Cơ hội có thật nào cho Việt Nam trong khủng hoảng?

  • Bởi Bien-Tap
    05/02/2009
    5 phản hồi

    Ts. Phan Minh Ngọc

    Có những cơ hội được nói đến trong khủng hoảng mà nếu cố tình tóm bắt sẽ trở thành thảm họa cho nền kinh tế. Cơ hội có thật chính là tự cải cách, đổi mới mình. Nếu không làm đúng, vin vào lí do khủng hoảng để có những chính sách bất hợp lý cũng là thảm họa - Ts. Phan Minh Ngọc nói.

    Cơ hội liệu có thật?

    Đã có nhiều bài viết và phát biểu của các quan chức và chuyên gia về cơ hội của Việt Nam trong khủng hoảng, kể từ thời điểm có những số liệu thống kê cho thấy: cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự đặt dấu ấn lên nền kinh tế Việt Nam.

    Những số liệu đó đã đặt hồi kết cho luồng ý kiến vô căn cứ của một số người cho rằng Việt Nam không chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng kinh tế.

    Tuy nhiên, không khó để thấy rằng nhiều trong số những cái gọi là “cơ hội” mà những nhân vật này đưa ra thực ra chẳng phải là cơ hội. Đôi khi, việc cố tình tóm bắt những “cơ hội” đó lại trở thành thảm họa cho nền kinh tế.

    Đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất

    “Cơ hội” tiêu biểu nhất được nhiều người nêu ra có lẽ là chuyện giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị và phương tiện sản xuất kinh doanh đã sụt giảm đáng kể, và đây được coi là dịp may hiếm có để các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mua vào để nâng cấp và mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh của mình (chuyện mà mới chỉ một vài tháng trước còn là điều trong mơ).

    Với lập luận rất có tính thuyết phục này hết Vinalines đến Hiệp hội dệt may đều kiến nghị Chính phủ hỗ trợ tín dụng để nhập dây chuyền máy móc và phương tiện.

    Ít nhất có hai điều mà những người đưa ra “cơ hội” này đã không tính đến. Đó là đầu ra cho sản phẩm của họ. Đó là chi phí và khả năng thu xếp các khoản tín dụng ngoại tệ để nhập khẩu máy móc và phương tiện.

    Nói cách khác, để được coi là cơ hội thì các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam phải tìm được thị trường tiêu thụ cho khối lượng sản phẩm gia tăng từ việc mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, còn nguồn vốn tín dụng phải có lãi suất tương đối thấp và điều kiện cho vay tương đối dễ dãi.

    Trong hoàn cảnh hiện nay, dễ thấy điều kiện đầu tiên đã bị vi phạm nặng nề, khi xét đến tổng cầu hàng hóa và dịch vụ đã suy giảm không chỉ trên thế giới mà ngay cả trong nước. Với bối cảnh như vậy, việc sử dụng hết năng lực sản xuất kinh doanh hiện có đã là một thành công ngoạn mục đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam.

    Bởi thế, đầu tư vào máy móc, phương tiện và hạ tầng cơ sở rồi đắp chiếu để đấy, chờ đợi vô vọng cho cầu phục hồi và gia tăng trong khi vẫn phải trả các chi phí liên quan hẳn nhiên không phải là một quyết định mang tính kinh tế.

    Ví như Vinalines, đầu tư vay vốn mua thêm tầu để gia tăng năng lực vận chuyển với giá mua rẻ đi vài chục phần trăm thoạt nghe có vẻ là một quyết định rất khôn ngoan. Thế nhưng người ta sẽ phải giật mình khi biết rằng mới gần đây đã có những hãng tầu trên thế giới phải chấp nhận hạ giá vận chuyển hàng hóa xuống còn 0 (và chỉ tính phụ phí nhiên liệu và một số phí lặt vặt khác).

    Thêm nữa, hiện chẳng một chuyên gia nào dám chắc rằng cuộc khủng hoảng sẽ chấm dứt nay mai và mọi việc sẽ trở lại bình thường (cầu sẽ phục hồi) trong một tương lai gần để cho những doanh nghiệp “đi tắt đón đầu” như Vinalines gặt hái lợi nhuận. Việc mua tầu rồi để chấp nhận một mức giá vận chuyển thấp đến mức phi lý hoặc không thì phải để han gỉ ở các bến bãi trong một thời gian bất định đâu có khác gì một thảm họa kinh tế?

    Tiếp cận tín dụng

    Về nguồn tín dụng, không phải ngẫu nhiên mà những đề xuất kiểu như trên thường được đưa ra bởi các doanh nghiệp nhà nước, và yêu cầu Chính phủ thu xếp các khoản tín dụng với các điều khoản ưu đãi.

    Bản thân những doanh nghiệp này biết rõ rằng việc tự tiếp cận được với các nguồn tín dụng ngoại tệ hiện nay không hề dễ dàng chút nào và với giá không hề rẻ chút nào như dư luận vẫn lầm tưởng khi thấy các ngân hàng trung ương trên thế giới đua nhau hạ lãi suất cơ bản.

    Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu với nhiều bất trắc và rủi ro đổ vỡ, các tổ chức tín dụng nước ngoài đều ra sức áp dụng chiến lược kinh doanh thận trọng, phòng ngừa rủi ro, co hẹp tín dụng hoặc xét nét hơn khi cho vay, và với lãi suất cao.

    Như một cái vòng luẩn quẩn, suy thoái kinh tế làm sụt giảm tổng cầu và tăng nợ xấu dẫn đến thắt chặt tín dụng, rốt cuộc càng làm cho suy thoái kinh tế càng trầm trọng hơn.

    Tất nhiên, Chính phủ có thể đứng ra bảo lãnh các khoản vay này. Nhưng như vậy, mọi rủi ro bất trắc của thị trường, của doanh nghiệp sẽ chất hết lên đôi vai của Chính phủ.

    Và sẽ đến một lúc nào đó, kể cả với sự bảo lãnh của Chính phủ, các chủ nợ nước ngoài sẽ đặt câu hỏi: Liệu Chính phủ Việt Nam có thể thực hiện được toàn bộ nghĩa vụ nợ của mình với quy mô như vậy không? Nói cách khác, cánh cửa tiếp cận với nguồn vốn này cũng rất hạn chế.

    Sẽ có người chỉ ra rằng các ngân hàng trong nước cũng có một nguồn vốn ngoại tệ nhất định và Việt Nam còn có một khoản dự trữ ngoại tệ nghe đâu chừng 20 tỷ đôla, là những nguồn mà các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước có thể trông vào.

    Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp với các tổ chức tín dụng nước ngoài. Có lẽ trừ khi có mệnh lệnh hành chính của Chính phủ buộc các ngân hàng nội địa cung cấp tín dụng theo yêu cầu của các doanh nghiệp (nhà nước) hoặc Chính phủ đứng ra bảo lãnh thì các doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được với nguồn vốn này, khi xét đến những yếu tố tiêu cực trong môi trường sản xuất kinh doanh hiện nay. Còn nguồn dự trữ ngoại tệ thì về bản chất không phải là để cho các hợp đồng tín dụng thương mại, và cũng không phải là sẵn sàng cho mục đích này, ít ra vì nó còn phải thực hiện nhiều sứ mệnh quan trọng hơn, hoặc việc sử dụng cho mục đích này sẽ gây ra nhiều hậu quả tai hại hơn.

    Tóm lại, về nguyên tắc, tiền (ngoại tệ) vẫn còn ở một nơi nào đó và vẫn có thể đến được tay các doanh nghiệp, nhưng với những điều kiện ngặt nghèo hơn, đồng nghĩa với chi phí vốn sẽ không hề rẻ, làm cho việc mua máy móc thiết bị trở nên không còn mấy hấp dẫn nữa, bên cạnh chuyện mù mịt thị trường đầu ra.

    Đặt vấn đề một cách đơn giản hơn, nếu chuyện này thực sự là một cơ hội thì sẽ có nhiều doanh nghiệp ở nhiều nước khác cũng không dại gì mà bỏ qua. Nhưng việc giá cả hàng hóa tụt giảm mạnh như thời gian qua tự nó nói lên rằng đó không phải là cơ hội!

    Cơ hội nào trong khủng hoảng?

    Vậy Việt Nam có cơ hội gì trong cuộc khủng hoảng này? Theo người viết, cơ hội là không có nhiều, và nếu có thì đó là cơ hội cho các thay đổi và cải cách trong bản thân Chính phủ cũng như trong chính sách kinh tế của mình.

    Có lẽ sau cuộc khủng hoảng này, nhiều người Việt Nam, trong đó có những quan chức và nhà quản lý, sẽ tin rằng không có cái gì là không thể xảy ra trong thế giới thực này, và Việt Nam quá nhỏ bé để có thể bình yên vô sự đứng ngoài mọi biến động trên thế giới. Rất hy vọng sau đây sẽ có một cuộc lột xác, thay đổi về đội ngũ, tư duy và trình độ quản lý, mức độ minh bạch, phương hướng phát triển.

    Tuy vậy, cơ hội này lại cũng rất có thể sẽ trở thành một thảm họa nếu như người ta nhân danh chống suy thoái, chống khủng hoảng mà thực hiện những biện pháp can thiệp bất hợp lý và những chính sách phi kinh tế mà vì khuôn khổ có hạn ta không thể nêu ra đây.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Bác à, bác cũng không nên lo lắng nhiều quá vận mệnh của dân tộc VN. Mỗi dân tộc đều có một vận mệnh riêng của nó, và nó buộc phải trải qua "những điều trông thấy mà đau đớn lòng".

    Tôi nghĩ rằng vận mệnh của một dân tộc thì chính bản thân từng cá nhân sống trong "lồng" dân tộc đó phải chịu trách nhiệm đối với từng quyết định của mình giống như chịu trách nhiệm đối với số phận của mình. Không một ai có thể quyết định thay cho họ, kể cả bác và tôi.

    Chính vì thế, bác không nên lo lắng suy nghĩ nhiều. Hãy làm tốt công việc của bác đang làm đó là phát triển trang này, đó chính là cách để bác góp phần giúp thay đổi vận mệnh dân tộc.

    Chả biết khi nào thì tắc tử, và tắc tử xong có cứu lại được hay không bác Bayan Land à, nhưng đọc những bình luận thế này thì hơi lo, đến đời con cháu mình sẽ trả nợ kiểu gì...

    Ngành đóng tàu trong khủng hoảng

    Trần Vinh Dự viết:
    Như vậy, nếu đánh giá hết sức sơ bộ về Vinashin thì có thể nêu ra 5 điểm sau:

    Thứ nhất, Vinashin là hiện thân của tham vọng phát triển công nghiệp nặng truyền thống, một tham vọng có từ thời kinh tế bao cấp và được tiếp sức bởi “bài học” từ các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, và sau này là Trung Quốc.

    Thứ hai, Vinashin được hỗ trợ rất mạnh từ Nhà nước và vì thế đã vay rất nhiều vốn từ cả trong nước và nước ngoài. Vinashin dựa vào vốn vay để mở rộng đầu tư vào phát triển năng lực sản xuất với tốc độ chóng mặt kể từ đầu thập kỷ này. Điều này đem lại cho Vinashin khả năng đóng một số loại tàu nhất định phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên về hiệu quả dài hạn thì ngay cả ông Phạm Thanh Bình có thể cũng không biết.

    Thứ ba, nhìn vào số liệu thực tế trong những năm vừa rồi, Vinashin mới chỉ chớm có lãi (tỷ lệ lợi nhuận 0,5% là một tỷ lệ cực nhỏ, nếu so sánh với mức trung bình của thế giới là vào khoảng trên dưới 10%).

    Thứ tư, tỷ lệ lợi nhuận này rơi vào thời điểm phát triển cực kỳ thuận lợi của ngành đóng tàu thế giới. Trong những năm tới, đặc biệt là sau 2010, khi ngành này đi vào suy thoái, khả năng làm ăn có lãi của Vinashin sẽ là một câu hỏi cực lớn.

    Thứ năm, vấn đề khả năng làm ăn có lãi của Vinashin càng trở nên nghiêm trọng nếu xét về đầu ra của sản phẩm.

    Trong những năm vừa qua, phần lớn sản phẩm của tập đoàn này được tiêu dùng trong nước. Chỉ có phần nhỏ doanh thu (22%) là thu được từ xuất khẩu. Thị trường trong nước có quy mô rất nhỏ và sẽ nhanh chóng bão hòa. Vinashin sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật để lấy được các hợp đồng xuất khẩu trong tương lai.

    Những năm vừa qua do công suất của ngành đóng tàu thế giới được sử dụng hết, Vinashin đã có được các hợp đồng từ Anh Quốc, Đan Mạch và nhiều nước khác. Trong thời kỳ suy thoái sắp tới, với việc dư thừa công suất từ Hàn Quốc, Nhật và Trung Quốc, Vinashin làm thế nào để cạnh tranh lại với các tập đoàn “đàn anh” này?

    Tóm lại, Vinashin sẽ là một bài toán hóc búa cho Chính phủ Việt Nam. Khả năng rất cao là tập đoàn này sẽ rơi vào thua lỗ kể từ sau năm 2010, không có khả năng hoàn trả các khoản vay, và vì thế đẩy gánh nặng nợ nần sang vai người đóng thuế ở Việt Nam.

    Việc đưa ra những gợi ý chính sách hợp lý về lối thoát của công ty này sẽ cần dựa trên những nghiên cứu sâu hơn về năng lực tài chính của công ty, các dự án đang và sẽ được triển khai, cùng với việc rà soát lại bộ máy điều hành của tập đoàn này. Tất cả những thông tin này là nằm ngoài tầm tay của chúng tôi. Vì thế, bài viết này chỉ mang tính cảnh báo và là điểm xuất phát cho các nghiên cứu tiếp theo chứ không phải là một bài gợi ý chính sách.

    Đi vay tín dụng lãi 7%/năm (http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/News/quan-ly/Vinashin_duoc_vay_toan_bo_750_trieu_USD_trai_phieu_quoc_te/) mà lãi thực có 0.5% trong năm được coi là ăn nên làm ra. Còn mấy năm tới không có order thì sao đây...

    Giới đầu cơ kinh tế dựa vào sai lầm của chính sách chính phủ như bọn tôi thì đang mong chờ gói kích cầu này càng nhiều càng tốt, càng mạnh càng tốt, càng quyết liệt càng tốt để "đầu cơ giá xuống" vụ này bác tqvn ạ. Tiếc là ở VN chưa có được lệnh bán khống, mua khống nếu không thì vụ này ngon ăn rồi :)

    Báo chí trong nước toàn là bọn "ăn theo nói leo", suốt ngày PR cho chính phủ thôi mà bác, bác đừng hy vọng gì ở họ, hãy hy vọng vào Dân Luận của bác (dĩ nhiên có một số ít bài viết như của bác Phạm Minh Ngọc và một vài người khác, nhưng tôi nghĩ là rất ít).

    Mà càng uống nhân sâm lúc đau bụng thì sớm có ngày tắc tử mà bác, hy vọng ngày tắc tử sớm xảy ra.

    Nhưng tôi đoán là giới nghiên cứu tư vấn chính sách cho chính phủ sẽ nhìn ra được vấn đề sớm thôi. Họ thường xuyên đọc những ý kiến như của bác Ngọc hay như của tôi và bác mà.

    Nên chuyện "tắc tử" tôi nghĩ là sẽ diễn ra từ từ thôi, không sớm được đâu, với lại dân trí của mình còn thấp lắm, "tắc tử" sớm không khéo xã hội loạn mất. Thế nên chuyện "khai dân trí" của bác lúc nào cũng cần thiết cả.

    Bác Ba Dũng vừa mới gần đây tuyên bố hùng hồn: "Nếu như Đảng, Nhà nước không tập trung trí tuệ, bỏ ra nhiều công sức chỉ đạo, điều hành nền kinh tế với những giải pháp đúng đắn thì không thể đạt được những thành tựu như ngày hôm nay."

    Kinh tế Việt Nam bớt phát triển nóng vào nửa cuối năm 2008 vừa rồi chưa biết có phải do các chính sách của chính phủ hay không, hay là vì sự sự đi xuống chung của kinh tế thế giới (nhớ là giá dầu giảm xuống chỉ còn 1/3 so với lúc đang sốt). Nhưng cái dự định kích cầu gần đây thì đúng là bốc thuốc nhầm bệnh. Trợ giúp vốn cho các doanh nghiệp bây giờ khác nào cho Lệnh Hồ Xung uống kỳ trân bảo dược. Trong lúc các doanh nghiệp đang không có đầu ra, sản phẩm bán không được, thì đầu tư nâng cấp máy móc và hiệu suất để làm gì không biết? Sản xuất ra để đổ xuống sông à (Cái này là viễn cảnh của thầy giáo CNXH Khoa Học của tôi ngày xưa kể khi nói về cái chết tất yếu của bọn Tư bản :D).

    Báo chí trong nước ít thấy ai đào sâu vụ này nhỉ?

    Ông Phạm Minh Ngọc đã chỉ ra được những điều rất vớ vẩn trong tư duy kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước và chính phủ Việt Nam.

    Điều vớ vẩn thứ 1: Suy thoái => tiêu dùng giảm => sản xuất giảm => thất nghiệp tăng => thu nhập giảm, tiết kiệm tăng => nhu cầu giảm => tiêu dùng và đầu tư dều giảm. Nói theo thuật ngữ kinh tế vĩ mô của Keynes là
    G = C + I + G + X sẽ giảm do C (tiêu dùng) và I (đầu tư) đều giảm

    Thế thì việc hết Vinalines đến Hiệp hội dệt may đều kiến nghị Chính phủ hỗ trợ tín dụng để nhập dây chuyền máy móc và phương tiện là những kiến nghị ngu ngốc đối với những nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn suy thoái kinh tế hiện nay.

    Mua máy móc về để sản xuất cho ai, có bán được đâu mà sản xuất, sản xuất quần áo cho ... nó mặc à !

    Điều vớ vẩn thứ hai sẽ nói sau nếu có bác nào quan tâm đến điều vớ vẩn thứ nhất của chính phủ.

    Bayn Land tôi chỉ nói trước công luận những gì người ta quan tâm, không nói những gì thiên hạ không hiểu.