Châu Á đứng dậy

  • Bởi Bien-Tap
    04/02/2009
    0 phản hồi

    Aaron I. Friedberg - The American Interest (January-February 2009)

    Tân Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, dự kiến thực hiện chuyến thăm châu Á đầu tiên kể từ khi nhậm chức trong tháng này, với các điểm dừng chân là Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc. Ngày 2/2/2009, bộ Ngoại giao Hàn quốc đã phát đi bản tin về sự kiện này. Chuyến viếng thăm 3 nước nói trên của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton chưa ấn định ngày chính xác, nhưng giới truyền thông quốc tế đưa tin, chuyến thăm của Hillary có thể diễn ra vào giữa tháng 2. Trong thời gian chờ đợi Quốc hội Mỹ phê chuẩn chức Ngoại trưởng, một số nhà cố vấn Mỹ từng khuyên Hillary Clinton nên sớm công du châu Á để thể hiện rằng chính phủ mới của Mỹ có bước tiến cân bằng đối với châu Á và châu Âu.

    Vì sao bà Hillary Clinton quyết định viếng thăm các nước châu Á đầu tiên trong vai trò ngoại trưởng? DÂN LUẬN xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của tác giả Aaron I. Friedberg, được đăng trên tạp chí The American Interest (số tháng 1-2/2009), do Blogger Trần Hoàng dịch sang tiếng Việt. Qua bài viết này chúng ta sẽ biết được chiến lược của Mỹ ở châu Á sẽ ra sao dưới thời tân Tổng thống Obama.

    Khi TT Barack Obama ngồi xuống họp với hội đồng an ninh quốc gia để xem xét lại bộ hồ sơ chính sách ngoại giao của Mỹ, ông ta sẽ nhìn thấy Á Châu, và chính sách của Mỹ ở Á Châu, dường như ở tình trạng tốt. Mặc cho những lời cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã làm ngơ miền đất nầy để tập trung vào Trung Đông và chủ nghĩa khủng bố, chính phủ của ông Bush thật sự đã dành nhiều công sức và sự chú ý vào Châu Á, và đang đạt được nhiều thành quả to lớn.

    Những mối liên hệ hàng ngày với Trung Quốc hiện nay tốt đẹp hơn đã từng có vào dạo năm 2000. Một số nhà quan sát thời cuộc đang mô tả các mối quan hệ ấy như là nồng nhiệt hơn và hợp tác hơn bất cứ lúc nào trong 20 năm qua (1988-2008). Hoa kỳ đã và đang thắt chặt quan hệ đồng minh của họ với Nhật Bản và đã và đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới bắt tay hợp tác chiến lược với Ấn Độ. Chính phủ Bush đã đạt được thành công để lèo lái và vượt qua những khác biệt sâu sắc với Nam Hàn – hết thẩy mọi chuyện từ các căn cứ quân sự đến các mối đàm phán thương nghị với Pyongyang (Bắc Hàn) - có đủ sự điêu luyện để tránh những sự khác biệt trong ý kiến có thể dẫn đến những sự sứt mẻ tình hữu nghị vĩnh viễn trong các mối quan hệ. Sự xuất hiện của một chính phủ mới thiên về Hoa Kỳ ở Hán Thành có thể làm cho các mối quan hệ dễ dàng hơn cho người kế tục ông Bush để đặt quốc gia đồng minh nầy trở lại trên đôi chân vững chắc.

    Một kết quả quan trọng tương tự như trên về chính sách ngoại giao ở Á châu của ông Bush là hai nồi hơi ngấm ngầm lâu nay chỉ chờ chực bùng nỗ ở Đông Á, xem ra bây giờ ít có cơ may bùng nỗ hơn mà họ đã từng có cách đây một vài năm. Nhờ vào những nỗ lực của Hoa Kỳ để ngăn chận cả hai bên, TQ và Đài Loan đã và đang vượt qua khỏi một thời kỳ nguy hiểm đặc biệt trong mối quan hệ của họ. Hiện nay đang có ít nhất một cơ hội mà chính phủ mới thành lập có quan điểm thực dụng hơn ở Đài Bắc, sẽ có thể đoạt được một giải pháp dài lâu bằng những cuộc thương nghị các vấn đề với Trung Quốc. Trong lúc nầy, Bắc Hàn đã và đang đi những bước quan trọng hướng tới hủy bỏ nguyên tử và đang tuyên bố ước muốn ấy của họ, theo nguyên tắc, để gỡ bỏ tất cả các yếu tố cơ bản của chương trình nguyên tử của họ. Một số chướng ngại vật hướng tới một sự dàn xếp có thể chấp nhận được tuy vẫn còn, nhưng tình thế hiện nay đường như càng ổn định hơn là tình thế dạo mùa thu năm 2002.

    Vậy thì chính ở Á Châu mà chính quyền của TT Bush đã tiến sát tới để đạt được các mục đích của họ. Thật vậy, một cựu nhân viên đã và đang đi xa hơn nữa để mô tả Châu Á như là một miền đất của “câu chuyện thành công chưa được nói tới của thủ đô Hoa Thịnh Đốn”(1). Những thành công của 8 năm qua là thực tế, nhưng những phán xét như trên thì có tình chất bề mặt và chưa chín mùi. Chính phủ Obama sẽ phải làm việc chuyên cần và chăm chỉ để ngăn ngừa những thành công đạt được của chính phủ Bush khỏi bị hủy hoại. Chính phủ Obama cũng sẽ phải nói ra một số đề tài khó khăn từ lâu nay mà TT Bush và các cố vấn của ông có thể đã phải tránh né, hay trì hoãn chờ đợi một thời gian thuận lợi hơn trong tương lai.

    Hồ sơ Á Châu

    Nếu chúng ta định giá trị chính sách ngoại giao của Obama ở Châu Á, để cho hợp lý chúng ta có thể bắt đầu với những thành đạt đáng hãnh hiện nhất của chính phủ của ông Bush: Cải thiện những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự thật là mối quan hệ hữu hảo của 2 quốc gia nầy thì chẳng có gì chắc chắn và bảo đảm. Trong thời gian sắp tới những đe dọa lớn nhất sẽ xuất phát từ kinh tế hơn là lãnh vực chiến lược. Đặc biệt nếu thế giới chậm chạp phục hồi từ những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chánh, những căng thẳng về thương mại ngấm ngầm giữa 2 cường quốc Thái Bình Dương có thể dễ dàng sôi trào ra. Chính phủ của Bush đã thành công phần lớn để ngăn chận những yêu cầu đánh thuế vào các hàng hóa của TQ để bảo vệ công nghệ Mỹ, hay phạt Bắc kinh vì không gia tăng giá trị của đồng nhân dân tệ. Vì những chuyện như đánh thuế hàng hóa của TQ nhập vào Mỹ và yêu cầu TQ tăng giá trị đồng nhân dân tệ là các ý kiến xuất phát chủ yếu từ bên trong đảng dân chủ, do đó TT Obama có thể nhận ra là rất khó lòng để chống cự lại những áp lực bảo vệ mậu dịch như thế của đảng dân chủ.

    Thí dụ, y như các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ đã từng căng thẳng vì những bất đồng về thương mại trong thập niên 1980s, vì vậy các đề tài về kinh tế có thể dễ dàng trở thành một nguồn chính của sự mâu thuẩn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Mặc dù có nhiều điểm tương tự nhau trong sự căng thẳng mậu dịch giữa Mỹ - Nhật và Mỹ - TQ, tuy vây, các tình thế hiện nay có tính chất khác nhau, ít nhất là trong một khía cạnh quan trọng: Vì bất luận những sự bất đồng ý kiến của họ là gì chăng nữa, Hoa Kỳ và Nhật Bản sau cùng bị ràng buộc chặt chẽ với nhau bởi một sự liên minh phòng thủ. Cả hai đã tin rằng họ đã chia sẻ nhau những giá trị chung và đối diện với một sự đe dọa chung. Ngày nay, trái lại, chính cái viễn cảnh của gia tăng kinh tế hỗ tương đang giữ Hoa Kỳ và Trung Quốc lại với nhau, đối lập với những khuynh hướng tiềm ẩn hướng tới sự không tin cậy nhau và kình địch nhau trong chiến lược. Nếu thương mại đang trở thành một đấu trường giữa Mỹ và Trung Quốc, sẽ ít có điều gì để ngăn chặn toàn bộ mối quan hệ khỏi sự trượt dốc nhanh chóng.

    Tương tự, những mối căng thẳng giữa TQ và Đài Loan hiện giờ đang trở lại và có khả năng làm yếu đi mối quan hệ giữa TQ và Mỹ. Trong khi tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng có thể ít ham muốn sự ưa thích độc lập hơn là đảng Dân Chủ Nhân dân để chọc giận Bắc Kinh và muốn đàm phán, tuy vậy đảng nầy sẽ không, và thật sự không thể, chấp nhận những đòi hỏi của Trung Quốc về sự thống nhất. Nói cho cùng, Đài Loan là một thể chế dân chủ trong đó đại đa số người dân ưa thích một sự tiếp tục tình trạng không thay đổi hiện nay của Đài Loan. Nếu những nhà lãnh đạo Trung Quốc trông đợi một bước đột phá sớm sủa về mặt ngoại giao, thì họ đang hướng tới sự thất vọng.

    Một phần nào đó vì những chia rẽ sâu xa về đảng phái đã và đang đặc trưng hóa nền chính trị Đài Loan vào 8 năm qua, những nỗ lực để cãi thiện khả năng của hòn đảo nầy cho sự tự vệ đã và đang chậm lại, mặc dù các khả năng quân sự của TQ đã và đang gia tăng nhanh chóng. Những cuộc buôn bán vũ khí đã được chấp thuận bởi chính phủ Bush trong những tháng đầu tiên của chính phủ nầy (2001) đã bị giữ lại trong nhiều năm bởi chính quốc hội Đài Loan không chịu thi hành cho phép thông qua các ngân sách cần thiết. Sau cùng, khi Đài Bắc đã chuẩn bị đồng ý mua vũ khí, chính phủ Bush đã trì hoãn để tránh làm mất lòng và chọc giận Bắc Kinh, và sau cùng mới đây đã chấp thuận 1 phần nhỏ của đơn đặt hàng vũ khí nguồn gốc từ năm 2001 trong lúc chính phủ nầy trên đường rời khỏi nhiệm kỳ.

    Giữa những vấn đề khác đang choán đầy trong công việc ở Á Châu của TT Obama sẽ là câu hỏi liệu có nên, hay làm cách nào để giúp đỡ Đài Loan duy trì một số tương đồng về cân bằng quân sự với Trung Quốc. Tiếp tục bán những vũ khí của Mỹ sẽ gây ra sự tức giận dữ dội của Bắc Kinh, nhưng không hành động thì sẽ làm cho Đài Loan bị hiểm họa ngày càng gia tăng và làm băng hoại niềm tin và đánh mất lòng can đảm của họ.

    Mặc dầu sự tiến bộ đã và đang được thực hiện hướng tới gần hơn sự hợp tác chiến lược, liên minh giữa Mỹ và Nhật sẽ đòi hỏi sự chú ý thận trọng trong những năm sắp đến. Cựu thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi là một lãnh tụ đầy tài năng một cách đáng chú ý, ông đã thành công trong việc lèo lái quốc gia của ông một cách nhanh nhẹn hơn là nhiều người đã nghĩ, có thể nói là hướng tới một vị thế quốc tế bình thường hơn và khẳng định hơn. Những thủ tướng kế vị ông Koizumi đã và đang thiếu khả năng và sự khẳng định của Koizumi. Sự rời bỏ quyền lực nhanh chóng của thủ tướng Shinzo Abe đã để lại mốt số sáng kiến chưa hoàn tất, bao gồm các kế hoạch gia tăng sự hợp tác giữa các nền dân chủ của Châu Á và tái phục hồi lại hiến pháp của Nhật để các lực lượng vũ trang của Nhật có thể tham dự vào trong các cuộc hành quân tự vệ chung với một số nước. Về phần người kế vị thủ tướng Abe, ông Yasuo Fukuta, rõ ràng cũng là người thiếu chú ý và thiếu khả năng giải quyết vấn đề, ông đã hăm dọa xóa bỏ một hợp đồng đang còn thương nghị về chuyện phối trí các lực lượng của Mỹ. Chuyện nầy hiện còn đang được xem xét liệu vị thủ lãnh mới, cựu bộ trường ngoại giao Nhất Taro Aso, sẽ có khả năng tiếp tục công việc mà cựu thủ tướng Koizumi đã để lại.

    Nhiều người Nhật hiên nay lo ngại rằng Hoa Kỳ đang bắt đầu nghiêng về Trung Quốc. Các hành động gần đây của Mỹ đã và đang làm tăng thêm các nỗi lo sợ nầy: Trong tất cả cuộc nói chuyện về các giá trị chung, Washington đã bày tỏ ít nhiệt tình về các đề nghị của chính phủ Abe về cãi thiện hợp tác giữa các nước dân chủ trong miền. Tương tự, sự miễn cưỡng của Mỹ để bán các chiến đấu cơ F-22 cho Nhật đã được phiên dịch rộng rãi như là một cái tát vào má vì bị thúc đẩy bởi một ước muốn không chọc tức tới những sự nhạy cảm của TQ.

    Có lẻ điều đáng lo ngại nhất từ quan điểm của Nhật là sự thay đổi đáng chú ý trong chính sách của Mỹ ở Bắc Hàn. Quyết định của chính phủ Bush – sau khi cuộc thử nghiệm nguyên tử của Bình Nhưỡng tháng 10 năm 2006 – để quay ngược lại con đường, làm nhẹ bớt áp lực kinh tế và bắt đầu thương nghị song phương để lại cho Nhật cái cảm giác bị cô lập và không dễ chịu chút nào. Sau khi đeo sát vào vị trí của Mỹ kể từ khi bắt đầu các cuộc họp giữa 6 quốc gia vào tháng 8/ 2003, Tokyo đột ngột nhận ra đơn độc của mình trong việc ủng hộ một lập trường liên tục cứng rắn. Mặc dầu chính phủ của tổng thống Bush cho rằng mục đích của họ vẫn là xóa sạch hết mọi mãnh vụn của vật liệu phân chia hạt nhân và khả năng làm bom nguyên tử của Bắc Hàn, các nhà quan sát Nhật đã và đang bắt đầu tự hỏi có phải là những người Mỹ đã và đang có quyết định riêng lẻ rằng họ có thể sống với khả năng hạt nhân của Bắc Hàn còn sót lại.

    Quyết định ấy sẽ tùy thuộc vào TT Obama. Tiến trình từng bước của Bush đã và đang sản xuất ra một kết quả đầy tham vọng. Đổi lại cho việc áp lực được giảm xuống, viện trợ được gia tăng và sự tháo bỏ khỏi tình trạng danh sách các quốc gia hậu thuẩn khủng bố, chế độ của Kim Chính Nhất đã và đang ngưng hoạt động (nhưng vẫn chưa tháo ra từng mãnh và phá hủy) lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon và các cơ sở chế biến của Bắc Hàn và xuất trình những cái mà nhà máy nầy tự cho là đóng góp “hoàn toàn và chính xác” về cung cấp các vật liệu phân chia hạt nhân. Nhưng Bình Nhưỡng vẫn chưa đồng ý về một kế hoạch trao vật liệu nguyên tử plutonium của họ. Bắc Hàn cũng đã không tiết lộ các chi tiết về một chương trình bí mật làm giàu hạt nhân song song với việc sản xuất chất Uranium dùng cho các loại vũ khí, đóng góp cho sự liên quan của Bắc Hàn với các nước có ưu thế hạt nhân tựa như Syria và Iran, hay chấp nhận một loại chế độ kiểm tra sâu sát và mạnh mẽ mà xem ra là cần thiết để xác nhận những gì mà Bắc Hàn từng cho là họ sở hữu được.

    Mặc dầu nếu Bắc Hàn đồng ý chịu nhường bỏ mọi thứ mà họ đã và đang thừa nhận là sở hữu, họ có thể vẫn còn nắm giữ một số vũ khí, che giấu các cơ sở làm giàu chất Uranium và có lẻ một phần nào đó của một chương trình mà họ đã và đang cung cấp hàng hóa tới cho các quốc gia khác. Chính quyền của Obama sẽ phải quyết định liệu có nên sống với những gì không chắc chắn là một cái giá có thể chấp nhận được dành cho tất cả hay hầu hết khả năng chế tạo plutonium của Bắc Hàn. Nếu Mỹ đồng ý trả cho cái giá ấy, niềm quan tâm của Nhật sẽ không được thỏa mãn. Nếu không, Washington sẽ có nguy cơ chạm trán với Bắc Triều Tiên và một sự chia rẻ theo nhiều cách với các chính phủ đang tin rằng giải pháp hiện nay là tốt nhất mà họ có thể có được – đặc biệt là chính quyền của Trung Quốc và có lẽ là Nam Hàn nữa.

    Thêm vào các cuộc đàm phán nguyên tử, Mỹ có các công việc quan trọng khác vẫn còn làm chưa xong với Nam Hàn. Sau khi thương nghị một thỏa ước thương mại tự do giữa Nam Hàn và Mỹ, chính phủ của TT Bush đã gặp phải một sự phản đối rất mạnh mẽ từ các vị dân cử của đảng Dân chủ trong quốc hội những người nầy thì rất kiên quyết giữ lập trường cứng rắn về vấn đề thương mại trước các cuộc bầu cử trong năm 2008. Trách nhiệm dành cho việc thúc đẩy các thỏa ước ấy thông qua quốc hội hay để cho các thỏa ước ấy không trở thành đề tài bàn thảo nữa hiện nay đang rơi vào tay của Obama. Nếu thỏa ước đạt được sự chấp thuận của quốc hội, thỏa ước mậu dịch tự do ấy sẽ cung cấp một sự gia tăng chính cho các mối liên hệ giữa Nam Hàn và Mỹ và một nền tảng vững chắc trên đó để xây đắp liên minh nầy. Nếu thỏa ước mậu dịch Mỹ và Nam Hàn thất bại do quốc hội Mỹ không thông qua, hai đối tác lâu đời nầy có thể lại một lần nữa bắt đầu trôi dạt xa nhau.

    Trong trường hợp của Ấn Độ, một tay chơi lớn khác ở trong miền nầy, Tổng thống Obama thừa hưởng một mối quan hệ đang chín mùi với các triển vọng, cũng như là các thăng trầm tiềm tàng khác. Sau nhiều năm thương nghị, sau cùng Mỹ và Ấn Độ đã đạt được một sự đồng ý trên vấn đề hợp tác nguyên tử. Với chướng ngại vật không còn nữa, chính phủ mới của Obama sẽ có thế tiến về phía trước trong việc gia tăng mốí quan hệ đối tác chiến lược sâu hơn và rộng hơn. Nhưng chính phủ cũng sẽ phải thương nghị những khác biệt có tính chất nghiêm trọng, ấy là sự hiện hữu từ lâu nhưng không ra mặt cho mãi đến bây giờ, về chuyện làm cách nào để ứng xử với Pakistan, Afghanistan, và Iran.

    Sự thách thức của Trung Quốc

    Bao trùm lên tất cả các đề tài là sự thách thức lớn nhất có tính chiến lược mà TT Obama sẽ đối mặt ở Châu Á và, không bàn cãi gì nữa, toàn thế giới: Tìm ra cách nào để đương đầu với một nước TQ ngày càng gia tăng về sự giàu có, tham vọng, quyền lực, và tính khẳng định của họ.

    Chính phủ của Obama sẽ kế thừa một hướng đi thời hậu chiến tranh lạnh của Mỹ hướng tới TQ mà Mỹ đã và đang tìm cách để hòa trộn các yếu tố của sự tham dự với “đối trọng” (cách dùng ưa thích hiện nay của người Mỹ), hay “bao vây” (Trung Quốc dùng chữ nầy), hay cái điều mà tôi sẽ ám chỉ tới như là “cân bằng”. Một chiến lược hầm bà lằng xáng cấu đã và đang thực hiện rất tốt trong hơn 15 năm qua, mặc dầu đôi khi có những thay đổi khó hiểu trong giọng nói và sự nhấn mạnh bởi vì những mưu toan có tính bè phái. Tuy vậy, cuối cùng chính phủ của đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa đều giống nhau là cùng hỗ trợ mở rộng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

    Những vị tổng thống kế tục nhau đã và đang khuyến dụ Bắc Kinh trên mặt trận ngoại giao, khuyến khích quốc gia nầy trở thành một tham dự viên tích cực trong những (định chế) tổ chức đa quốc gia, và tìm kiếm một cách thành thật sự hậu thuẫn của TQ vào một loạt những vấn nạn, từ sinh đẻ và chủ nghĩa khủng bố cho tới an ninh năng lượng và sự thay đổi khí hậu của trái đất.

    Trong thời gian gần, những chính sách nầy đã và đang có khuynh hướng để cho những người cầm quyền hiện nay ở TQ một cổ phần đầu tư vào trong sự ổn định của trật tự quốc tế hiện nay, mặc dầu khả năng của họ để thách thức thế giới đang gia tăng.

    Mục đích sâu xa hơn của sự tham dự, tuy vậy, là để gia tăng những lực lượng tiến bộ được cho rằng sẽ lãnh đạo TQ hướng tới dân chủ tự do. Những nhà làm chính sách người Mỹ hy vọng rằng, đúng lúc nào đó, sự kết hợp của giai cấp trung lưu đang lớn mạnh và sự cởi mở gia tăng của một nền kinh tế trong thời đại tin tức và hiện đại sẽ mang lại một sự chấm dứt độc quyền về quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản TQ.

    Ngay trong lúc Mỹ đang buôn bán và có những cuộc đàm phán với TQ, thì đồng thời nước Mỹ đã và đang tìm cách duy trì các vị trí chiến lược của Mỹ ở Đông Á. Mục đích không phải là “bao vây” TQ bằng cách xây một bức tường chung quanh TQ. Thay vì đó, đối diện với quyền lực đang gia tăng của TQ, các nhà làm chính sách người Mỹ đã và đang tìm cách duy trì một mức độ khả năng thích hợp để ngăn cản khuynh hướng xâm lăng, thích gây hấn hay các toan tính ép buộc (của TQ).
    Thắt chặt tình thân hữu với các đồng minh khu vực và các đồng minh chống cộng thân thiết, đáng tin cậy nhất của Hoa kỳ trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á [5], tái phối trí lại các lực lượng Mỹ, và gởi một số đơn vị không quân và hải quân tới vùng tây Thái Bình Dương đang là tất cả những phần của nỗ lực nầy.

    Tám năm qua đã và đang minh họa sự phục hồi của một chiến lược hỗn hợp nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về sự thỏa mãn kéo dài. Bất luận điều gì khác có thể được phát biểu trong 30 năm qua về sự tham dự, họ vẫn chưa biến đổi được định chế chính trị của Trung Quốc. Tóm lại, thay vì nới lỏng sự siết chặt quyền lực, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã và đang gấp đôi những nỗ lực của họ để nắm quyền kiểm soát tin tức, đàn áp những người bất đồng chính kiến và tuyển lựa vào đảng những thành viên của những giai cấp thượng lưu và trung lưu đang gia tăng. Những chiến lược nầy sau cùng có thể thất bại, nhưng trong lúc nầy các chiến lược đó dường như được thi hành rất tốt. Dường như không còn là chuyện tưởng tượng để gợi lên rằng trong những thập niên sắp đến Mỹ và các đồng minh của họ sẽ đối diện với một nước TQ ngày càng gia tăng sự giàu có và tính năng động một cách kỹ thuật, nhưng chính quyền của nước ấy vẫn là độc tài.

    Khi nói về liệu có phải sự tham dự trong các tổ chức quốc tế và ngoại giao đã và đang làm cho TQ trở thành một tay chơi có trách nhiệm trong hệ thống toàn cầu hiện nay hay không, hầu hết các lời phán xét thì có tính chất xấu tốt lẫn lộn. Bắc kinh đã và đang đặt niềm tin mới của họ vào trong chủ nghĩa đa phương, trái lại các chính sách của TQ được hỗ trợ bằng khuynh hướng tình nghi người Mỹ cho hành động đơn phương. Và TQ đã và đang diễn tả ước muốn của họ cùng nhau làm việc với Mỹ trong một loạt các vấn đề hàng đầu. Những người lạc quan nhìn những sự phát triển nầy như bằng chứng của sự tiến bộ, nhưng làm sáng tỏ hơn các điều hoài nghi thì ít nhất cũng có vẻ đúng. TQ có thể đơn giản là đang làm những điệu bộ như có mục đích làm nhẹ bớt các điều lo ngại về sự tiến bộ nhanh chóng của họ, trong lúc lẫn tránh nói về các hoạt động trong tương lai của họ. Trong lúc giữ thái độ gần gũi với Washington, Bắc kinh cũng đã và đang làm yếu đi vị thế của Mỹ ở Châu Á. Trung Quốc đã và đang tích cực ve vãn nhiều đồng minh truyền thống của Mỹ bằng các hoạt động thương mại và “chính sách ngoại giao nụ cười”, và TQ đã và đang dẫn dắt những cơ chế mới dành riêng cho “người Á Châu mà thôi” và Mỹ bị tách ra khỏi các cơ chế ấy.

    Nếu vẫn còn quá sớm để tuyên bố sự tham dự là một sự thất bại, và cũng là quá sớm để tin về sự thành công sau cùng của nó. Đặc trung cơ bản của chế độ Trung Quốc vẫn là không thay đổi ngay cả khi TQ gia tăng giàu có hơn và hùng mạnh hơn, làm cho sứ mạng để duy trì một sự cân bằng quyền lực ở Châu Á ngày càng khó khăn hơn và tốn kém hơn. Đó là trường hợp đặc biệt nói về phương diện quân sự.

    Hơn mười mấy năm nay, TQ đã và đang chú ý vào việc gia tăng và mở rộng các căn cứ quân sự đều đặn. Theo một báo cáo của bộ quốc phòng gần đây, chi tiêu cho quốc phòng giữa năm 1996 và 2006 đã gia tăng trung bình gần 12%, ngay cả việc còn nhanh hơn nền kinh tế của TQ, kinh tế TQ đã tăng trưởng chỉ trên 9% mỗi năm.(2) Trong lúc các số liệu chính xác còn đang là một đề tài để bàn cãi, chẳng có nghi ngờ nào cho rằng Bắc Kinh đã và đang đổ rất nhiều tài nguyên hơn mức bình thường vào các lực lượng lục quân và rằng các cuộc đầu tư quan trọng đã và đang bắt đầu sinh ra các kết quả thật sự.

    Sự xây dựng lực lượng vũ trang của Bắc Kinh đã và đang gia tăng khả năng của họ để hướng sức mạnh vào không gian và hải phận bờ biển phía Đông của họ và trong các vùng biển nước sâu ở trên. Kết quả TQ đã và đang được trang bị tốt hơn để hăm dọa Đài Loan hơn họ đã từng làm cách đây chỉ hơn 10 năm, và TQ đang tiến gần tới điểm nơi đó họ có khả năng đặt ra một thách thức không thể coi thường được tới ưu thế quân sự của Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương.

    Kể từ giữa thập niên 1990s, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã và đang đạt được nhiều ý nghĩa cho việc khám phá, truy tìm, và nhắm mục tiêu vào các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm lớn khác. Mục đích là để có thể bắn hạ chúng với mọi thứ từ các tiểu đỉnh có vận tốc rất nhanh, tới các hỏa tiển tầm ngắn bắn ra từ lục địa bằng các đầu đạn hạt nhân. Trong cuộc khủng hoảng ở tương lai, các chiến hạm chính của Mỹ chuyên phóng ra hỏa lực từ ngoài biển, một khi bị tổn hại, có thể không đủ khả năng để vận chuyển một cách an toàn trong vòng vài trăm hải lý cách bờ biển của TQ.

    Thêm vào đó, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang tích lũy được đủ các tên lửa tầm trung mang đầu đạn thường và các hỏa tiển tự điều khiển có thể bắn phá hầu hết các mục tiêu quan trọng ở miền Đông Á, bao gồm các căn cứ Mỹ ở trong miền nầy. Gần đây, quân đội TQ đã biểu diễn khả năng dò tìm và phá hủy những vật trên không gian tựa như các vệ tinh viễn thông và các vệ tinh do thám, và quân đội TQ cũng đã và đang trở nên quan tâm rất nhiều trong các kỹ thuật chiến tranh trên mạng toàn cầu, cái mà họ dường như đang xử dụng để thâm nhập vào các hệ thống mạng computer của các doanh nghiệp và chính quyền ở cả Châu Âu và Mỹ.

    Sau cùng, sự hiện đại hóa của Quân Đội Nhân Dân và sự mở rộng của lực lượng tên lửa hạt nhân chiến lược của TQ, có thể làm yếu đi những sự tín nhiệm về các bảo đảm của Mỹ về an ninh của miền nầy. Không điều nào trong số các điều kể trên có ý nóirằng Mỹ sẽ buộc lòng phải rút lui khỏi Á Châu.

    Vẫn còn ít có ý nghĩa cho rằng một cuộc chiến tranh hầu như có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào, ngay cả một cuộc chiến tranh lạnh theo kiểu mới. Nhưng sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang gia tăng nhanh, và sự thăng bằng về các khả năng chiến tranh đang bắt đầu chuyển sang hướng thuận lợi của TQ. Những ưu điểm trong sức mạnh quân sự lâu nay đã và đang hỗ trợ vị trí an ninh của Mỹ ở Đông Á chẳng bao lâu sẽ là một chuyện của quá khứ.

    Các chiến lược thay thế

    Hiện có 3 cách, nói rộng ra, theo đó Mỹ có thể đáp ứng tới các sự gia tăng nầy: - Tham gia chủ quyền; - Gia tăng sự tham dự vào các định chế; - Tăng cường sự quân bình.

    Thứ nhất, được ưa chuộng bởi một số người tự cho là thuộc loại thực tế, là thừa nhận sự nổi bật của TQ và tìm kiếm một sự quản lý lưỡng cực chung xuyên qua vùng Thái Bình Dương, sự quản lý chung ấy sẽ bao gồm một sự thông cảm ngầm lên các phạm vi của sự ảnh hưởng. Mỹ có thể đồng ý, thí dụ, chấp nhận ưu thế của người Trung Quốc ở một nửa phía đông đất liền và hải đảo của miền Đông Âu và Đông Á để đổi lấy sự bảo toàn vị trí riêng của họ như một đấu thủ lãnh đạo trên vùng biển Đông Á. Một số nhà chiến lược người TQ bàn bạc rằng phạm vi của họ nên trải rộng vào trong biển Thái Bình Dương, có lẽ tới chuỗi đảo thứ nhất chạy từ đỉnh phía nam Nhật Bản, xuống quá miền duyên hải phía tây của Phi luật Tân và Mã lai Á và bao gồm trong đó là Đài Loan và phần lớn Biển Đông.

    Dù tốt hơn hay xấu, chẳng có sự thỏa thuận nào là có thể xẩy ra. Cho rằng sự lệ thuộc gia tăng của TQ lên các mặt hàng nhập khẩu thực phẩm, nhiên liệu, và những nguồn tài nguyên khác, Trung Quốc không thể trong đợi để chấp nhận một tình thế mà trong đó quyền lui tới vùng biển thì lệ thuộc vào thiện chí và đặc quyền của Mỹ. Về phần mình, Mỹ sẽ miễn cưỡng (không thích) nhường ưu thế ở một miền lãnh hải chứa đựng nhiều tài nguyên đang tranh cãi, những hải lộ chủ yếu, và một số nước bạn bè theo chế độ dân chủ tin cậy vào Mỹ cho sự an ninh của họ.

    Thay vì tìm kiếm một sự đồng ý vào các phạm vi ảnh hưởng, Washington có thể gấp đôi nỗ lực của họ vào sự tham dự. Những người bênh vực của chiến lược nầy, bao gồm hầu hết các nhân vật quốc tế dòng chính theo chủ nghĩa tự do, bàn luận rằng Mỹ và các quốc gia Á Châu khác nên làm nhiều hơn nữa để làm TQ trở thành một nước tham dự toàn phần vào trong hệ thống hiện hữu của các qui luật và các tổ chức quốc tế. Như nhà lý thuyết G. John Ikenberry cắt nghĩa, “Mỹ không thể nào ngăn cản sự trổi dậy của TQ, nhưng Mỹ có thể giúp bảo đảm rằng sức mạnh và quyền hạn của TQ được sử dụng phải nằm trong phạm vi những điều nội qui và các định chế mà Hoa Kỳ và các đối tác của nó đã thiết lập vào thế kỷ trước”.(3)

    Thêm vào niềm tin của họ trong những hiệu quả của các tổ chức quốc tế, hầu hết các nhà theo chủ nghĩa tự do cũng tin rằng sự cải thiện và dân chủ đang đến với TQ một cách không thể nào tránh được, chắc có lẽ không sớm thì muộn. Những quyền quốc bên ngoài có thể không có khả năng để xúc tiến sự chuyển đổi nầy của TQ, nhưng họ có thể trì hoãn chuyện ấy nếu như họ chấp nhận và thực hiện các chính sách có tính chất phối hợp như hăm dọa hay không tôn trọng, kết quả là khơi dậy ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc và làm chậm lại tiến trình của sự tự do hóa. Bởi vậy phe phái nầy đang dùng lý lẽ rằng, Mỹ nên thận trọng cực độ về chuyện thắt chặt những quan hệ với các đồng minh, tăng cường các lực lượng vũ trang của Mỹ trong các miền nầy, hay cố gắng làm chậm bớt sự thủ đắc các kỹ thuật vũ khí tối tân của Quân Đội Nhân Dân TQ. Bỏ qua vai trò riêng của họ trong sự khiêu khích châm ngòi cho một phản ứng của Mỹ, TQ sẽ xem các hành động nầy như là các hành động thù địch có khuynh hướng bao vây và kềm chế TQ. Bắc Kinh sẽ xử dụng bất luận điều gì mà Washington đang làm để biện hộ cho hành động gia tăng quân sự của TQ và tập trung sự hỗ trợ dành cho sự cai trị của đảng Cộng Sản được lâu dài.

    Đề từ chối ban cho TQ cơ hội nầy, một số nhà quan sát tin rằng Mỹ nên đi trước các biện pháp nầy. Nhưng hãy dễ dãi vào chuyện cân bằng và đặt nhiều sự chú trọng vào sự tham dự sẽ có nghĩa là hạ giảm bớt một vụ đánh cá cược không chắc. Nếu TQ tự do hóa khi sức mạnh của họ gia tăng, có nhiều khả năng của sự chạm trán sẽ lu mờ hay giảm sút, ngay cả những hình thức sâu xa hơn của sự tham dự và hợp tác có khả năng là có thể thực hiện được. Sau cùng Washington có thể quyết định nhường đường cho một nước TQ dân chủ đang trổi dậy, (cũng giống như Anh đã chọn lựa để chấp nhận) ưu thế của Mỹ ở bán cầu phía Tây vào cuối thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu TQ gia tăng mạnh mẽ hơn mà không cải thiện, hay trở nên yếu kém, không còn ổn định và không thể tiên đoán được, các đồng minh của Mỹ và các lực lượng vũ trang triển khai tiền tuyến sẽ vẫn là những công cụ của chính sách của Mỹ. Thật là không khôn ngoan để cho phép TQ teo lại trên cơ bản của một lý thuyết chưa chắc chắn về sự dân chủ hóa của TQ.

    Về mối lựa chọn thứ Ba: Một số biến đổi của đường lối được pha trộn mà Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh? Lựa chọn nầy vẫn còn đem ra sử dụng hiện nay, nhưng chúng ta nên điều chỉnh hỗn hợp các yếu tố mà phương pháp ấy bao hàm. Trong khi đẩy sự tham dự lên hàng đầu, chúng ta cũng cần cải thiện những nỗ lực của chính phủ của TT Bush để duy trì “một cán cân quân bình về quyền lực để bênh vực và ưu đãi cho sự tự do” ở Châu Á. Đặt qua một bên những đặc tính bất thường có tính chất sự kiện, điều nầy có nghĩa là gì trong thực hành? Liên hệ tới Trung Quốc, có nghĩa rằng các nhà làm chính sách người Mỹ nên được hướng dẫn bởi 3 nguyên lý.

    Tiếp tục tham dự: thuong mại và đàm phán có thể vẫn còn làm biến đổi TQ nữa; cuối cùng, nền kinh tế thị trường và nền chính trị độc tài có thể chứng minh là kỵ nhau và không tương hợp. Trong lúc nầy, phần hùn mấu chốt của Trung quốc trong sự ổn định có thể làm các nhà lãnh đạo của họ cẩn thận hơn nữa về chuyện ủng hộ lòng vòng và có ý muốn nhiều hơn để hợp tác trong những đề tài quan tâm chung. Chính phủ của Obama nên tiếp tục tìm kiếm ra những lãnh vực nơi mà những niềm quan tâm giữa Mỹ và TQ trùng hợp nhau và làm việc chung nhau ở bất cứ nơi đâu có thể làm.

    Sự tham dự không vượt qua được sự hữu ích, nhưng nó yêu cầu sự điều chỉnh và một sự định giá ngay thẳng, khách quan về các hiệu quả của nó. Thổi phồng qui mô của sự cải cách chính trị của Trung Quốc hay xếp đặt các mối quan tâm của TQ cùng với các mối quan tâm của các quốc gia dân chủ tiên tiến chỉ là dàn cảnh cho sự thất vọng và có hiệu quả ngược lại.

    Tránh những chuyện nhạy bén thái quá. Những bước đầu (sáng kiến) có ý đồ làm gia tăng sức mạnh về vị trí của Mỹ ở Châu Á đang gây ra các cuộc phản đối và những lời cảnh báo mạnh mẽ từ Bắc Kinh. Những phản ứng của TQ đang được thu gom lại và lập đi lập lại bởi các người chỉ trích ở Mỹ và ở Châu Á, những người nầy xử dụng chúng để tranh luận và thuyết phục chống lại làm bất cứ điều gì có thể làm chọc giận Trung Quốc. Trong khi sẽ là một lầm lỗi để gạt bỏ qua các lời tuyên bố của TQ là ngoài tầm kiểm soát, chấp thuận các điều ấy như là một giá trị bề ngoài (mà không chứng minh) thì có nguy cơ ban cho TQ một quyền phủ quyết hiệu quả về các hành động của Mỹ. Những nhà chiến lược người Trung Quốc có khuynh hướng thổi phồng những điểm nhạy bén của họ, vẽ ra “các đường mực đỏ” rất rõ ràng trước các hành động mà họ xem xét như là không thể chấp nhận được. Bằng cách làm tê liệt hay ít nhất là làm chậm các đáp ứng tới việc gia tăng sức mạnh riêng của họ, TQ có thể hy vọng làm nghiêng cán cân lực lượng có sẵn từ trước vào trong sự thuận lợi của họ, quyền ấy sẽ dường như không thể được thực hiện được. Để ngăn chận điều nầy, các giới chức người Mỹ phải nên có đầu óc cứng rắn và sáng suốt đủ để biết sự khác biệt giữa những hăm dọa khoác lác ầm ỉ hay những hăm dọa thành thật.

    Tiếp tục nói về các quyền lợi của con người (nhân quyền), dân chủ, và sự minh bạch. Khi sự giàu có và quyền lực của TQ đã và đang gia tăng, hầu hết các chính quyền dân chủ đã và đang trở nên ít lên giọng chỉ trích Trung Quốc về sự thiếu tôn trọng các quyền tự do chính trị và các quyền cơ bản của con người. Hiện nay, những lời phàn nàn như thế được xem ra là không có hiệu quả và tự khoan dung mà còn có nguy hiểm cho các quyền lợi thương mại, Nước Mỹ vẫn còn cất cao tiếng nói chỉ trích TQ hơn hầu hết các quốc gia khác, nhưng phán xét từ sự đáp ứng chính thức bị câm lại về những tình trạng bất an tại Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008, chuyện ấy đang trở thành đáng chú ý hơn.

    Vì các lý do chiến lược cũng như các lý do đạo đức, sẽ là một lầm lỗi để cho chủ đề chỉ trích ấy bị bỏ qua. Trong lúc khoe khoang khoác lác hay bắt nạt và lý thuyết, tụng niệm các câu thần chú về các đức tính của dân chủ thì không có ích hay ngay cả vất bỏ hết các thành tích mà mình đã đạt được, Hoa kỳ không nên giữ thái độ im lặng trên những đề tài đó (vụ đàn áp Tây Tạng 2008- TH). Thỉnh thoảng, những cuộc biểu tình có tổ chức đúng vào thời gian có các hành động ngược đãi được dùng để thông báo với Bắc Kinh rằng cả thế giới vẫn đang chăm chú nhìn vào và quan tâm vào chuyện Trung Quốc đối xử với các công dân của họ ra sao. Một chính sách ngoại giao công khai và khôn khéo hơn của Mỹ giữ một vai trò quan trọng ở nơi đây, đó là nhắc nhở những nước khác về đặc trưng thật sự của chế độ cộng sản Trung Quốc và những giới hạn mà chế độ nầy áp đặt lên nhằm ngăn chặn các mối liên hệ giữa Trung Quốc và các nước dân chủ. Những bạn bè thật sự của nước Mỹ ở trong miền nầy vẫn còn là những quốc gia đồng minh theo chế độ dân chủ và các nhà lãnh đạo Hoa kỳ sẽ không bao giờ nên co cụm lại mà không nói lên tiếng phản đối như thế (trong vụ Tây Tạng).

    Áp lực lên Trung Quốc cho những sự công khai to lớn hơn về các ngân sách quân sự và các kế hoạch của họ dùng để phục vụ cho một mục đích tương tự. Sự bí mật của TQ về đề tài nầy làm nổi bật lên đặc tính khép kín của chế độ nầy và nêu lên những câu hỏi hợp lý về mục đích sau cùng của sự gia tăng ngân sách dành cho quân đội của họ. Nếu các nhà làm chính sách Trung Quốc trở nên ngay thẳng hơn về các chương trình quân sự lâu dài của họ, những sự lo ngại của các nước láng giềng của họ sẽ hầu như lớn hơn – không nhất thiết là một điều xấu.

    Một chương trình nghị sự trong miền

    Đường lối của Mỹ hướng tới các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định trong miền nầy. Liên quan tới phần còn lại của Châu Á, Mỹ nên làm 4 điều:

    + Củng cố các mối liên hệ song phương. Công việc quan trọng nhất của Mỹ ở Châu Á sẽ tiếp tục thi hành dựa trên cơ bản song phương, và các đối tác đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ sẽ vẫn là những quốc gia nói trên mà qua họ, Hoa Kỳ sẽ chia sẽ các nguyên tắc chính trị và các sự quan tâm.

    Không có chút nào là lỗi thời, điều gọi là hệ thống “liên lạc với nhau và liên lạc xuyên qua một trung tâm” liên kết Washington với nhiều thủ đô khác nhau trong miền sẽ vẫn còn là chủ yếu tới chính sách Á Châu của Mỹ. Nhưng hệ thống nầy sẽ đòi hỏi những sự chú ý thướng xuyên và những sự củng cố mạnh hơn.

    Chính phủ của Obam không nên tự cho phép mình xỏ mũi và đánh lừa bởi lời hứa hẹn xa xôi, không chắc chắn của những tổ chức an ninh mới mẻ của nhiều nước Á Châu. Thay vì đó, Hoa Kỳ nên tập trung vào làm mới lại đồng minh Nam Hàn và Mỹ, hồi phục lại các tiến bộ đã làm trong những năm gần đây hướng tới một đồng minh “bình thường” hơn với Nhật Bản, và tiếp tục xây đắp một quan hệ đối tác chiến lược chân thành với Ấn Độ. Trong vài ba năm tới đây, Mỹ cũng nên mở rộng và làm sâu đậm các mối liên hệ của họ với Indonesia, một nước dân chủ vừa nổi lên mà – cùng với Úc – nên gia tăng thành một vai trò lãnh đạo ở miền Đông Nam Á.

    + Thắt chặt mối quan hệ giữa các quốc gia dân chủ ở Á Châu. Sự nghèo nàn của các tổ chức quốc tế ở Á Châu so sánh với Âu Châu đã và đang là một đề tài của nhiều sự thảo luận kể từ khi có sự chấm dứt chiến tranh lạnh. Nhiều phương cách đã và đang được đề nghị: Một cộng đồng Đông Á lấy kiểu mẫu từ Liên Hiệp Âu Châu, một sự phối hợp của các cường quốc chính của Đông Bắc Á Châu sẽ bao gồm ít nhất năm trong số sáu quốc gia tham dự trong cuộc đàm phán sáu bên (Mỹ, TQ, Nhật, Nga, và Nam Triều Tiên), và các quốc gia khác. Với điều kiện rằng Mỹ có một ghế tại bàn hội nghị nầy, Mỹ không có lý do để phản đối tới bất cứ những sự đề nghị nào, nhưng Hoa kỳ không nên trông cậy vào các tổ chức rộng rãi và mới mẻ trong miền nầy để bảo đảm các quyền lợi của họ hay gìn giữ hòa bình.

    Tốt hơn nhiều cho những mục đích nầy là một tầng lớp mới của sự liên lạc liên kết các nước dân chủ ở Châu Á lẫn nhau và liên kết tới Hoa Kỳ. Các nước dân chủ nầy có nhiều điều để bàn luận giữa họ, hay ít ra là làm sao họ sẽ phối hợp các chính sách ngoại giao, đầu tư và viện trợ ngoại quốc của họ để khuyến khích sự lan tràn của dân chủ tự do khắp miền nầy. Sự trỗi dậy của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng nhất về nhu cầu để phối hợp một cách có hiệu quả hơn. Nếu các quốc gia dân chủ hy vọng quân bình được sức mạnh đang gia tăng của TQ, các quốc gia nầy nên đóng góp các tài nguyên của họ.

    Một số cơ chế đã được đề nghị nhằm đạt được những mục đích nầy, thí dụ như một số quốc gia Á châu nên hợp lại thành một khối tương đương với khối NATO, thì không thích hợp hiện nay. Không tiên đoán được tương lai của TQ ra sao và những niềm quan tâm hợp lý về chuyện khiêu khích TQ một cách không cần thiết đang làm cho đề nghị này trở thành một ý kiến không được chấp nhận. Tuy nhiên, một cộng đồng của các quốc gia dân chủ ở Á Châu sẽ có một lợi thế mềm dẽo hơn và có thể là một phần của một liên minh lớn toàn cầu của các quốc gia có suy nghĩ như họ.
    Những ai phản đối lại ý kiến nầy trên cơ sở cho rằng sự hình thành tổ chức như vậy thì có tính chất “chia rẻ” hay gây hấn với các chế độ độc tài thì nên nhớ lại rằng khối Cộng đồng Châu Âu hiện nay là một tổ chức quốc tế có các điều kiện chính trị rất nghiêm khắc khi gia nhập. Thực tế rằng Trung Quốc đã và đang thiết lập một câu lạc bộ riêng của họ dành cho các chính quyền ở Trung Á (Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – thành lập 1996 và 2001, gồm 6 nước, Nga và Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan and Uzbek) sẽ làm nhẹ bớt những quan tâm về chuyện thành lập một nhóm các quốc gia dân chủ ở Á Châu.

    Hướng tới sau cùng, Mỹ nên tập trung vào các thời kỳ ngắn hạn về chuyện cổ vũ sự liên lạc và họp tác giữa những nhóm nhỏ ngoại biên đã và đang nổi lên khắp miền nầy. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đồng minh, Nhật và Ấn Độ đã và đang hội họp với nhau trên rất nhiều lãnh vực nhạy bén, cũng như là Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng họp nhau. Tại sao lại không tổ chức những cơ hội cho các viên chức của cả 3 quốc gia ngồi lại cùng nhau? Những cuộc hội nghị thường xuyên giữa Nhật, Mỹ và Nam Hàn đã và đang đổ vỡ trong những năm gần đây vì những mối căng thẳng giữa Tokyo và Seoul. Tổng thống Obama nên thử hàn gắn và làm lành lại những mối bất đồng nầy và phục hồi lại một cuộc đàm phán chiến lược tay ba giữa các quốc gia dân chủ của miền Bắc Á Châu nầy. Nếu các nước khác như Úc muốn tham gia vào trong các cuộc bàn thảo, thì quá tốt đẹp.

    Mục đích của tất cả cuộc đối thoại và hợp tác sẽ là cổ vũ những bàn luận thành thực giữa các chính quyền có cùng suy nghĩ và thiết lập các cơ chế ngoại vi đa phương và thường xuyên liên lạc nhằm chia sẽ tin tức, xem xét lại các chọn lựa trong những biến cố khác nhau, và thiết lập một phương pháp chung để liên lạc và có thể tham gia vào các cuộc hành quân tập trận. Điều trở nên cần thiết trong biến cố này là để củng cố những mối quan hệ nầy gần gũi hơn tương tự như một liên minh theo truyền thống, hầu hết những điều cơ bản cần yếu sẽ được đưa ra. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không thích bất cứ điều gì liên quan đến chuyện nầy, nhưng sẽ không ngăn cấm các quốc gia dân chủ tự bảo vệ mình và tự bảo đảm các quyền lợi của họ.

    + Duy trì sự luân chuyển tự do của các hàng hóa và con người. Chống lại chủ nghĩa bảo vệ mâu dịch thì có tính chất chủ yếu để duy trì mối quan hệ tốt đẹp nhất với TQ, nhưng bảo vệ mậu dịch cũng cần thiết cho sự sống còn để chống lại nền kinh tế đang gia tăng của TQ đang thu hút vào. Nếu Hoa Kỳ đóng chặt thị trường của mình không cho các hàng nhập cảng và các đầu tư của Á Châu vào Mỹ, miền nầy sẽ trở thành lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Ngoài sự cung cấp những phúc lợi kinh tế cho các nước liên quan, sự mở cửa thị trường của Hoa kỳ sẽ làm yếu đi những nỗ lực của TQ trong việc tự đặt họ vào tâm điểm của một khối kinh tế độc quyền trong miền nầy.

    Tương tự như thế, những sự luân chuyển của con người cũng phải được tự do. Khi TQ tiếp tục xây dựng lên những viện đại học thành công, các phòng thí nghiệm và các khu công nghệ tiên tiến, TQ sẽ trở thành một nam châm hấp dẫn nhiều người có tài năng và tham vọng khắp Á Châu và thế giới. Nếu ý kiến chống lại việc di dân và sự lo sợ chủ nghĩa khủng bố tạo ra kết quả là những hàng rào cao khi vào nước Mỹ, chúng ta có thể tự mình tước đoạt dòng nhập cư đều đặn của những người di dân tài ba và nhiều tham vọng, họ luôn luôn là một trong những ưu điểm có giá trị nhất trong sự cạnh tranh toàn cầu về khoa học và kỹ thuật.

    Vị trí của nước Mỹ cũng như quyền lực của người Á Châu không chỉ nằm trong các quyền lợi kinh tế và quan tâm chiến lược nhưng còn trong những mối quan hệ mạnh mẽ về gia đình, niềm tin, và kinh nghiệm cá nhân. Trong mấy chục năm qua những mối quan hệ nầy đã và đang buộc chặt Hoa Kỳ với Nam Hàn, Nhật bản, Úc và Philippines. Ngày nay, những mối liên hệ ấy đang liên kết Hoa kỳ với Ấn độ và TQ. Nếu những mối liên hệ ấy đơm hoa kết quả, chúng nên được thường xuyên nhắc nhở và làm cho tươi mát lại. Đối với Hoa Kỳ, sự cởi mở là một nguồn sức mạnh vĩnh viễn của quốc gia cũng giống như dấu hiệu của sự tự tin lâu dài.

    + Gia tăng các khả năng Quân Đội. Yếu tố sau cùng trong một chiến lược ở bình diện rộng cho Châu Á có thể chứng minh là rất khó lòng để thưc hiên. 10 năm tới đây, và chắc có lẽ là lâu hơn nữa, Mỹ sẽ phải làm nhiều để đáp ứng tới khả năng về sự gia tăng quân sự của TQ – bởi vì Mỹ cần tránh các lựa chọn của mình sao cho khỏi bị thu hẹp lại trong những cuộc khủng hoảng có thể xẩy ra, và cũng để bảo đảm rằng những đồng minh và các kẻ thù không mất niềm tin vào những bảo đảm an ninh của người Mỹ. Nếu không có quyền lực đáng tin cậy của Hoa Kỳ trong miền nầy, một số các quốc gia đồng minh đã có thể lựa chọn giải pháp đơn phương và căng thẳng như thủ đắc các vũ khí hạt nhân. Các quốc gia khác đã có thể tìm kiếm sự dàn xếp tốt nhất với Bắc Kinh. Các viễn cảnh cho sự truyền bá tự do sẽ phai mờ, và các nguy cơ của mâu thuẩn sẽ gia tăng.

    Các mối quan tâm thì rõ ràng, những chướng ngại vật để đưa ra hành động thích hợp sẽ cao. Cho rằng giá cả quá cao dành cho việc duy trì quân đội hiệu lực ở vùng Thái Bình Dương – đặc biệt khi quốc gia nầy sẽ bị siết chặt ngân sách bởi nền kinh tế đang gặp khó khăn – áp lực để đối phó và giải quyết những khó khăn ở trong nước cần thiết hơn và có thể khuyến dụ các chính phủ trong tương lai làm ở mức tối thiểu. Điều nầy sẽ là một canh bạc đầy nguy hiểm. Trong thời đại mà các nhà lý thuyết và các nhà ngoại giao đang ham mê “quyền lực mềm mỏng”, sự cân bằng về vũ khí vẫn mang tính quyết định. Các nhà lãnh đạo quốc gia có trách nhiệm không có sự lựa chọn nào ngoại trừ phải đi theo điều ấy.

    Chú thích :
    (1) Victor Cha, “Chiến thắng Châu Á” Tạp chí Foreign Affairs (tháng 11 và 12/ 2007)

    (2) Văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng, bản báo cáo hàng năm tới Quốc Hội: Quân lực của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc 2008.

    (3) Ikenberry, “Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tương lai của phương tây : Hệ thống các nước tự do có thể tồn tại?”. Tạp Chí Foreign Affairs (tháng 1/ tháng 2, năm 2008)

    The American Interested LLC 2006. Bản gốc tiếng Anh được lưu tại trang Viet-Studies (http://www.viet-studies.info/kinhte/asia_risng__aaron_friedberg.htm#_ednref3)

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi