Những con hổ nguy khốn: Châu Á cần một động lực mới cho tăng trưởng

  • Bởi tqvn2004
    05/02/2009
    3 phản hồi

    Tqvn2004 chuyển ngữ<br />
    Bien-Tap biên tập

    <strong>Lời giới thiệu:</strong> Sự đi xuống của thị trường tiêu dùng Mỹ và Châu Âu đã có ảnh hưởng tiêu cực tới những nền kinh tế Châu Á vốn dựa vào thu hút FDI và chính sách hướng xuất khẩu. Theo <a href="http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/02/827120/">báo cáo mới đây của chính phủ</a>, kim ngạch xuất khẩu tháng Một năm 2009 giảm 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó lượng FDI vào Việt Nam trong tháng Một chỉ bằng 11% của năm ngoái. Khi thị trường bên ngoài tiêu điều như vậy, thị trường nội địa là một trong những động lực để thúc đẩy nền kinh tế. Làm thế nào để kích cầu nội địa? Lời khuyên của tờ The Economist dành cho các con Hổ Châu Á có lẽ cũng đáng để Việt Nam học hỏi. Tòa soạn Dân Luận xin giới thiệu tới bạn đọc bản dịch này của tạp chí The Economist.

    CÓ VẺ NHƯ chẳng có sự công bằng. Đa số các nền kinh tế Châu Á đều là điển hình của sự khôn ngoan. Trong khi các gia đình Mỹ và Châu Âu vay nợ ngập đầu, các gia đình Châu Á chắt chiu cất dấu những khoản dành dụm của mình. Trong khi các ngân hàng ở các quốc gia giàu có đang chất chồng các khoản đầu tư không thể rủi ro hơn, thì các ngân hàng Châu Á luôn kiềm chế để những khoản đầu tư như vậy ở mức thấp nhất. Và trong khi Mỹ và Anh đang vét cạn những khoản dành dụm trên toàn thế giới, chính phủ Châu Á mua vào số lượng lớn cổ phiếu – trái phiếu chính phủ nước ngoài bằng khoản dự trữ ngoại hối.

    Thế nhưng nhiều con hổ Châu Á lại bị tổn thương nặng hơn những nền kinh tế "vung tay quá trán" Phương Tây. Trong quý Tư năm 2008, GPD có lẽ đã rớt với tốc độ trung bình bình quân cả năm khoảng 15% ở Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan; lượng xuất khẩu của họ sụt giảm hơn 50% bình quân cả năm. Giá cổ phiếu tại các nước Châu Á đang phát triển giảm một lượng tương đương với đợt khủng hoảng tài chính Châu Á cách đây một thập niên. Cuộc khủng hoảng đó đã bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá đáng của Châu Á vào vốn nước ngoài. Bây giờ đây, những con hổ lại gặp rắc rối vì phụ thuộc một cách quá đáng vào xuất khẩu.

    Các nền kinh tế đang nổi lên ở Châu Á đã từ lâu được coi là khu vực năng động nhất của thế giới, với GDP tăng bình quân hàng năm 7.5% trong thập niên vừa qua, nhanh gấp 2.5 lần so với toàn thế giới. Chỉ trong mùa hè vừa rồi, nhiều quốc gia trong số này đã được cảnh báo bởi những nhà quan sát nước ngoài rằng họ tăng trưởng quá nhanh và cần tăng lãi xuất để tránh lạm phát. Bây giờ đây, rất nhiều trong số các quốc gia này đang rơi tự do và tình hình có vẻ ngày càng tồi đi.

    Trong quý Tư năm 2008, GDP thực giảm với tốc độ so với cả năm là 21% ở Nam Hàn và 17% ở Singapore, dẫn tới lượng sản phẩm ở cả hai quốc gia giảm 3-4% so với năm ngoái. Chính phủ Singapore đã thừa nhận rằng nền kinh tế nước này có thể suy giảm tới 5% so với năm ngoái, đây là lần suy thoái nặng nề nhất kể từ ngày độc lập của Singapore năm 1965. So với Singapore, tăng trưởng 6.8% của Trung Quốc trong năm nay cho tới quý Tư nghe có vẻ lành mạnh, nhưng những ước đoán có điều chỉnh thời vụ cho thấy sản lượng đầu ra của quốc gia này đã chững lại trong 3 tháng cuối năm.

