Suy nghĩ tản mạn năm 2009 nhân nghiền ngẫm Khuyến Học (phần 2)

  • Bởi Admin
    02/02/2009
    0 phản hồi

    Thành viên Hải Âu

    Cũng lâu lâu do bận rộn công việc không có cơ hội khai bút đầu xuân như hàng năm tham gia cùng các bác trong phong trào Biển Đông, và Minh Biện www.minbien.org. Nhân dịp này đang có nhiều trăn trở xin khai bút tản mạn một chút trước thềm năm mới 2009 cùng các bác. Những suy nghĩ trăn trở tạn mạn nên nghĩ gì viết nấy, không sắp xếp thành đề mục, các bác gắng đọc hết nhé!

    Xin có thêm một số suy nghĩ trăn trở nữa khi trao đổi về chủ đề học và hành, khai sáng khai trí này. Nhiều lúc tôi vẫn thường tự hỏi rằng một đứa trẻ khi sinh ra hoàn toàn trong trắng như tờ giấy trắng chưa có gì cả, vậy mà tại Việt Nam khi lớn lên trở thành những con người có nhiều nhân cách khác nhau, nếu nói về thói hư tật xấu thì rất nhiều (như nhiều bài viết về Người Việt Nam xấu xí, rồi các bài viết/sách trao đổi về Trí thức Việt Nam và văn hóa Việt Nam - ví dụ như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Gia Kiểng v.v...).

    Bây giờ nếu các bác có dịp trải qua những nước và nền giáo dục khác nhau, ngồi ngẫm nghĩ lại thời thơ ấu của mình và của trẻ em ở Việt Nam rồi so sánh với những gì mà người Việt dạy trẻ em, người Nhật dạy trẻ em và người Úc dạy trẻ em hoặc người nước khác dạy trẻ em thông qua các sinh hoạt trong gia đình, trong trường học và các hoạt động trong xã hội thì chúng ta sẽ thấy có nhiều điểm mà cách dạy dỗ trẻ em cùng các phương pháp giáo dục trẻ em từ trong gia đình, nhà trường và xã hội có rất nhiều khác nhau. Tôi chưa dám lạm bàn phương pháp dạy trẻ em ở đâu hay dở do kiến thức về lĩnh vực này rất hạn hẹp nhưng những gì quan sát được tôi tự đặt câu hỏi có phải chính phương pháp giáo dục trẻ em và hành xử của người lớn tại Việt Nam ảnh hưởng rất nhiều tới nhân cách và hành xử của trẻ em khi trưởng thành hay không?

    Xin lấy một số ví dụ:

    Ví dụ 1: Tại Nhật Bản, bài học đầu tiên khi đưa con nhỏ tới trường là học về việc dọn vệ sinh và luật giao thông. Học trò lớp 1 được giáo viên hướng dẫn để giầy dép vào đúng nơi quy định, vứt rác vào đúng thùng rác đặt đúng nơi quy định. Rồi tiếp theo là bài học và thực hành luật giao thông kết hợp giữa giáo viên của trường và cảnh sát giao thông cùng phụ huynh học sinh. Tất cả từ cảnh sát giao thông, giáo viên và phụ huynh đều tuân theo luật như nhau và hướng dẫn trẻ em cũng tuân theo luật như vậy: đèn đỏ thì dừng lại dù không có một chiếc xe ô tô nào hoặc không có một xe đạp nào thì cũng phải chờ đến khi đèn xanh và đi theo chỉ dẫn của cảnh sát hoặc người hướng dẫn qua đường. Nhất nhất mọi người đều thực hiện như nhau. Lớn lên khi trở thành doanh nhân, chính khách, nhất nhất đều tuân thủ theo luật nghiêm ngặt. Tất nhiên trừ một số nhỏ cũng tìm cách "lách luật" nhưng rất dễ bị phát hiện và bị trừng trị.

