Bài thảo luận chính sách số 4: Thay đổi cơ cấu, giải pháp kích thích có hiệu quả (phần 2)

  • Bởi Bien-Tap
    03/02/2009
    0 phản hồi

    Chương trình giảng dạy kinh tế FULBRIGHT

    Phụ lục I : Nguồn gốc suy thoái của Mỹ

    Là một nền kinh tế nhỏ và theo hướng xuất khẩu, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của thế giới và vốn nước ngoài chảy vào để tạo ra tăng trưởng kinh tế. Do đó, một cuộc suy thoái toàn cầu sâu rộng và kéo dài sẽ có tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Một số nhà bình luận ở Việt Nam đã cho rằng những gì tệ hại nhất của cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ kết thúc vào giữa năm 2009. Theo quan điểm của chúng tôi, nói như vậy là quá lạc quan. Để giải thích tại sao chúng tôi nghĩ như vậy, phần phụ lục này sẽ tóm lược nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ. Ta cần phải nắm rõ những vấn đề căn bản ở Mỹ để có thể đánh giá một cách kách quan hơn về khả năng kéo dài và độ sâu của cuộc khủng hoảng này.

    Sau năm 2001, đặc biệt là trong giai đoạn 2004-2006, hàng triệu hộ gia đình Mỹ đã vay để mua nhà ở mà họ không có khả năng chi trả. Tỷ lệ sở hữu nhà tăng từ 64% tổng số hộ gia đình năm 2000 lên 70% năm 2007. Nhu cầu nhà ở tăng thêm đã đẩy mức giá nhà trung vị lên 40% trong giai đoạn 2000-2006, và tỷ lệ giữa giá nhà trung vị và thu nhập hộ gia đình tăng từ 3 lần trong giai đoạn 1970-2000 lên 5 lần vào năm 2006. Nói một cách đơn giản, người Mỹ đã vay tiền quá nhiều để mua nhà với giá quá cao mà bản thân họ không thể với tới.


    Nguồn: Trung tâm tập hợp các nghiên cứu nhà ở của Harvard (Harvard Joint Center for Housing Studies)

    Như chúng ta giờ đây đã thấy, hoạt động tài trợ đằng sau làn sóng mua nhà này là không bền vững. Theo hình 6, vốn vay tín dụng bất động sản dưới chuẩn (là vốn cho người vay có rủi ro) chiếm đến 1/5 tổng dư nợ cho vay bất động sản ở Mỹ năm 2005 và 2006, trong khi tỷ lệ này vào năm 2001 chỉ là 7%. Các ngân hàng sau đó bán gần hết những khoản cho vay rủi ro này cho những nhà đầu tư dưới nhiều hình thức chứng khoán được đảm bảo bằng bất động sản (gọi tắt là MBS). Các ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại vừa mua MBS, vừa cho các quỹ đầu tư rủi ro và các nhà đầu tư khác vay tiền để mua MBS. Khi giá nhà bắt đầu giảm vào năm 2007, thị trường chứng khoán bất động sản đóng băng. Các ngân hàng phát hiện trong sổ sách của họ có đến 600 tỷ USD tài sản hoặc là chứng khoán được thiết kế từ việc chia nhỏ các MBS (gọi tắt là CDO) hoặc là chứng khoán được đảm bảo bang CDO, cùng các loại chứng khoán khác mà hiện nay không ai biết giá trị là bao nhiêu. Mệnh giá của những tài sản này (do tất cả các bên nắm giữ) là khoảng 2.500 tỷ USD, lớn hơn nhiều gói giải cứu 700 tỷ USD mà Chính phủ Mỹ đã thông qua (hình 7).

    Hoàn toàn không hề phóng đại khi nói rằng người tiêu dùng Mỹ đã thúc đẩy sự bùng nổ kinh tế toàn cầu từ 2002 đến 2007. Việc dễ dàng tiếp cận tín dụng, giá nhà gia tăng và hàng nhập khẩu giá rẻ, tất cả đã dẫn đến sự vung tay chi tiêu với tỷ lệ kỷ lục. Nợ của các hộ gia đình Mỹ tăng đều đặn từ 94% thu nhập khả dụng năm 1998 lên 140% năm 2007. Giá nhà sụt giảm đã kích hoạt làn sóng nợ xấu và xiết nợ ngày càng lớn. Giá càng giảm thì thị trường càng có nhiều nhà ở không bán được. Vào lúc này, các hộ gia đình Mỹ lúc này đã không còn có thể vay tiền để mua nhà, và trong bất kỳ trường hợp nào thì ngân hàng cũng không cho vay. Do đó giá nhà giảm nhiều hơn và nợ cũng như chi tiêu của hộ gia đình đang suy giảm thực sự.