    Anh chàng khổng lồ giàu có hơn ở Châu Á, Nhật Bản, chưa báo cáo con số GDP của mình, nhưng xuất khẩu giảm 35% trong 12 tháng cho tới tháng 12. Trong cùng thời gian đó, Đài Loan giảm 42% và sản xuất công nghiệp giảm kinh hoàng 32%, tệ hơn cả cú rớt lớn nhất tính theo năm ở Mỹ trong thời kỳ Đại khủng hoảng.

    Những nền kinh tế hướng xuất khẩu của Châu Á đã hưởng lợi hơn nhiều so với các khu vực khác từ sự bùng nổ tiêu dùng ở Mỹ, và vì thế các doanh nghiệp ở đây dĩ nhiên sẽ bị tổn thương nặng bởi sự đảo chiều sụt giảm đột ngột. Xuất khẩu ở Châu Á vốn đã mong manh (xem bảng 1). Và với sự suy giảm 13% của xuất khẩu toàn khu vực trong 12 tháng tới tháng Mười Hai chỉ thua kém tí xíu so với năm 1998 hay 2001, các kỷ lục bất hạnh đó sẽ sớm bị đánh bại.

    Cú lao xuống của xuất khẩu càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đổ vỡ của hệ thống tài chính quốc tế, bởi bây giờ khó kiếm được nguồn vốn cho thương mại (trade finance). Giá cổ phiếu sụt giảm trên diện rộng càng làm cắt giảm đầu ra. Thương mại giữa Châu Á với nhau đã giảm còn lớn hơn so với giữa châu lục này và Mỹ hay Châu Âu. Xuất khẩu từ Trung Quốc tới các khu vực còn lại của Châu Á giảm 27% trong tháng Mười Hai so với năm ngoái, phần nào phản ánh nhu cầu thấp hơn cho các linh kiện lắp ráp tạo ra sản phẩm để tái xuất khẩu.


    Bảng 1

    Những con số xuất khẩu gây kinh hoàng đó chưa phải là toàn bộ nguyên nhân cho sự phiền muộn ở Châu Á. Nếu nhìn kỹ các con số khác, người ta thấy ở phần lớn các quốc gia này, nhập khẩu còn giảm nhiều hơn cả xuất khẩu, và đó là phần lớn bởi nhu cầu nội địa suy yếu.

    Ví dụ tại Trung Quốc, tiêu dùng nội địa suy yếu - đa phần là kết quả của sự sụp đổ trong lĩnh vực xây dựng nhà ở - đã chiếm quá nửa tốc độ suy giảm của quốc gia này năm 2008. Ở Nam Hàn, xuất khẩu thực thực ra đã đóng góp dương vào tăng trưởng GDP trong quý Tư, trong khi chi tiêu tiêu dùng và đầu tư cố định rớt với tốc độ bình quân cả năm là 18% và 31%. Nam Hàn là một ngoại lệ so với quy luật "khôn ngoan" của Châu Á. Các gia đình Nam Hàn nợ nần tới 150% so với thu nhập có thể sử dụng của họ, thậm chí còn cao hơn cả Mỹ. Hệ thống ngân hàng, nơi đã vay mượn nước ngoài một cách mạnh mẽ để chi trả cho làn sóng vay mượn trong nước cũng đã bị tổn thương nặng nề với sự đổ vỡ của thị trường tài chính thế giới, làm cho các công ty của quốc gia này khó kiếm nguồn vốn đầu tư cho mình.

    Chi tiêu tiêu dùng nội địa cũng sụp đổ ở các nơi khác. Trong 12 tháng vừa qua, bán lẻ sụt giảm 11% ở Đài Loan, 6% ở Singapore và 3% ở Hồng Kông. Là các trung tâm thương mại lớn, hai quốc đảo trên đã bị tơi tả bởi cơn bão toàn cầu. Cả hai đều cầm nắm lượng cổ phiếu lớn, do đó sự trao đảo của thị trường chứng khóa và giá hàng hóa đã làm người dân hoảng sợ không dám tiêu dùng. Ở Hồng Kông, giá nhà trung bình đã giảm khoảng 20% kể từ mùa hè và Goldman Sachs, một ngân hàng đầu tư, dự đoán sẽ tiếp tục giảm 30% nữa tới giữa 2010.


    Bảng 2

    Một báo cáo gần đây của Frederic Neumann và Robert Prior-Wandesforde, hai nhà nghiên cứu kinh tế tại HSBC, một ngân hàng lớn, lập luận rằng Châu Á đang phải gánh chịu hai cuộc khủng hoảng: Một nội địa và một quốc tế. Cầu nội địa được coi là phải hứng chịu cú đập của sự sụt giảm xuất khẩu, nhưng thực ra nó bị tác động bởi hai lực. Thứ nhất, đó là sự tăng giá đột ngột của thực phẩm và năng lượng trong nửa đầu của năm 2008 làm lợi nhuận của các công ty, cũng như mãi lực tiêu dùng sụt giảm. Thực phẩm và năng lượng là hai thứ chiếm phần lớn ngân sách gia đình ở Châu Á, so với đa số các khu vực khác. Thứ hai, ở một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Nam Hàn và Đài Loan, các chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm "điều trị" lạm phát đã làm nghẹt hơn nữa cầu tiêu dùng. Đánh giá lại, người ta thấy rằng các chính sách hạn chế tín dụng của Trung Quốc để hạ nhiệt khu vực bất động sản của nó đã có tác dụng "quá tốt".

    Hai cuộc khủng hoảng thúc đẩy lẫn nhau. Một phần của sự suy giảm chi tiêu quốc nội dẫn tới ít thứ để xuất khẩu hơn, làm cho các công ty phải cắt giảm đầu tư và đuổi bớt công nhân. Điều này làm cho không ai có thể nói rằng nguyên nhân nội địa hay quốc tế là nguyên nhân chính dẫn tới sự đau đớn của Châu Á. Sự coi trọng xuất khẩu của các nền kinh tế thần kỷ ở Châu Á đã từ lâu là điều gây tranh cãi. Những con số thô sơ cho thấy, trung bình, các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á xuất khẩu khoảng 47% của GDP, so với 37% của 10 năm trước. Con số thực tế biến động từ 14% ở Ấn Độ tới 186% ở Singapore (xem bảng 2). Ở Nhật Bản, một quốc gia được coi là có nền kinh tế hướng xuất khẩu, xuất khẩu chỉ chiếm có 16% GDP.

    Nhưng tỉ lệ này không thể hiện đúng mức sự lệ thuộc của một quốc gia vào cầu từ bên ngoài, nếu xuất khẩu có hàm lượng nhập khẩu cao. Trung Quốc xuất khẩu chiếm tới 36% GDP, nhưng một nửa trong số đó là "xuất khẩu dạng gia công", trong đó chứa rất nhiều linh kiện nhập khẩu. Do đó ảnh hưởng lên tăng trưởng GDP của sự sụt giảm trong xuất khẩu sẽ được phần nào bù trừ nếu nhập khẩu giảm theo. Ước tính cho thấy lượng giá trị gia tăng nội địa từ hàng xuất khẩu Trung Quốc ở mức khiêm tốn hơn là 18% GDP.