    Ví dụ 2: Tại Úc, bài học đầu tiên khi trẻ em đến trường cũng là luật giao thông, và xung quanh trường trong khoảng thời gian trẻ em tới trường thì có những người hướng dẫn qua đường, nhất nhất trẻ em và phụ huynh học sinh đưa trẻ tới trường đều nghiêm ngặt tuân thủ an toàn giao thông. Tiếp theo tại Úc, giáo viên tiểu học hướng dẫn học sinh cách tự trình bày ý kiến của mình trong lớp học. Theo cách giảng dạy này thì học sinh Úc không cần phải học nhiều nhớ nhiều thứ mà rèn luyện cho trẻ em cá tính, tính cách độc lập suy nghĩ và phát biểu ý kiến của mình trong lớp học. Cũng tại Úc, khi trẻ em lớn lên, đều có tính cách độc lập, đều tuân thủ theo luật và các quy định, mọi người cứ thế mà làm, không cần ai phải bảo ai.

    Hai ví dụ trên là việc thực thi luật - những bài học đầu tiên cho trẻ em ở Nhật và Úc có khác nhau, nhưng nhìn chung là dạy trẻ em tuân theo những quy định trước khi xây dựng nhân cách và lĩnh hội kiến thức.

    Tại Việt Nam, những hình ảnh vi phạm luật (luật giao thông, những điều cấm v.v...) của người lớn hàng ngày lộ ra trước mắt trẻ em và những điều học trong trường không giống với những điều trong thực tế, và chính những điều này có thể gây ra những bất bình trong mắt trẻ em, và trẻ em thì lại bị nhiều điều cấm đoán của cha mẹ người lớn nữa thành thử khi lớn lên chúng lại nhiễm thói giả dối và gian trá để được yên thân, chí khí và tinh thần sáng tạo không còn nữa vì không ai cho cơ hội để bày tỏ ý tưởng của mình. Còn trong quan hệ giữa chính phủ và nhân dân thì có hiện tượng "trên bảo dưới không nghe", dưới thì chơi "phép vua thua lệ làng", trên ra luật và chính sách nhưng có khi diễn giải cho dân không dễ dàng, còn dân thì đọc luật chính sách, ắt nghĩ người tôn trọng không phải là ta cho nên tìm cách "lách luật", tất cả những tư duy, nếp suy nghĩ và hành vi trong nhân dân và cán bộ đều như thế, cho nên nước có luật nhưng chẳng ai coi trọng luật lệ gì cả, cho nên thực sự rất khó cho công cuộc công nghiệp hóa và xây dựng một đất nước Việt Nam phồn vinh, sánh kịp các nước phát triển. Kết quả là quan chức lộng quyền, nhân dân thì không tuân theo luật lệ... so sánh giống hệt như giao thông Việt Nam đó, mạnh ai nấy đi, tạo ra một sự hỗn độn rối như mớ bòng bong, ai muốn đi đúng luật muốn làm ăn lương thiện cũng không biết đường nào mà làm. Thêm nữa chính phủ thì sẵn sàng dùng hình thức đàn áp đối với bất kỳ người dân nào có ý kiến trái ngược với hệ thống chính trị hiện tại (có thể gán nghép nhiều tội danh như gián điệp, "diễn biến hòa bình", tiết lộ bí mật quốc gia (có quá nhiều bí mật quốc gia theo quy định/nghị định) v.v...), do vậy tạo ra nỗi sợ sệt hoang mang trong khắp dân chúng. Người có ý tưởng và có chính kiến muốn nói cũng không dám nói, và không có diễn đàn để nói nữa. Lại nữa tuy có hàng trăm tờ báo do nhà nước quản lý thì người nào có cơ hội có thể nói được, viết được và được đăng rồi nhưng cũng bị cắt xén đi thông qua việc biên tập (biên tập theo tôi hiểu là góp ý và sửa chữa lỗi ngữ pháp hoặc "nhặt cỏ" chứ không phải sửa ý hoặc cắt ý của người viết) nên ý tưởng bị thu hẹp lại và nhiều trường hợp thực chất là bị bóp méo đi để đúng theo một định hướng có sẵn. Xin thành lập báo tư nhân hay nhà xuất bản tư nhân để tạo ra các diễn đàn học thuật đối lập và mang tính đối thoại thì khó hơn bất kỳ một công việc nào vô cùng nặng nhọc khác, về vấn đề này nếu so với "Bản án chế thực dân Pháp" của HCM viết thì có thể nhiều điểm còn tệ hơn. Những hiện tượng này không có khác những gì ông Fukuzawa diễn giải và phân tích trong cuốn Khuyến Học về xã hội Nhật Bản của thời kỳ đen tối trước kia.

    Theo lý luận của ông Fukuzawa Yukichi trong cuốn Khuyến Học thì trong một xã hội văn minh, việc tôn trọng luật là điều vô cùng quý giá và là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển và loại trừ được những thói tham lam, làm ăn bất lương. Quan chức chính phủ (các cấp) là người được dân bầu lên đại diện cho dân để đưa ra các chính sách và luật định cũng như quy định, còn người dân bầu ra các quan chức chính phủ đó là cử đại diện cho mình để bảo vệ mình làm ăn, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên quy định rõ ràng: quan chức chính phủ thì làm công ăn lương từ tiền thuế của quốc dân, còn quốc dân làm ăn thì phải nộp thuế. Tiền thuế là mồ hôi nước mắt của quốc dân, quan chức chính phủ không thể dùng tiền thuế đó để tư lợi, còn quốc dân thì đã bầu các quan chức thay mình thảo luật chính sách thì phải tuân thủ. Xã hội đặt trên nền pháp trị là như vậy đó, đứng trước pháp luật, thì ông thủ tướng cũng bình đẳng như người quét dọn nhà vệ sinh, nghĩa là nếu có tội thì phại bị trị tội. Còn trong xã hội vai trò (cái nhìn) của ông thủ tướng cũng quan trọng như vai trò của người quét rác tuy vị trí và tính chất nặng nhọc của công việc khác nhau: ông thủ tướng trên cương vị của mình có nhiều trọng trách mà làm không xong thì cũng đều phải thoái vị để người khác làm tốt hơn, người quét rác cũng vậy không làm xong nhiệm vụ để môi trường ô uế thì cũng phải tự mình bỏ việc đó (sự cần mẫn ở vị trí làm việc của người Nhật thể hiện tinh thần trách nhiệm), trong xã hội không có công việc nào làm kém giá trị và hạ thấp nhân phẩm con người cả, mọi sự khinh thường vị trí làm việc của những người ít học vấn trong xã hội hoặc công việc không đòi họ học vấn cao chỉ là thói xấu của trí thức thời phong kiến mà thôi.

    Cách đây chừng 150 năm, xã hội Nhật Bản trong tình hình thế giới hồi đó có khác bây giờ, nhưng trong lòng xã hội Nhật Bản hồi đó chưa phát triển, người dân thì chưa được khai sáng khai trí thì mọi thứ việc đều rối như mớ bòng bong, cứ định làm việc gì cũng đều không có phương hướng, nhìn thế giới phương tây thấy cái gì cũng đều tốt cả, nếu gọi ngôn từ bây giờ là "choáng và chóng mặt", rồi thì mọi người đều than thở, ngao ngán không biết đường nào mà thực hiện. Chính những người học giả và trí thức Nhật Bản hồi bấy giờ như các nhân vật Hashimoto Sanai, Fukuzawa Yukichi và nhiều người trí thức khác đã giúp cho quan chức chính phủ và quốc dân Nhật Bản nhìn ra được phương hướng cho con đường phát triển Nhật Bản: Độc lập tự tôn. Ý nghĩa của độc lập tự tôn ở đây chính là quá trình mỗi người tự khai sáng khai trí cho bản thân mình để mình có kiến thức, có kỹ năng và tự tìm kiếm cơ hội kiếm sống cho mình, cho gia đình và cho người xung quanh mà không lệ thuộc vào chính phủ. Cách này đã khuyến khích bao sinh viên của Đại học Keio sau khi tốt nghiệp đã tìm cách tạo dựng cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển kinh tế tư nhân. Và đây có lẽ chính là động lực làm cho đất nước Nhật Bản chuyển mình. Song song với việc phát triển kinh tế, theo các học giả và trí thức Nhật Bản thì việc quản lý tổ chức xã hội và các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng quyết định vì đó là cách thức để có thể phát triển tồn tại bền vững khi mà các nguồn tài nguyên của quốc gia cạn kiệt.

    Tại Úc có lẽ cũng tương tự: trong suốt những năm học phổ thông, học sinh được rèn luyện theo cách độc lập suy nghĩ, không phụ thuộc suy nghĩ vào người khác. Người Việt Nam có cơ hội đưa con cái sang Úc học hay phàn nàn tại sao tại Úc học sinh không được dạy nhiều kiến thức như Việt Nam và không có bài tập về nhà, trẻ em học thì nhàn nhã và có nhiều thời gian tham gia vui chơi giải trí. Đây có lẽ chính là điểm khác nhau cơ bản của giáo dục tại các nước phát triển và tại Việt Nam: một bên (các nước văn minh) dạy trẻ em hướng tới độc lập suy nghĩ và sáng tạo, còn một bên (VN) thì dạy trẻ em kiến thức và học thuộc những thứ đó được coi là mẫu mực (lời thày dạy chính xác tuyệt đối và không được làm trái, không được hoài nghi và phản biện!) làm hành trang vào đời.

    Trên là những điều mắt thấy tai nghe tường tận tại Nhật và Úc mà tôi đã trải qua. Còn bản thân tôi có một điều trăn trở trong thời gian gần đây khi tiếp xúc với một số sinh viên ở Việt Nam là họ thường hay than thở về tương lai sau khi học xong chưa biết tính việc gì, hoặc khi đang học không biết kiến thức học được trong trường sẽ dùng để làm gì. Nghĩ lại thời sinh viên xưa của tôi ở Việt Nam, có lẽ cũng có những suy nghĩ và than thở như vậy. Vậy có phải do chính bản thân hay cho chương trình giáo dục và đào tạo tại đại học ở Việt Nam? Ai có thể bắt được căn bệnh và tìm được phương thuốc này đây? Nghĩ lại thời sinh viên lúc đó khi tốt nghiệp đại học trong đầu luôn luôn ý thức mình muốn kiếm được việc làm thì phải cần có tiền để đút lót hối lộ, và cần có người quen biết trong các mối quan hệ với các công ty nhà nước để tìm được đúng nơi cần mình. Đúng thực vậy, trong thâm tâm lúc nào cũng nghĩ hai điều kiện trên, và cố cất công đi tìm việc, xông pha vào các công ty nhưng kết quả thì không được, không có ai tuyển mình cả vì tất cả các công ty đều nói không cần người mà đang muốn thải người. Trong khi trong miệng thế gian thì đồn đại muốn vào công ty này công ty nọ thì phải quen biết ai và phải nộp bao nhiêu tiền, chạy theo những đường dây nào đó thì mới xin được việc. Quả thực lời đồn khá chính xác, đi đến một số công ty không ai tiếp mình, mà họ chỉ tiếp thông qua các quan hệ "ngầm" và qua các kênh của họ. Về sau trong lúc bí việc tìm đến nơi có nhu cầu tuyển việc làm, chính là đại học nơi tôi học. Trong quá trình tìm kiếm việc để kiếm tiền, hồi đó cũng may thay, khi chuyển từ tiếng Nga sang tiếng Anh, tại nhiều nơi trung tâm ngoại ngữ dạy Anh Văn mọc ra như nấm, có chút khả năng tiếng Anh xông xáo vào các trung tâm ngoại ngữ và tìm kiếm được một chân dạy tiếng Anh có chút thu nhập cho bản thân và bài toán tự mình kiếm sống trong khi chờ tìm kiếm việc làm được giải quyết. Một bài học sau này rút ra là muốn xin được việc làm và đỡ than thở thì chỉ có mình lăn lộn vào trong thị trường việc làm và tự chứng tỏ bản thân mình thì sẽ tìm được việc. Nếu chỉ than thở không thôi, chắc chắn không ai tự nhiên đem dâng tặng việc làm cho mình cả. Ngày nay tại Việt Nam chắc chắn có nhiều cơ hội cho những ai biết tự rèn luyện cho mình kiến thức và kỹ năng ngoài những điều học trong đại học (vì những thứ đó chưa đủ, có thể do nhiều nguyên nhân như chương trình giảng dạy chưa phù hợp và chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng).

    ________________________________________

    [*] Bài viết có một số trao đổi liên quan đến Quỹ Nghiên cứu Biển Đông (www.seasfoundation.org), chúng tôi xin được không trích lại ở đây để tránh làm loãng nội dung chính của bài. Độc giả quan tâm tới nguyên văn bài viết, xin tham khảo thêm ở đây: http://www.vietphd.org/showthread.php?t=2465

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi