • Bởi Billy
    20/02/2009
    4 phản hồi

    Billy chuyển ngữ <br/>
    American Interest, số tháng 3/4

    <em>Lời tòa soạn: Sau cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước tư bản trong vài tháng qua, người ta bắt đầu tìm các cuốn sách của Các Mác. Những điều Các Mác nói về chủ nghĩa tư bản dường như có vẻ trở thành sự thật. Sự tham lam của con người trong thị trường đã dần tạo nên sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Phải chăng chủ nghĩa tư bản đang đi tới hồi kết? Lí thuyết về thị trường tự do liệu có phải cũng là một dạng chủ nghĩa không tưởng như chủ nghĩa cộng sản hay không? Hay chủ nghĩa tư bản vẫn có thể phát triển nhưng đồng thời bảo tồn các giá trị đạo đức? <br/><br/>

    Chúng tôi xin được giới thiệu cùng bạn đọc cuộc hội đàm của một số học giả và chính khách hàng đầu bàn về các giá trị đạo đức của chủ nghĩa tư bản. Cuộc hội đàm này được quỹ John Templeton tổ chức tại London tháng 12 vừa qua.</em>

    Stephanie Flanders: Đây là một thời điểm tốt để thảo luận xem liệu chủ nghĩa tư bản có đạo đức hay nói rộng hơn liệu nó đem đến những hoạt động có đạo đức hay không. Nếu chúng ta làm việc này một năm trước, chúng ta sẽ quan tâm về việc thị trường kinh tế bằng chuyện tạo ra rất nhiều của cải sẽ ảnh hưởng tới tâm trí ta ra sao và việc toàn cầu hóa sẽ ảnh hưởng tới sự nghèo đói và bất bình đẳng thế nào. Tuy nhiên, ngày hôm nay, chúng ta sẽ tập trung vào làm thế nào mà thị trường có ảnh hưởng đến túi tiền và các quỹ hưu trí, các quy định và rủi ro đạo đức. Mọi người có cảm thấy là kỉ nguyên của định hướng thị trường trên thế giới đã kết thúc?

    John Gray: Với tình hình hiện này chắc sẽ có sự thay đổi trong cuộc hội luận về chủ nghĩa tư bản và đạo đức nhưng nó sẽ không thay đổi những điều cơ bản nhất của câu hỏi: rằng tất cả những hệ thống kinh tế được chấp nhận bởi con người tận dụng những động cơ mà những động cơ này để lại dấu hỏi về mặt đạo đức.

    Kinh tế học cổ điển và lí thuyết tự do từ nó đã luôn được hiểu là cho đến thế kỉ 19 hoặc trước đó, các hệ thống kinh tế phải khai thác được những động lực mạnh mẽ nhất của con người chứ không phải là những động lực cao cả nhất. Chính vì thế mà tất cả những hệ thông kinh tế được chấp nhận bởi loài người đã bị xói mòn đi về mặt đạo đức ở một mức độ nào đó là bởi vì chúng cho phép tính ích kỉ làm lợi cho những người luôn tư lợi. Do đó, bất cứ quan điểm nào cho rằng một dạng của hệ thống kinh tế là hoàn toàn có đạo đức còn những hệ thống khác là không tốt là không thể bào chưa được.

    Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả các hệ thống có giá trị đạo đức như nhau. Một vài hệ thống đã tồi trên mọi phương diện. Kinh tế hoạch tập trung của người cộng sản là hoàn toàn sai trái vì những khát vọng không tưởng của nó đòi hỏi quá nhiều về mặt kiến thức và động cơ của con người; trong khi nó ngăn cản những động lực có vấn đề về mặt đạo đức, mang tính cá nhân bằng sự ép buộc. Kết quả của nó là một sự nhại lại của hệ thống tư bản tự do kinh doanh với tham nhũng tràn lan, điều kiện sống thấp, hệ sinh thái bị hủy diệt và sự mất mát to lớn của sinh mạng con người.

    Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản không tạo ra thời kỉ của chủ nghĩa thực dụng và hiện đại hóa mà mọi người mong muốn mà tạo ra một sự ảo tưởng mới về thị trường tự do toàn cầu.


    Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản không tạo ra thời kỉ của chủ nghĩa thực dụng và hiện đại hóa mà mọi người mong muốn mà tạo ra một sự ảo tưởng mới về thị trường tự do toàn cầu. Tất nhiên thì thị trường tự do hoàn toàn cũng giống như chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn chưa bao giờ và không bao giờ tồn tại.

    Nếu bị bắt buộc phải chọn giữa hai ảo tưởng, tôi sẽ chọn thị trường tự do vì hai lí do. Thứ nhất là một cái hiển hiện ngay trước mắt còn một cái thì có lẽ không có. Chủ nghĩa không tưởng về tự do kinh tế có lẽ sẽ năng suất hơn và ít hủy diệt cuộc sống con người hơn – điều này là chắc chắn. Tuy nhiên, nó cũng có vẻ mất ổn định hơn. Chủ nghĩa cộng sản phát triển trên toàn thế giới trong hơn 70 năm và phá hủy cuộc sống của rất nhiều thế hệ con người; vai trò tập trung của sự ép buộc khiến nó ổn định một cách không lành mạnh. Sẽ không còn những nền kinh tế lớn trên thế giới với thị trường tự do như của Mĩ và Anh thậm chí chỉ vài tháng trước đây.

    Điều quan trọng là ý tưởng về một nền kinh tế như thế, như ngài đề xuất, đã xói mòn. Và đây là lúc mà cuộc khủng hoảng vừa qua có liên quan đến nó. Chúng ta đang pha trộn các nền kinh tế với việc chính phủ đóng một vai trò ngày càng quan trọng. Tôi không mong đợi cuộc đời tôi sẽ có một sự xoay chuyển của những nền kinh tế đã tồn tại ngay cả chỉ vài tháng về trước. Cuộc khủng hoảng này quá lớn và nó đòi hỏi rất nhiều sự can thiệp của chính phủ.

    Stephanie Flanders: Vậy nó để lại cái gì cho chúng ta? Ngài có nó rằng cuộc khủng hoảng sẽ đem lại sự kết thúc của những nền kinh tế tự do theo kiểu Mĩ-Anglo và chúng ta thấy vài tháng vừa qua. Vậy nền kinh tế bây giờ đang có đạo đức hơn hay kém hơn?

    John Gray: Cái thông điệp quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng lần này, theo tôi, không phải về chủ nghĩa tư bản và về những ảo tưởng. Nhiều người thường thích những ảo vọng. Họ tưởng tượng về những ảo vọng từ những động lực cao cả của con người trong khi nó thực ra lại phá tủy con người và sự tự do của con người một cách khủng khiếp. Sự ảo vọng của của những người theo tư tưởng thị trường vừa sụp đổ nằm ở chỗ của nó đã tạo ra sự ngạo mạn cũng như cho phép sự tham lam. Chúng ta đang tìm kiếm không phải một sự ảo tưởng mà là một sự sắp đặt có tính thực tế trong đó phải thừa nhận rằng tất cả các hệ thống kinh tế hoạt động một cách khá tốt có thể dung hòa với nhau. Những giá trị nào của con người sẽ bị tấn công bởi sự sắp đặt kinh tế như thế sẽ phụ thuộc vào thời gian, địa điểm và hoàn cảnh. Nhưng ta phải luôn nhớ rằng những hệ thống như thế không tạo ra bản chất của con người mà chỉ cung cấp một bối cảnh mà bản chất đó có thể bộc lộ. Chính bản chất con người mới tạo ra các hệ thống kinh tế, và ngoài cái tính gian lận của con người, như Kant nói, không có cái nào thẳng thắn có thể xây dựng được [*].

    Thực tế là tôi nói rất nhiều rằng bản chất của con người ảnh hưởng tới cách chúng ta xử sự trong các thị trường lớn hơn nhiều so với các thị trường ảnh hưởng tới bản chất con người. Tôi sẽ quay lại điểm quan trọng này sau. Tuy nhiên, khi nói về ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính tới cách chúng ta nghĩ về các thị trường ngày hôm này, tôi không có quan điểm khải huyền (một tư tưởng trong kinh thánh – người dịch) rằng cuộc khủng hoảng đã làm yếu đi các thị trường và tiêu diệt những cái tốt của những người “Anglo-Saxon” hoặc hơn nữa là việc “Anglo-Mĩ” sử dụng các thị trường. Khi những bụi mù đã lắng xuống, một cách phân tích đúng đắn hơn về những gì đã xảy ra hoàn toàn có thể xảy ra vì ít nhất 2 lí do.

    Thứ nhất, kỉ nguyên “Anglo – Mĩ” hay “Thatcher-Reagan” của của nghĩa thị trường thuần túy có vẻ mang tính chất hùng biện hơn là thực tế. Bà Thatcher thực tế có áp dụng nguyên tắc xã hội hóa trong việc sở hữu các phương thức sản xuất hoặc buôn bán các công đoàn quân đội, nhưng Anh Quốc không bao giờ chuyển dich tới phía đối cực của chủ nghĩa thị trường thuần túy.

    Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ nhấn mạnh tới các vấn đề của thị trường một cách tổng quát mà còn tới sự khác biệt giữa các thành phần tài chính và phi tài chính. Tôi cho rằng một yếu tố phổ biến trong những cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã cho thấy các đột phá tài chính (như các công cụ phái sinh hoặc các nợ tín dụng) đã đi trước sự nhận thức và do đó chỉ có rất ít người nhận ra được những rủi to tiềm tàng nếu như mọi chuyện diễn biến xấu. Trong sản xuất thì sự đổi mới là một phần của sự phá hủy sáng tạo còn trong khu vực tài chính thì sự đổi mới là một phần của sự sáng tạo mang tính phá hủy.

    Henry Paulson - cựu bộ trưởng tài chính Mĩ

    Nhưng tại sao chuyện này lại xảy ra. Nguyên nhân chính là do sự phức tạp của bộ tài chính Mĩ cũng như phố Wall. Robert Rubin đến từ Goldman Sachs tới bộ tài chính và sau đó là Citygroup; Henry Paulson từ Goldman Sachs tới bộ tài chính và có lẽ sẽ trở lại phố Wall. Có một điều rõ ràng là bạn phải hiểu được thị trường phố Wall để làm việc với nó. Nhưng kết quả là tình trạng phởn phơ dễ dãi của phố Wall về những sự đổi mới trong tài chính chưa bao giờ được thử thách một cách hiệu quả bởi một ai đó có uy tín. Rõ ràng là sau đó bài học về cuộc khủng hoảng này là chúng ta thực sự cần những chuyên gia độc lập những người hiểu rõ về phố Wall nhưng không phải là một phần của nó để đảm nhiệm vai trò giảm thiểu những gì chưa được biết.

    Về hiệu quả của việc sử dụng các thị trường trong trường hợp tổng quát, sẽ là hơi kì khôi nếu như một người nghiêm túc nào đó lại phản đối buôn bán tự do hơn hoặc phản đối các hệ thống vốn và buôn bán trong việc kiểm soát khí thải carbon vì chúng sử dụng những nguyên lí của thị trường. Cứ lấy thử hai ví dụ. Tôi hoài nghi quan điểm của John Gray về sự kết thúc của chủ nghĩa cộng sản đã đem đến sự ảo vọng không tưởng cho phương Tây, rằng chúng ta đang đi từ chủ nghĩa cộng sản không tưởng tới thị trường tự do không tưởng. Nếu có thì chỉ là chúng ta đã chuyển dời từ các ý nghĩ không tưởng đó tới một cách tiếp cận thực dụng hơn về thị trường cho hầu hết các trường hợp. Điều này rõ ràng đang xảy ra ở Trung Quốc và Ấn Độ. Những quốc gia lớn này đã ngủ sâu trong ba thập kỉ và cuối cùng cũng thức dậy bởi chúng chuyển từ chủ nghĩa chống thị trường tự do tới việc lấy thực dụng làm trung tâm.

    Bernard-Henri Lévy: Tôi đồng ý rằng tất cả những giải pháp khác tới thị trường tự do, đặc biệt là cách tiếp cận kiểu của Mác, chỉ đưa ra những giải pháp tồi tệ hơn những vấn đề mà nó định giải quyết. Ý tưởng của việc từ bỏ thị trường tự do và coi nó là sự xói mòn đạo đức của xã hội, cũng đã là một ý tưởng của kinh tế chỉ huy của chủ nghĩa phát xít trong thế kỉ 20. Chúng ta thường không nghĩ về nó nhưng nguyên tắc của tự do trao đổi, thị trường tự do, ảnh hưởng tới tự do phổ quát, bao gồm phần con người tạo ra cái đẹp, sáng tạo và hàn gắn. Các nền kinh tế chỉ huy của thế kỉ 20 đã tạo ra hàng triệu xác chết nhưng chúng không tạo ra bất kì một tác phẩm nghệ thuật hay âm nhạc lớn nào, và cũng không tạo ra những tiến bộ trong y học.

    Ý tưởng về việc thị trường đã không bị xóa bỏ bất chấp sự phá hủy và văn hóa lạnh lùng của nó. Khi những phong trào chống toàn cầu hóa cho rằng thị trường của chủ nghĩa tư bản chỉ đem lại cảnh nghèo khổ thì đó không phải sự thật. Những người tỉnh lẻ này đã nhìn thế giới chỉ từ con mắt của người phương Tây. Họ đã không đi đến những nơi mà thị trường chưa được đem đến và tại những nơi này thì sự nghèo khổ là tột cùng. Không có xã hội nào mà con người trở nên tham lam hơn, hung bạo hơn và biệt lập hơn cái gọi là các xã hội nguyên thủy thường bị coi là tiền tư bản hoặc tiền thị trường. Và rõ rang là những cái xấu hay khuyết tật này không phải phát sinh từ thị trường.

    Tuy nhiên, tôi cũng đồng ý rằng thị trường tự do tư bản như những gì nó tồn tại trong vài năm gần đây hoàn toàn là không bền vững như chúng ta đã thấy. Nó đã là lãnh địa của lòng tham hoặc mang nghĩa Hy Lạp là thumos, rằng tinh thần cạnh tranh là phần mở rộng của cái tôi cá nhân. Thị trường tự do, theo như Hobbes và những người khác được coi là tạo ra sự đánh giá cao đối lợi ích của kẻ khác. Phiên bản này của thị trường do đó tạo ra một vự vô cảm với người khác, đặc biệt là những người nghèo nhất.

    Stephanie Flanders: Vậy cái hệ thống mà nó mới đổi mới gần đây là vô đạo đức?

    Bernard-Henri Lévy: Tôi không cho rằng như thế. Các thị trường đem lại sự thịnh vượng, nhưng những người thống trị thị trường trong vài thập kỉ gần đây đã không tạo ra sự chỉ trích nếu họ tạo ra sự thịnh vượng. Họ coi việc kiếm tiền là cách tạo ra của cải và thực chất nó là một. Đó là thời đại của những cái tôi cao lớn, kiêu ngạo và chúng ta thấy được những gì còn lại sau cuộc giải cứu của bộ trưởng Paulson và những cộng sự. Tôi hoàn toàn hiểu được sự giận dữ của người dân nước Mĩ, khi thấy các ngân hàng và quỹ đầu tư mạo hiểm đã lấy lợi ích cho mình trong khi lại xã hội hóa các khoản lỗ. Việc tư nhân hóa lợi nhuận và xã hội hóa thua lỗ diễn ra cùng một lúc thực sự là một vụ xì căng đan. Thực sự là sốc khi nhìn thấy ngài Paulson đã chuyển khẩu sung từ vai người này sang người khác. Giống như chúng ta nói trong tiếng Pháp, là đi từ người tạo ra khủng hoảng tới những người cứu rỗi chúng ta từ đó. Bờ vai thì đã thay đổi nhưng khẩu súng thì vẫn như thế và cũng cùng một người cầm nó.

    Nhưng một lần nữa, chúng ta phải hiểu nó có nghĩa là gì. Các thị trường không xói mòn về đạo đức mà chính sự đi xuống của các giá trị đạo đức trong các xã hội dân chủ đã và đang làm xói mòn hệ thống thị trường tự do.


    Nhưng một lần nữa, chúng ta phải hiểu nó có nghĩa là gì. Các thị trường không xói mòn về đạo đức mà chính sự đi xuống của các giá trị đạo đức trong các xã hội dân chủ đã và đang làm xói mòn hệ thống thị trường tự do. Chính vì đó mà tại sao Ernest Renan từng nói, tính học thuật và sự cải tạo về đạo đức là bước đầu tiên đi tới xây dựng lại thị trường tự do của chúng ta. Đó là giải pháp duy nhất mà chúng ta có.

    Jagdish Bhagwati: Đây là một điểm quan trọng chúng ta đã nói tới hai lần trong buổi tối hôm nay. Có vẻ như là chính thị trường đã tạo ra long tham con người. Đây hoàn toàn là ý kiến sai lầm của những người Mác xít, rằng chỗ bạn làm và cái bạn làm sẽ định nghĩa giá trị của bạn. Nhưng thực ra không phải thế. Chúng ta tạo dựng giá trị từ nhiều nơi. Một vài giá trị từ gia đình (mặc dù đôi lúc bạn cũng nổi lên chống lại những gì cha mẹ tin tưởng), một vài cái khác từ cộng đồng của họ. Một số cái là từ tôn giáo. Đối với nhiều người thì văn học là kho tang để hiểu những luân lí, như những nhà văn lớn của Nga như Tolstoy hoặc Dostoevsky. Việc bạn làm ở đâu thường khó có thể là yếu tố duy nhất hoặc quan trọng.

    John Gray: Vâng, đúng thế nhưng liệu tôi có thể nhắc đến Bernard Mandeville ở đây không? Trong cuốn nổi tiếng “Truyền thuyết về những con ong” Mandeville có nói rằng các thị trường là những thứ rất tốt và hữu hiệu nhưng chúng cũng làm xói mòn các giá trị truyền thống. Chúng dựa quá nhiều vào lòng tham, sự kiêu căng, tính ích kỉ và hơn thế nữa. Do đó tôi hay một nhà xã hội học nào không thể chấp nhận ý kiến rằng các thị trường là các thể chế trung lập mà bạn có thể sử dụng theo bất cứ cách nào bạn muốn, không hơn gì việc tôi chấp nhận rằng kế hoạch tập trung là trung lập.

    Jagdish Bhagwati: Nhưng John, sự thực là có nhiều loại chủ nghĩa tư bản thể hiện quan điểm của tôi. Tôi không nói rằng các thị trường là trung lập về đạo đức mà chỉ nói rằng chúng không hơn gì một bức tranh sơn dầu trắng mà mọi người có thể viết các điều tốt đẹp và vết nhơ lên đó. Tôi chỉ nói rằng các thị trường không chiếm lĩnh việc tạo ra các giá trị.

    Lấy ví dụ như cách người Nhật xử lí vấn đề bất bình đẳng trong việc trả lương của các xí nghiệp. Nó rất khác với cách chúng ta làm ở Hoa Kì. Điều này đến từ đâu? Nó đến từ những giá trị cơ cấu ngoài thị trường. Chủ nghĩa bình quân cũng là một phần của văn hóa Sờ-căng-đi-na-vi điều mà ảnh hưởng tới hình thái tư bản của họ và những điều như thế ở các nền văn hóa khác.

    Stephanie Flanders: Vậy ngài bác bỏ ý kiến của chủ nghĩa Mác rằng chúng ta là cái chúng ta đang tạo ra hay tiêu thụ?

    Jagdish Bhagwati: Vâng đúng thế. Những người theo thuyết Can-vin, người Jana của Gujarat nơi mà Gandhi xuất thân, người dân trong thị trấn của Hà Lan cảm thấy ngượng ngùng bởi sự giàu có và nghèo đói trong xã hội họ. Chính vì thế mà họ thực hiên cái mà chúng ta hiện nay gọi là trách nhiệm xã hội cộng đồng. Họ tích lũy tư bản nhưng sử dụng của cải của họ không phải cho họ mà làm những việc tốt.

    (còn tiếp)

    ___________________________________

    Chú thích của người dịch:

    [*] Kant, Immanuel có nói nguyên văn tiếng Anh: Out of the crooked timber of humanity, no straight thing can ever be made.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Bài này hay . Tuy nhiên tiếc là những người tham gia không trình bày định nghĩa khái niệm đạo đức. Nếu chúng ta hiểu rõ hơn về khái niệm đạo đức thì các khái niệm khác như lòng tham , và các đặc tính khác của con người sẽ rõ hơn.
    Theo tôi đạo đức "xuất hiện" khi ít nhất : con người cảm thấy đã tồn tại được ( đủ sống không có khả năng chết đói) và con người cảm thấy an toàn (không bị đe dọa về sự sinh tồn).
    Do vậy đạo đức có thể nói luôn biến đổi luôn "xuất hiện" với các dạng khác nhau thậm chí còn đối lập nhau trong từng thời kỳ. Sự thay đổi của đạo đức có thể nói là "hàm số" của cảm giác(nhận định, nhận thức) của con người về sự tồn tại và an toàn của họ.
    Xã hội loài người thực chất là sự thỏa hiệp (khế ước) hình thành từ sự nhận thức nhận dịnh(cảm giác) của (các) con người .
    Nhận thức nhận định của con người thay đổi và "tiến bộ" thì XH càng phát triển và " tiến bộ". Tiến bộ lại là khái niệm đạo đức nên ta thấy khi phân tích đánh giá một hình thức XH ta đã đưa "đạo đức" của ta vào mất rồi. Do đó sẽ không khách quan nữa. Học thuyết nào càng ra sức đưa cái " đạo đức" của họ vào việc phân tích XH thì ta phải dè chừng các học thuyết đó.
    Học thuyết của Mác khi phân tích về XH TBCN là một học thuyết cho rằng chỉ có "đạo đức" của giai cấp vô sản (CN)là ưu việt .Lại còn bôi nhọ "đạo đức" của các "kẻ" tư bản (kẻ tư bản -là theo bản dịch tiệng việt). Thậm chí phe CS lại cho rằng "đạo đức" của giai cấp vô sản là nhất là tuyệt vời. Với cú tô vẽ ngoan mục này mà ở một số nước phe CS lên nắm được quyền. Khi nắm quyền rồi thì cái " đạo đức" của giai cấp vô sản mới bộc lộ rõ. Cái bản năng cơ bản của con người được thứ "đạo đức" cs che dấu đã biến những kẻ cầm quyền cs trở thành bất nhân ,không còn tính người ,chà đạp lên mọi khế ước cơ bản của XH loài người. Do vậy chế độ cs cũng phải sụp đổ vì tự nó lôi kéo nhiều kẻ thù và tự nó là trái và mâu thuẫn với quy luật tự nhiên.
    CN CS mâu thuẫn với quy luật tự nhiên vì một mặt nó muốn tiêu diệt tính tư hữu của con người một mặt nó lại bảo vệ sự chiếm hữu quyền lực của chính nó. Mà sự chiếm hữu quyền lực của chính nó lại là sự tư hữu tàn bạo nhất .Vì sự tư hữu kiểu này tiêu diệt sự sinh tồn của "giai cấp" khác ,con người khác (khác cs).

    Tóm lại nếu ta bàn kỹ về khái niệm đạo đức thì ta sẽ nhìn rõ hơn ai có đạo đức ai tôn trọng quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của người
    khác.

    Vậy đạo đức của con người phải chăng là đó là sự cam kết(của con người) về sự tôn trọng quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của người
    khác ?

    Bác nói chuyện này làm tôi thấy buồn cười cho những người sống trong cộng đồng hải ngoại đang chống cộng.

    Không biết họ có biết việc nhà nước quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân là một bước tiến lên chủ nghĩa xã hội của Mỹ không nhỉ.

    Tôi cũng không rõ họ có biểu tình phản đối không nhỉ. Bác Evil là một nhân vật điển hình cho tinh thần phản đối cộng sản, không rõ Evil có tham gia phản đối việc chính phủ quốc hữu hóa ngân hàng không?

    Tôi hoàn toàn ủng hộ khẩu hiệu: Tư bản định xã hội chủ nghĩa của bác Billy.

    Trong những năm 90 tại Việt Nam, để chuyển đổi nền kinh tế hội nhập với kinh tế thế giới, nhà nước Việt Nam đã tránh né không dùng từ “tư hữu hoá” (privatization) mà thường dùng từ "cổ phần hóa" (equitization) các doanh nghiệp quốc doanh. Dù dùng từ nào chăng nữa thì bản chất vẫn là tư hữu hoá tài sản công.

    Bây giờ giới báo chí Mỹ đang gợi ý với tổng thống Obama dùng chữ “tiền tư nhân hoá” (preprivatization) thay cho từ “quốc hữu hoá” (nationalization) các ngân hàng đang gặp khó khăn, dù bản chất đúng là "quốc hữu hóa" những ngân hàng tư nhân này.

    Thế mới thấy “chữ nghĩa vẫn cứ là… chữ nghĩa” (miệng lưỡi không xương nhiều đường lắt léo), để gọi một sự việc con người có nhiều cách gọi khác nhau !

    Xin được nói chuyện ngoài lề một chút. Mấy hôm trước đọc blog của Greg Mankiw có bài Quốc hữu hóa hay tiền tư nhân hóa thấy bọn Mĩ rất sợ dùng các ý tưởng quốc hữu hóa hay xã hội hóa nền kinh tế.

    Người ta còn tổ chức cuộc thi "Sáng tác khẩu hiệu mới cho nước Mĩ". Sau đây là 6 khẩu hiệu lọt vào vòng chung kết:

    1. Consumption’s the Cure That Ails Us.
    2. We Will Get It Right, Eventually.
    3. We Are Too Big to Fail.
    4. The Streets Are Paved With CASH4GOLD.COM.
    5. Learn to Live Within Your Means.
    6. Wow, Can You Believe This Place?

    Còn tôi nếu tham gia thì sẽ đề là

    A socialism oriented capitalist country.

    (Tạm dịch là một nước tư bản định hướng XHCN !)