    Một thước đo khác về mức độ quan trọng của xuất khẩu là sự thay đổi của lượng xuất khẩu thực trên các con số thực tế. Giữa năm 2002 và 2007, mức độ tăng trưởng xuất khẩu thực chỉ chiếm 15% tốc độ tăng trưởng GDP thực ở Trung Quốc. ngược lại, xuất khẩu thực chiếm một nửa mọi tăng trưởng ở Singapore và Đài Loan. Tuy nhiên, thước đo này không chỉ ra được ảnh hưởng tổng thể, bởi nó bỏ qua các hiệu ứng phụ của xuất khẩu tới những thứ như triển vọng kinh doanh, đầu tư, thị trường việc làm và chi tiêu tiêu dùng. Dù cách này hay cách khác, các nền kinh tế nhỏ hơn như Hồng Kông, Singapore và Đài Loan, đều phụ thuộc xuất khẩu nặng nề. Các nền kinh tế khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, đỡ phụ thuộc xuất khẩu hơn.

    Sự phục hồi của Châu Á từ cuộc khủng hoảng lần trước được dẫn dắt bởi sự gia tăng xuất khẩu tới các quốc gia giàu có trên thế giới. Đây là điều khó xảy ra trong tương lai gần. Câu hỏi đặt ra là, liệu nhu cầu trong nước có tăng lên để che lấp bớt sự ế ẩm của nền kinh tế? Có những lý do để nghĩ như thế. Giá hàng hóa giảm đang kích thích sức mua của người tiêu dùng, ngược lại với chiều hướng của năm ngoái. Quan trọng hơn là tác động của sự nới rộng tài chính và tiền tệ.

    Ngoại trừ Nam Hàn và Ấn Độ, Châu Á vẫn chưa chịu các vấn đề tài chính đang làm phương Tây khốn đốn. Các nhà nghiên cứu kinh tế HSBC nhận định rằng khu vực này có lẽ chỉ chịu một cái nhéo tín dụng hơn là sự đổ vỡ trên diện rộng. Trái ngược với Mỹ và Châu Âu, nơi mà nợ nần chồng chất sẽ ngăn cản chi tiêu trong nhiều năm tới, đa số gia đình và doanh nghiệp Châu Á (ngoại trừ Nam Hàn) có số nợ khá khiêm tốn. Và bởi vì hệ thống ngân hàng lành mạnh hơn, các ngân hàng Châu Á có lẽ sẽ không phản ứng giống các ngân hàng phương Tây bằng cách từ chối cho vay trong khủng hoảng. Do đó, việc giảm lãi suất và xoa dịu kiểm soát tín dụng sẽ có hiệu quả hơn bất kỳ nơi nào. Không kém phần quan trọng là sự giải cứu thị trường tài chính quy mô lớn của các chính phủ Châu Á. Điều này cũng tỏ ra sẽ hiệu quả hơn ở các nơi khác, bởi khu vực kinh tế tư nhân ở đây đang làm ăn tốt hơn và sẽ có khả năng đáp lại bằng cách chi tiêu nhiều hơn.

    Châu Á chưa bao giờ triển khai vũ khí tài chính và tiền tệ của mình mạnh mẽ như hiện nay. Mỗi quốc gia trong khu vực đều cắt giảm lãi suất và thông báo gói kích thích kinh tế. Trong lần suy sụp kinh tế trước đây, chính phủ Châu Á thường bị hạn chế bởi những chỉ trích về tài chính công, hoặc nhu cầu bảo vệ giá trị đồng bản địa. Nhưng lần này họ bước vào chu kỳ suy sụp kinh tế với thâm hụt ngân sách nhỏ, hoặc thậm chí thặng dư ngân sách. Các nền kinh tế đang trỗi dậy chính của Châu Á, trừ Ấn Độ, đang có tỉ lệ nợ quốc gia trên GDP tương đối thấp.

    Mặc dù kích thước thực của các gói kích thích tài chính ở một số quốc gia, đáng kể nhất là Trung Quốc, có lẽ sẽ nhỏ hơn các con số báo chí đưa, chúng vẫn gây ấn tượng. Sau khi chỉnh lý những con tính bị trùng lặp và các thước đo không thực tế, Trung Quốc, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ bắt đầu hưởng gói kích thích tài chính ở mức ít nhất là 3% GDP trong năm 2009. Trung Quốc đã ra tín hiệu rằng sẽ còn có biện pháp tiếp theo trong vòng vài tháng tới; quốc gia này chắc chắn có thể chi thêm. Ngày 22/01/2009, chính phủ Singapore đã tuyên bố một gói các biện pháp tương đương với 8% GDP. Đây là lần đầu tiên, khoản chi tiêu như thế này được tài trợ bằng cách rút từ quỹ dự trữ khổng lồ của chính phủ Singapore.

    Sự hiệu quả của việc nới lỏng các chính sách tài chính phụ thuộc vào cấu trúc, cũng như kích thước của nó. Giảm thuế thu nhập được đưa ra ở Nam Hàn và Đài Loan sẽ chỉ có ảnh hưởng khiêm tốn nếu tiền đó được dành dụm thay vì đưa vào chi tiêu. Thuế doanh nghiệp, được đưa ra ở Singapore, có thể không kích thích đầu tư nếu lợi nhuận đang trên đà sụt giảm. Chính quyền Đài Loan đang nỗ lực kích thích chi tiêu tiêu dùng bằng cách phát ra những phiếu mua hàng trị giá 3.600 tiền Đài Loan (tương đương 107USD) cho mỗi công dân của mình. Các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn nghi ngờ rằng việc làm này sẽ tạo ra làn sóng tiêu dùng mới, nhưng cơ chế này đang được theo dõi khá sát bởi các chính phủ Châu Á khác.

    Điều hứa hẹn hơn cả là việc các quốc gia đang lên kế hoạch kích thích chi tiêu vào cơ sở hạ tầng. Trong ngắn hạn, đây là cách tốt nhất để chính phủ thúc đẩy cầu và tăng việc làm; trong dài hạn, những xa lộ và đường xe lửa sẽ thúc đẩy sản xuất. Thắt chặt tài chính trong các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á sau khủng hoảng 1998 đã khiến chính phủ cắt giảm vốn đầu tư; và kết quả là cơ sở hạ tầng công cộng ở một số quốc gia, đáng kể là Indonesia và Thái Lan, bây giờ có lẽ tồi hơn so với một thập niên trước đây. Do đó có nhiều cơ hội để chi tiêu lớn hơn vào cơ sở hạ tầng.

    Nếu (vẫn là một chữ NẾU lớn) Trung Quốc và các quốc gia khác thực hiện đầy đủ kế hoạch kích thích kinh tế của họ, cầu nội địa sẽ bắt đầu khôi phục trong nửa thứ hai của năm nay, ngay cả khi xuất khẩu vẫn yếu đuối. Tăng trưởng trung bình ở các quốc gia đang trỗi dậy Châu Á có thể chỉ ở mức 4-5% cả năm, bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng của nó năm 2007, và là chậm nhất kể từ sau khủng hoảng kinh tế Châu Á. Nhưng nó vẫn còn tốt hơn là cú tụt 2.4% năm 1998 (xem bảng 3). Con số trung bình đó che dấu một biên độ biến đổi rất rộng. Nền kinh tế Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ tăng trưởng âm trong năm nay, trong khi các nền kinh tế lớn hơn, nhưng ít cởi mở hơn, như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia sẽ duy trì ở mức tốt hơn.

    Mua sắm hay dành dụm

    Tuy nhiên, các chính phủ ở Châu Á có nhiều thứ phải lo lắng hơn, ngoài tốc độ tăng trưởng. Sau khủng hoảng hiện thời, tăng trưởng sẽ do đâu mang lại? Sự bùng nổ tiêu dùng và mở rộng thâm hụt ngân sách Mỹ, điều đã đem lại phần lớn tăng trưởng cho Châu Á thập niên vừa qua, đã đi đến chỗ kết thúc. Thời kỳ vung tay quá trán của Mỹ có lẽ sẽ không lặp lại như một chu kỳ. Trong những năm tới, Mỹ sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn và nhập khẩu ít đi. Sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Châu Á, vì thế, dường như đã tới giới hạn của nó.

    Nó cần có một động cơ khác cho tăng trưởng: trong tương lai, nó sẽ phải dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, đặc biệt là tiêu dùng. Trong những năm gần đây, nó đã làm điều trái ngược: chi tiêu tiêu dùng đã giảm trong cấu trúc GDP, trong khi đó xuất khẩu và đầu tư đã leo lên (xem bảng 4). Hai thập niên trước, chi tiêu tiêu dùng chiếm 58% GDP của Châu Á. Tới năm 2007, con số này giảm xuống 47%. Chi tiêu tiêu dùng ở Trung Quốc chỉ chiếm 36% GDP, một nửa con số của Mỹ. Một phân tích bởi CLSA, một công ty môi giới, cho thấy tỉ trọng xuất khẩu trên GDP hiện tại vượt quá tiêu dùng cá nhân trong 6 trên 11 quốc gia Châu Á mà nó theo dõi.

    Làm thế nào để Châu Á thúc đẩy tiêu dùng? Điều này phụ thuộc vào lý do tại sao nó đi xuống hiện tại. Một lý giải thường thấy là các gia đình Châu Á đang cố gắng tiết kiệm phần lớn thu nhập của mình để tránh những rủi ro về lương hưu và phúc lợi xã hội - một mối lo càng ngày càng tăng trong cuộc khủng hoảng.

    Nhưng lý giải này có gì đó không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Tại nhiều quốc gia, đáng kể là Nam Hàn và Đài Loan, tiết kiệm của các gia đình đã giảm tương đối với thu nhập trong thập niên vừa qua; ở Trung Quốc, chúng tương đối bằng phẳng (sự gia tăng của tốc độ tiết kiệm ở Trung Quốc tới từ các công ty và chính phủ, chứ không phải từ các gia đình).

    Nếu các gia đình không tiết kiệm nhiều hơn, tại sao lại có sự hao hụt trong phần đóng góp vào GDP? Câu trả lời là vì thu nhập từ lương đã giảm tương đối so với GDP. Ở Trung Quốc, đóng góp từ lương giảm từ 53% năm 1998 xuống 40% năm 2007.

    Một lý do là số lượng công việc tạo ra ít đi vì chính phủ khuyến khích các ngành công nghiệp thâm dụng vốn (capital-intensive). Trên khắp Châu Á, và đặc biệt là Trung Quốc, lãi suất thấp đã khuyến khích đầu tư và các chính sách như giữ tỷ giá hối đoái thấp và bảo trợ đã ưu tiên cho sản xuất thay vì các dịch vụ thâm dụng lao động (labour-intensive service).

    Do đó nếu Châu Á muốn dịch chuyển động lực tăng trưởng của mình sang hướng tiêu dùng, phương thuốc thường dùng là thúc đẩy các gia đình chi tiêu nhiều hơn là chưa đủ. Các chính sách của chính phủ sẽ phải thay đổi để nâng thu nhập của các gia đình lên. Chúng bao gồm: Từ bỏ sự thiên vị về hướng sản xuất thâm dụng vốn; thúc đẩy tự do hóa thị trường tài chính để giảm chi phí vốn; cắt các bảo hộ và miễn giảm thuế dành riêng cho các ngành sản xuất, thay vì dịch vụ; và tấn công các cơ sở độc quyền và các rào cản khác tới các ngành dịch vụ. Một tỷ giá hối đoái mạnh hơn cũng sẽ giúp dịch chuyển khỏi tăng trưởng nhờ xuất khẩu, và thúc đẩy mãi lực của các gia đình nhờ giảm chí phí nhập khẩu, xét trên khía cạnh đồng tiền bản địa.

    Ngược lại, một số ở Trung Quốc đang dại dột kêu gọi phá giá đồng Nhân Dân Tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Điều này không có mấy ích lợi thúc đẩy xuất khẩu, vì xuất khẩu đang tổn thương bởi thiếu vắng nhu cầu hơn là vì thiếu sự cạnh tranh, nhưng nó lại ngăn cản các thay đổi kinh tế cần thiết.

    Ngay cả nếu tiết kiệm của các gia đình giảm xuống, chúng vẫn ở mức cao, ở khoảng 20% tại Trung Quốc và Đài Loan. Điều này phản ánh tâm lý giới trẻ muốn tiết kiệm cho tuổi già. Một nghiên cứu của IFM tiên đoán rằng khi dân số già cỗi và những người về hưu này sử dụng khoản tiết kiệm của mình, nó sẽ đẩy tỉ lệ tiêu dùng trên GDP ở một số quốc gia lên 8 điểm phần trăm hoặc hơn trong thập niên tới.

    Từ từ hồi phục

    Những thay đổi trong chính sách cũng có thể giúp giảm mức độ tiết kiệm. Ở các hệ thống tài chính phát triển kém, các gia đình khó kiếm được các khoản vay và do đó cần phải tiết kiệm cho những lúc cần tới. Tạo ra con đường thông thoáng để các gia đình có thể vay sẽ giúp giảm mức độ tiết kiệm. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ tín dụng và tan vỡ như thế này, các chính phủ sẽ phải cực kỳ thận trọng trong cải cách tài chính.

    Việc thiếu vắng hệ thống phúc lợi xã hội đầy đủ cũng là nguyên nhân khiến người ta để dành. Như thế, chi tiêu lớn hơn vào y tế, giáo dục và hỗ trợ phúc lợi có thể khuyến khích các gia đình giảm tiết kiệm và tăng chi tiêu. Do đó, trong bản tin gần đây, Trung Quốc tuyên bố sẽ dành 850 tỉ Nhân Dân Tệ (125 tỉ USD) trong 3 năm tới để cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ bản tới ít nhất 90% dân số vào năm 2011 là điều đáng khuyến khích. Nhưng chi tiết về kế hoạch này còn rất sơ sài.

    Sau cuộc khủng hoảng Châu Á, nhiều người ngoại quốc đã quá vội vã kết luận rằng sự thần kỳ của khu vực đã chết. Các nền kinh tế đó sống trở lại không phải chỉ bởi khẩu vị của những người tiêu dùng Mỹ, mà còn bởi Châu Á vẫn còn những yếu tố quan trọng cho sự phát triển: năng suất ngày càng tăng; có nhiều khoản tiết kiệm để dành cho đầu tư; các rào cản nhập khẩu còn thấp đủ để kích thích cạnh tranh. Những thứ đó sẽ giúp Châu Á tiếp tục là khu vực tăng trưởng nhanh nhất của thế giới. Nhưng những công nhân và người tiêu dùng phải được hưởng miếng lớn hơn từ miếng bánh thu được.

    Tỉ lệ tiêu thụ và vay mượn thấp của Châu Á đồng nghĩa với việc nó có thể lợi dụng tiêu dùng như một động lực phát triển trong thập niên kế tiếp. Trong lần khủng hoảng trước đây, Châu Á đã phải uống thứ thuốc không chữa đúng bệnh. Đi ra phố và tiêu tiền nhiều hơn chắc chắn sẽ tạo sự thay đổi tốt đẹp.

    Chủ đề: Kinh tế, Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    WB cho biết nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ giảm 14% trong 2 tháng cuối năm 2008. Tuy nhiên lượng hàng nhập từ Bangladesh, China, và Việt Nam lại tăng trong 2 tháng đó vì đây là những nước xuất hàng may mặc giá rẻ. Điều này hoàn toàn trùng hợp với 6% tăng trưởng của Wal Mart trong Q4 vì dân Mỹ chuyển dần sang mua các loại hàng hóa rẻ tiền hơn. Đây là hiệu ứng thay thế (substitution effect) trong kinh tế vi mô. Gần đây hiệu ứng này còn được gọi là hiệu ứng Walmart (Walmart effect), hiệu ứng này chắc không giới hạn ở Mỹ mà sẽ lan ra cả thế giới.

    Liệu các nhà xuất khẩu VN có kịp chuyển hướng sang các mặt hàng rẻ tiền hơn để tận dụng hiệu ứng Walmart trong thời gian tới? Liệu các chính sách khuyến khích/trợ giúp xuất khẩu của chính phủ (chẳng hạn phá giá đồng nội tệ) có tập trung vào các mặt hàng rẻ tiền không?

    Bổ sung thêm 1 tin :

    Trung Quốc cam kết giữ tỷ giá ổn định

    Chính phủ Trung Quốc ngày 18-2 đã thông báo giữ tỷ giá ổn định và sẽ dùng một phần của khoản tiền 1,95 tỉ đô la Mỹ trong nguồn dự trữ ngoại tệ để kích thích nhập khẩu cũng như tiêu dùng nhằm chống chọi lại cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Trong khi đó, các nhà xuất khẩu Trung Quốc lại mong muốn đồng nhân dân tệ sẽ bị phá giá, vì điều này có thể làm cho hàng hóa của họ rẻ hơn ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều này là rất khó xảy ra bởi theo các nhà kinh tế, nó có thể gây nhiều căng thẳng trong quan hệ thương mại toàn cầu.

    Theo AP, một thành viên thuộc ban quản lý ngoại hối của Trung Quốc, ông Deng Xianong, cho biết họ sẽ duy trì sự ổn định của tỷ giá của đồng nhân dân tệ ở mức cân bằng và hợp lý. Điều này không chỉ tốt cho Trung Quốc và thế giới mà còn tốt cho cả việc giải quyết vấn đề khủng hoảng tài chính hiện nay.

    Trung Quốc cũng đang tìm cách làm thế nào để sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ để có thể kích thích tiêu dùng và nhập khẩu. Gói kích cầu của chính phủ Trung Quốc trị giá 4.000 tỉ nhân dân tệ (586 tỉ đô la Mỹ) được thực hiện với ý định ngăn cho Trung Quốc không rơi vào suy thoái toàn cầu bằng cách giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu thông qua những nỗ lực kích thích tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm 43% vào tháng 1 so với năm ngoái.(Nguồn: TBKTSG, 18/2)

    Ngược lại, một số ??????? ở Trung Quốc đang dại dột kêu gọi phá giá đồng Nhân Dân Tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Điều này không có mấy ích lợi thúc đẩy xuất khẩu, vì xuất khẩu đang tổn thương bởi thiếu vắng nhu cầu hơn là vì thiếu sự cạnh tranh, nhưng nó lại ngăn cản các thay đổi kinh tế cần thiết.
    =================
    Một số gì vậy bác hihih

    Chi tiêu tiêu dùng nội địa cũng sụp đổ ở các nơi khác. Trong 12 tháng vừa qua, bán lẻ sụt giảm 11% ở Đài Loan, 6% ở Singapore và 3% ở Hồng Kông. Là các trung tâm thương mại lớn, hai quốc đảo trên đã bị tơi tả bởi cơn bão toàn cầu. Cả hai đều cầm nắm lượng cổ phiếu lớn, do đó sự trao đảo của thị trường chứng khóa và giá hàng hóa đã làm người dân hoảng sợ không dám tiêu dùng. Ở Hồng Kông, giá nhà trung bình đã giảm khoảng 20% kể từ mùa hè và Goldman Sachs, một ngân hàng đầu tư, dự đoán sẽ tiếp tục giảm 30% nữa tới giữa 2010.
    =====================
    Chao đảo => tìm ra được một lỗi chính tả rồi bác nhé hihihi