    Khi nào thì giá nhà thôi không giảm nữa? Mặc dù khó có thể nói khi nào, nhưng sẽ không sớm xảy ra. Giả sử nếu các ngân hàng ngưng không cung cấp tín dụng bất động sản dưới chuẩn thì tỷ lệ hộ gia đình sở hữu nhà sẽ quay trở lại tỷ lệ dài hạn 64-65%. Điều này có nghĩa là tổng số bất động sản còn tồn đọng chưa bán được sẽ lên đến 5 triệu căn nhà, đúng vào lúc mà giới ngân hàng không thể hoặc không muốn cho vay. Do đó, có khả năng dư cung sẽ tiếp tục tạo áp lực nhiều hơn lên giá nhà ở Mỹ trong 2 năm tới và có thể lâu hơn. Thật vậy, cứ mười khoản tín dũng bất động sản ở My thì có một khoản đang trễ hạn trả nợ hoặc đang bị xiết nợ, và 12 triệu chủ nhà đang “ngập nợ”, nghĩa là họ nợ ngân hàng nhiều tiền hơn là giá trị căn nhà của họ trên thị trường. Nhiêu người trong số họ sẽ đơn giản bỏ của chạy lấy người.

    Nợ bất động sản dưới chuẩn và chứng khoán đảm bảo bằng tín dụng bất động sản kông phải là nguồn gốc duy nhất gây ra nợ xấu trong hệ thống tài chính quốc tế. Một khi rắc rối xảy ra, thì giá trị nền tảng của nhiều loại công cụ tài chính bắt đầu bị soi xét. Năm 1997, giá trị thị trường của tất cả những hợp đồng phái sinh (hợp đồng tương lai, quyền chọn, hoán đổi, v.v..) là xấp xỉ 75.000 tỷ USD, hay 2,5 lần GDP toàn cầu. Vào thời điểm đó nó được xem là con số có nguy cơ gây bất ổn do bản chất không bị kiểm soát của hầu hết những hợp đồng này. Thực tế là trong một số trường hợp (ví dụ hợp đồng hoán đổi để bảo hiểm vỡ nợ tín dụng – CDS), mức rủi ro khổng lồ có thể được tạo ra từ một vị thế đầu tư nhỏ nhoi ban đầu. Nhưng đến 2007, con số này đã vượt 600.000 tỷ USD, hay gấp 11lần GDP toàn cầu.

    Các ngân hàng bị tác động theo 3 hướng. Thứ nhất, nhiều tổ chức nắm giữ những công cụ này trong danh mục tài sản đầu tư của mình, và buộc phải bổ sung vốn khi các tài sản này mất giá trị. Thứ hai, các ngân hàng rộng tay cung cấp tín dụng cho các quỹ đầu tư rủi ro và các doanh nghiệp khác để mua CDO, quyền chọn và hợp đồng bảo hiểm tín dụng, nhiều khoản vay này đã không thể thu hồi. Cuối cùng, và có lẽ là quan trọng nhất, các ngân hàng dựa vào nguồn thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng. Những ngân hàng đầu tư như Lehman Brothers, Bear Stearns và Merrill Lynch vận hành theo mô hình đòi hỏi tỷ lệ nợ trên tài sản cao và khả năng tiếp cận dễ dàng với vốn vay ngắn hạn từ các ngân hàng khác để bù đắp cho những thiếu hụt tiền mặt tức thời. Khi khủng hoảng nổ ra, các ngân hàng lập tức trữ tiền mặt và ngưng cho ngân hàng khác vay. Điều này không chỉ hủy hoại mô hình ngân hàng đầu tư Mỹ mà còn làm phá sản các ngân hàng như Northern Rock và HBOS của Anh vì đã cung cấp vốn ngắn hạn cho các khoản đầu tư dài hạn.

    Có khả năng chính quyền mới của Mỹ sẽ mở rộng một số hình thức hỗ trợ người sở hữu nhà. Điêu này sẽ rút ngắn thời gian cần thiết để dọn dẹp thị trường nhà ở và tái lập hoạt động cho vay. Chính phủ sẽ thực hiện một loạt biện pháp kích thích để khuyến khích các hộ gia đình Mỹ tiêu tiền. Một trong những vấn đề mà chính quyền mới phải đối mặt là nợ nần quá cao của các hộ gia đình. Người Mỹ có thể sẽ tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu số tiền được hoàn thuê (đó là lý do tại sao gói kích thích ngân sách của chính quyền Bush không thành công). Khi các hộ gia đình giải nợ, họ sẽ làm mức cầu thế giới mất đi hàng trăm tỷ đô-la. Đông thời, các doanh nghiệp cũng đang giải nợ, trì hoãn các dự án đầu tư, tích trữ tiền mặt để giải quyết những nghĩa vụ trước mắt (tiền lương và chi phí đầu vào), và trả hết nợ. Chính phủ sẽ phải chi tiêu nhiều hơn để kích cầu. Tuy nhiên, như minh họa trong hình 8, thâm hụt ngân sách vốn đã rất lớn (khoảng 2% GDP) ở thời điểm trước khi bắt đầu các gói giải cứu tài chính. Thâm hụt chắc chắn sẽ tăng, nhưng nó cũng không đủ để thay thế tất cả sức cầu bị lấy đi khỏi nền kinh tế do tỷ lệ tiết kiệm cao hơn, tỷ lệ đầu tư thấp hơn và chi tiêu của người tiêu dùng giảm.

    Hình 8 cũng cho thấy rõ thất thoát tổng cầu lớn nhất của Mỹ chính là thâm hụt ngân sách, vẫn hơn 5% GDP. Khi nền kinh tế chậm lại, Mỹ sẽ nhập khẩu ít đi. Điều này có hàm ý rất lớn với Trung Quốc, Việt Nam và những nước khác đang phụ thuộc nhiều vào nhu cầu hàng xuất khẩu ở Mỹ. Cụ thể Trung Quốc cần phải chuyển dịch nhanh chóng từ việc phụ thuộc và sức cầu của Mỹ sang chú trọng hơn vào thị trường trong nước. Gói kích thích 500 tỷ USD mà chính phủ Trung Quốc công bố chỉ là khởi đầu, nhưng không đủ để hỗ trợ cho cầu của cả thế giới ở thời điểm mà Mỹ đang nhanh chóng rút lui khỏi vai trò là “người tiêu dùng cứu cánh”.


    Nguồn: Cục Phân tích Kinh tế Hoa Kỳ (US Bureau of Economic Analysis) (www.bea.gov)

    Ngay cả sự kích thích ngân sách lớn cũng sẽ không khôi phục được tăng trưởng kinh tế của Mỹ và thế giới vào năm sau. Các hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ tiếp tục giải nợ cho đến khi nợ nần giảm xuống mức bền vững hơn. Theo các dự báo gần đây nhất của IMF, nền kinh tế Mỹ sẽ giảm 0,7% trong năm sau, trong khi khu vực đồng euro sẽ giảm 0,5% (bảng 3). Nhưng ngay cả điều này cũng là quá lạc quan nếu giá nhà tiếp tục giảm và nếu Trung Quốc không thể đạtt được tốc độ tăng trưởng 8,5% như IMF dự báo. Trung Quốc phải tìm đối trọng cho sức cầu tiêu dùng yếu đi ở Mỹ và châu Âu mà không phải dựa vào xuất khẩu để duy trì sức cầu. Muốn vậy, Trung Quốc phải chuyển dịch khỏi chiến lược xuất khẩu – lợi nhuận – đầu tư mà họ đã theo đuổi rất thành công trong những năm gần đây sang một chiến lược khác dựa nhiều hơn vào người tiêu dùng Trung Quốc và chi tiêu xã hội.

    Khi cuộc khủng hoảng bắt đầu từ thị trường nhà ở Mỹ, đa số các nhà kinh tế đồng ý rằng sự phục hồi kinh tế sẽ không diễn ra cho tới khi giá nhà ở Mỹ đã tìm được đáy. Nhưng điều này dường như vẫn chưa xảy ra. Lượng nhà xây mới giảm 19% vào tháng 11/2008 xuống mức thấp nhất kể từ 1959. Số hồ sơ xiết nợ nhà ở trong cùng tháng đã cao hơn năm ngoái 28%. Khoảng 12 triệu người Mỹ hiện nay có nợ bất động sản lớn hơn giá trị thị trường căn nhà của họ. Chi tiêu tiêu dùng sẽ không phục hồi cho tới khi giá trị nhà thôi không giảm nữa và chủ nhà có thể giảm qui mô nợ của họ ứng với giá trị lâu dài của căn nhà, mà đối với nhiều hộ gia đình thì căn nhà là tài sản vốn quan trọng nhất.


    Nguồn: IMF

    Khi nào thì điều này mới xảy ra? Mặc dù khó biết chắc chắn, đa số các nhà quan sát ở Mỹ đều cho rằng điều kiện trong thị trường nhà sẽ tiếp tục suy giảm trong suốt 2009 và có thể qua đến hết 2010 hoặc dài hơn. Tính chung cả nước Mỹ, giá nhà đã giảm 19% so với đỉnh, nhưng vẫn cao hơn 17% so với mối quan hệ dài hạn giữa giá nhà với thu nhập hộ gia đình. Nếu chiếu theo lịch sử thì sẽ mất ít nhất 2 và có lẽ là 5 năm ròng trước khi thị trường này bắt đầu ổn định và phục hồi.

    Phụ lục II : Khía cạnh kinh tế vĩ mô của biện pháp kích thích

    Việt Nam là nền kinh tế nhỏ nhưng mở cửa với ngoại thương và duy trì tỷ giá hối đoái cố định. Các chọn lựa về chính sách kinh tế vĩ mô đối với một nền kinh tế như vậy sẽ không giống như Chọn lựa chính sách sẵn có ở các nền kinh tế lớn với hoạt động sản xuất phần lớn để phục vụ thị trường nội địa và tỷ giá linh hoạt. Phần phụ lục này sẽ tóm tắt ý nghĩa kinh tế của các gói kích cầu, và lý giải tại sao Việt Nam phải thận trọng để áp dụng các chính sách phù hợp với điều kiện khách quan ở trong nước.

    A. Kích thích bằng chính sách tiền tệ

    Việc hạ thấp lãi suất và bơm thanh khoản vào ngân hàng sẽ có ý nghĩa ở các nước đáp ứng được những tiêu chí sau: i) những tổn thất to lớn buộc các ngân hàng phải tích trữ tiền mặt, điều này xiết chặt điều kiện cho vay trên thị trường tín dụng, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng; ii) tỷ giá hối đoái linh hoạt; iii) quốc gia phải đủ lớn để cho tăng cung tiền làm giảm lãi suất thực và tỷ giá hối đoái thực (ở nền kinh tế nhỏ và mở thì sự gia tăng cung tiền sẽ có kết quả giảm giá tỷ giá hối đoái thực nhưng không làm giảm lãi suất thực); và iv) việc cho vay và đi vay diễn ra phần lớn bằng đồng nội tệ.

    Việt Nam không đáp ứng được bất kỳ tiêu chí nào ở đây. Đúng là nhiều ngân hàng ở Việt Nam đang nắm nhiều khoản vốn vay không hiệu quả, đa số do tham gia quá nhiều vào thị trường bất động sản. Nhưng phần lớn ngân hàng Việt Nam không thiếu thanh khoản và hiện cũng không tích trữ tiền mặt. Thị trường liên ngân hàng có tính thanh khoản tốt và hoạt động bình thường. Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Viêt Nam, thì vấn đề lớn nhất không phải là lãi suất cho vay mà là thực tế rằng các ngân hàng không tìm ra đủ người đi vay phù hợp(12). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) không cần bơm tiền vào các ngân hàng như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Anh Quốc hay Ngân hàng Trung ương châu Âu đã làm.

    Ở Việt Nam, NHNN cố định tỷ giá hối đoái. Do đó chính sách tiền tệ có tác động một cách hạn chế lên GDP. Theo cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, cung tiền tăng sẽ làm mất giá đồng nội tệ, đẩy mạnh cầu nội địa thông qua tái định hướng chi tiêu sang thị trường nội địa và kích thích xuất khẩu. Theo cơ chế tỷ giá hối đoái cố định, tăng cung tiền không làm cho đồng nội tệ giảm giá. Với tỷ giá cố định, lãi suất thực (nói cách khác, lãi suất danh nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát Việt Nam) sẽ xuống mức thấp hơn lãi suất quốc tế (lãi suất đô-la điều chỉnh theo lạm phát đô-la). Người dân trong nước sẽ chuyển sang nắm giữ những tài sản theo mệnh giá ngoại tệ, và nếu những tài sản này không có họ sẽ chuyển sang các tài sản như vàng và đất đai. Cơ quan quản lý tiền tệ trong nước sẽ mua đồng nội tệ vào để bảo vệ tỷ giá, và như thế là làm giảm cung tiền. Nếu NHNN không can thiệp để bảo vệ tỷ giá thì kết quả là lạm phát và tình trạng mua ngoại tệ có phần hoảng loạn mà chúng ta đã thấy hồi giữa năm 2008. Với tổng các phương tiện thanh toán tương đương hơn 100 tỷ USD và chưa tới 25 tỷ USD dự trữ ngoại hối, việc bảo vệ tỷ giá hối đoái sẽ là điều khó khăn trong giai đoạn thất nghiệp tăng, lạm phát vẫn cao và xuất khẩu trì trệ.

    Nói cách khác, dưới cơ chế tỷ giá cố định, việc nới lỏng tiền tệ chỉ có kết quả chuyển dịch tài sản thay vì tạo nhiều hoạt động kinh tế hơn. Rõ ràng đây là trường hợp của Việt Nam. Lãi suất thực nói chung vẫn âm ở Việt Nam, và đã như vậy trong gần cả năm 2008. Lãi suất thực âm đã không cản được sự chậm lại của tăng trưởng kinh tế, nhưng nó lại thúc đẩy lạm phát.

    Điều quan trọng cần nhớ là Việt Nam là quốc gia nhỏ rất mở cửa với ngoại thương. Các nền kinh tế lớn như Mỹ, khu vực Euro và Trung Quốc đều có một số đặc tính của nền kinh tế đóng vì phần lớn các giao dịch trên thị trường hàng hóa và thị trường vốn là diễn ra ở trong nước. Tỷ lệ nhập khẩu/GDP còn thấp hơn nhiều, từ đó cho thấy những khoản tiêu dùng tăng thêm có khả năng vẫn ở trong nước. Do vậy, việc nới lỏng tiền tệ là cách thức hiệu quả để các nền kinh tế lớn kích thích tiêu dùng và đầu tư. Các nước nhỏ, bất kể tỷ giá hối đoái là cố định hay thả nổi thì thật sự không có chọn lựa này. Một nước nhỏ cố gắng tạo ra khoảng cách giữa lãi suất nội địa với lãi suất quốc tế sẽ chịu tác động bất ổn của dòng vốn quốc tế, buộc các cơ quan quản lý tiền tệ cuối cùng phải chỉnh đốn lại. Nếu dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương nhỏ thì biên độ sai sót có thể là rất nhỏ.

    “Đô-la hóa” là một lý do khác làm cho việc nới lỏng tiền tệ không kích thích được nền kinh tế ở Việt Nam. Việc hạ thấp lãi suất tiền đồng khiến người gởi tiền đang có tài khoản tiết kiệm tiền đồng chuyển sang giữ vàng hay đô-la, với tác động là giảm cầu tiền. Sự bất cân đối giữa cung và cầu tiền đồng sẽ tạo ra lạm phát, và nhu cầu đô-la tăng sẽ tạo áp lực khiến tiền đồng bị mất giá. Chúng ta biết rằng khoảng 25% vốn vay ngân hàng ở Việt Nam là bằng đô-la chứ không phải tiền Đồng. Sự giảm giá mạnh và bất ngờ của tiền đồng so với đô-la sẽ gây khó khăn cho việc trả nợ của nhiều đối tượng đi vay này. Điều này có thể gây rắc rối cho hệ thống ngân hàng, vốn dĩ đang chật vật với tỷ lệ nợ khó đòi cao.


    *Số liệu 2008 là ước tính. Nguồn: IMF; lãi suất cho vay bình quân 2008 là ước tính của tác giả.

    B. Kích thích bằng chính sách tài khoá

    Trong các hệ thống tỷ giá hối đoái cố định như của Việt Nam, chính sách tài khoá sẽ hiệu quả hơn nhiều so với chính sách tiền tệ. Khi tỷ giá linh hoạt, chi tiêu nhiều hơn của chính phủ có thể làm tăng cầu nhưng cũng có khả năng làm cho đồng nội tệ tăng giá, từ đó giảm cầu trong nước thông qua giảm xuất khẩu và thu hút nhiều nhập khẩu. Trong cơ chế tỷ giá cố định, kích thích ngân sách sẽ thu hút vốn nước ngoài đổ vào. Để duy trì tỷ giá, ngân hàng trung ương sẽ mua ngoại hối và tăng cung tiền. Như vậy, với tỷ giá cố định thì kích thích tài khoá có thể làm tăng sản lượng, nhưng thường với cái giá là tỷ lệ lạm phát cao hơn.

    Vấn đề Việt Nam đối mặt là mức thâm hụt ngân sách lớn, vốn đã tồn tại trong một thời gian. Theo IMF, thâm hụt ngân sách (chưa kể chi ngoài ngân sách) là 5% GDP năm 2007 và 4,5% trong năm nay. Chúng tôi đã phát biểu trong bài thảo luận chính sách trước là thâm hụt ngân sách lớn của chính phủ đã làm tăng thâm hụt thương mại và góp phần gây ra lạm phát giá cả. Ngay cả khi chính phủ không chi tiêu nhiều hơn trong năm 2009 thì thâm hụt ngân sách cũng có thể lớn hơn khi doanh thu từ xuất khẩu dầu thô và thu thuế ngoại thương giảm. Việc tăng thêm một tỷ USD vào khoản thâm hụt này có thể gây bất ổn kinh tế vĩ mô, chủ yếu vì trong tình hình khó khăn hiện nay Việt Nam khó có thể tìm được nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách lớn. Như đã nói, xuất khẩu hàng hoá, đầu tư nước ngoài, kiều hối và doanh thu du lịch có thể sẽ giảm trong năm 2009.

    Một số nhà bình luận trong nước lập luận rằng Việt Nam nên làm theo nỗ lực của Trung Quốc để kích cầu tiêu dùng trong nước thông qua tăng chi tiêu ngân sách. Nhưng chúng ta cần phải thấy rằng những điều kiện ở hai nước là rất khác nhau. Vì Trung Quốc là một nước lớn với tỷ lệ nhập khẩu/GDP thấp, nên phần lớn những chi tiêu tăng thêm này sẽ ở lại Trung Quốc. Trung Quốc cũng đang có thặng dư tài khoản vãng lai trong khi Việt Nam bị thâm hụt. Trung Quốc có 1.500 USD dự trữ ngoại hối bình quân đầu người, so với con số 250 USD của Việt Nam. Cuối cùng, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc thấp hơn nhiều của Việt Nam, nên chính phủ Trung Quốc có nhiều không gian để kích thích kinh tế hơn.

    Mặc dù việc tăng thâm hụt ngân sách là quá rủi ro, nhưng chính phủ vẫn có thể gia tăng tác động hỗ trợ tăng trưởng của những khoản chi tiêu hiện tại. Lý do chính khiến thâm hụt ngân sách quá lớn lúc này là việc chi tiêu rất không hiệu quả. Quá nhiều tiền được chi cho các dự án thâm dụng vốn và thâm dụng hàng nhập khẩu, nhưng lại không đóng góp đúng mức cho tăng trưởng kinh tế. Quá nhiều tiền được chi cho các doanh nghiệp lớn của nhà nước với mục đích đầu cơ. Việc chi tiêu cho cơ sở hạ tầng công cộng thì không được ưu tiên đúng mức. Chúng tôi đã nói rõ trong bài phân tích chính sách trước là Việt Nam không cần đến 20 cảng nước sâu, chỉ cần 2 cảng là đủ để đáp ứng cho hoạt động ngoại thương hiện tại và dự kiến trong tương lai. Khó có thể đưa ra lý lẽ thuyết phục việc có thêm nhà máy lọc dầu thứ hai, chưa nói đến nhà máy thứ ba.

    Do đó, chính phủ nên tập trung vào việc chuyển hướng chi tiêu công ra khỏi những dự án thâm dụng vốn và thâm dụng nhập khẩu sang các dự án sử dụng nhiều lao động hơn thay vì tập trung tăng tổng chi tiêu. Điều này có nghĩa là cần hoãn lại những dự án hoành tráng như nhà ga mới ở sân bay Nội Bài và tuyến xe lửa cao tốc Bắc Nam, để tạo thuận lợi cho việc xây dựng và bảo dưỡng hệ thống đường xá và thủy lợi. Mục tiêu nên là tận dụng những chi tiêu hiện tại để tạo ra càng nhiều công ăn việc làm càng tốt mà không làm tăng thêm thâm hụt thương mại một cách không cần thiết. Điều này sẽ giúp tạo việc làm, giảm nghèo, tăng tiêu dùng nội địa và kích thích sản xuất trong nước. Nó sẽ giảm thâm hụt ngân sách và do đó giảm áp lực lên dự trữ ngoại hối.

    CHÚ THÍCH :

    (12) “Kích cầu 1 tỷ USD : nên chi vào đâu?” Tuổi Trẻ, December 11, 2008.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi