Huyền thoại Putin

  • Bởi Admin
    02/02/2009
    1 phản hồi

    Michael McFaul và Kathryn Stoner-Weiss

    Michael McFaul là Hội viên của Viện nghiên cứu Hoover, giáo sư khoa chính trị và giám đốc Trung tâm Dân chủ, Phát triển và Pháp trị tại Đại học Stanford; Kathryn Stoner-Weiss, phụ tá giám đốc Ban Nghiên cứu và là học giả thâm niên trong Ban Nghiên cứu tại Trung tâm Dân chủ, Phát triển và Pháp trị tại Đại học Stanford.
    <br /><br />
    Huy Đức lược dịch

    Dưới thời Putin, tự do chính trị đi xuống, nhưng kinh tế đi lên. Có luận cứ cho rằng, đẩy lùi những bước tiến dân chủ là hi sinh cần thiết cho mục tiêu cao cả là ổn định và phát triển. Lối lý giải này không những đã thuyết phục đại đa số dân Nga mà còn được dùng để chứng minh rằng mô hình Putin có thể được sao chép lại. Nhưng, chế độ dân chủ Nga vào những năm 1990 đã xuất hiện đồng thời với sự tan rã của bộ máy nhà nước và sự tuột dốc của nền kinh tế, chứ nó không tạo ra hai tình trạng này. Theo chiều ngược lại, chế độ độc tài tại Nga dưới sự lãnh đạo của Putin đã xuất hiện trùng hợp với giai đoạn kinh tế phát triển, chứ không phải là nguyên nhân (làm cho kinh tế phát triển). Bất cứ thành quả nào dưới triều đại Putin đều đã có thể là to lớn hơn nếu như có dân chủ. Từ dân chủ trở lại độc tài: Trong nhiều năm trước khi Liên Xô sụp đổ, Mikhail Gorbachev đã bắt đầu đưa ra những cải tổ quan trọng, bao gồm những cuộc tuyển cử có nhiều ứng viên tranh nhau để vào các chức vụ ở cấp quốc gia và địa phương, tính đa nguyên trong các phương tiện truyền thông (ngay cả khi thuộc quyền sở hữu của nhà nước), và tự do thành lập các nhóm chính trị và công dân. Sau năm 1991, Nga bắt đầu triển khai tất cả những yếu tố cơ bản của một chế độ dân chủ thông qua lá phiếu. Các cơ quan truyền thông bằng điện tử hay báo giấy không do nhà nước kiểm soát gia tăng gấp bội. Phe đối lập chính trị ồn ào sinh động đến nỗi Yeltsin hai lần đối diện với nguy cơ bị nhóm nghị sỹ cộng sản truy tố trước Hạ viện Nga (Duma). Cuộc bầu cử quốc hội năm 1999 trở thành một cuộc tranh đua gay gắt nhất trong lịch sử nước Nga. Tuy thế, Yeltsin vẫn chưa thể là một nhà dân chủ hoàn hảo: ông ta dùng vũ lực để nghiền nát quốc hội Nga năm 1993, áp đặt thô bạo một Hiến pháp mới gia tăng quyền lực của Tổng thống và ngăn cản không cho một số đảng phái hoặc cá nhân tranh đua trong nhiều cuộc bầu cử ở cấp quốc gia hay cấp vùng. Ông ta cũng dấy lên hai cuộc chiến tại Chechnya. Hệ thống chính trị mà Yeltsin bàn giao cho Putin thiếu nhiều thuộc tính cơ bản của một chế độ dân chủ tự do. Tuy nhiên, dù có khuyết tật gì đi nữa, chế độ chính trị Nga dưới thời Yeltsin rõ ràng vẫn dân chủ hơn chế độ Nga hiện nay. Khi Putin lên cầm quyền, có ba mạng lưới truyền hình có tầm cỡ quốc gia và ảnh hưởng đến chính trị Nga là RTR, ORT và NTV. Ông đã thao túng cả ba. Hãng RTR do nhà nước sở hữu toàn bộ nên dễ điều khiển. Putin giành quyền kiểm soát ORT, một mạng lưới có khán giả nhiều nhất nước, bằng cách o ép khiến chủ nhân là tỉ phú Boris Berezovsky phải chạy ra nước ngoài. Vladimir Gusinsky, chủ nhân của NTV, cố gắng chống trả việc Putin giành quyền thao túng kênh truyền hình của ông. Nhưng rốt cuộc Gusinsky không những mất NTV mà còn mất luôn báo Segodnya và tạp chí Itogi khi công tố viên nhà nước cáo buộc ông những tội trạng thiếu cơ sở. Năm 2005, Anatoly Chubais, chủ tịch Công ti điện lực RAO (Mạng lưới Năng lượng Thống nhất của Nga) và lãnh tụ của đảng có khuynh hướng tự do SPS (Liên hiệp các Lực lượng Hữu khuynh), bị ép buộc bàn giao một hãng truyền hình nhỏ do tư nhân kiểm soát, Công ti REN-TV, cho các đầu sỏ chính trị thân cận với điện Kremly. Ngày nay điện Kremly kiểm soát tất cả các mạng lưới truyền hình quốc gia tầm cỡ. Gần đây hơn, điện Kremly đã thọc tay vào phương tiện truyền thông internet và báo giấy, lãnh vực trước đây vốn được để yên. Hiện nay, Nga đứng vào hàng thứ ba trên thế giới là một nơi rất nguy hiểm cho ký giả hành nghề, chỉ sau Iraq va Colombia. Tổ chức Ký giả không biên giới ghi nhận 21 nhà báo đã bị giết tại Nga kể từ năm 2000, trong đó có Anna Politkovskava, ký giả điều tra can đảm nhất của nước này, bị sát hại tháng 10 năm 2006. Putin cũng làm suy giảm quyền tự trị của chính phủ cấp vùng. Ông thiết lập bảy khu vực siêu vùng (supraregional districts), đứng đầu phần lớn là những cựu tướng lãnh hay cựu viên chức KGB. Những siêu thống đốc này cũng mở các cuộc điều tra nhắm vào những nhà lãnh đạo cấp vùng, qua đó làm giảm quyền tự trị của họ và hù doạ khiến họ phải khuất phục chính quyền liên bang. Putin từng làm suy yếu Hội đồng Liên bang, tức thượng viện quốc hội Nga, bằng cách rút các thống đốc và lãnh đạo ngành lập pháp cấp vùng được bầu khỏi vị trí đáng nhẽ họ có trong thượng viện để thay bằng những đại biểu do Putin chỉ định. Những cuộc bầu cử cấp vùng cũng thường bị tổ chức gian lận nhằm trừng trị các nhà lãnh đạo dám chống lại uy quyền của Putin. Vào tháng 9 năm 2004, trong một đòn chí mạng đánh vào chế độ liên bang (federalism) của Nga, Putin tuyên bố ông sẽ bắt đầu chỉ định các thống đốc. Putin cũng thành công thực sự trong việc làm suy yếu quyền tự trị của quốc hội. Bắt đầu từ những cuộc bầu cử quốc hội tháng 12 năm 2003, Putin khai thác lợi thế từ việc kiểm soát các tài nguyên chính trị khác (như kênh truyền hình NTV và văn phòng các thống đốc vùng) để giành cho Đảng Nước Nga Đoàn kết của điện Cẩm Linh một đa số chắc nịch trong hạ viện Nga: Đảng Nước Nga Đoàn kết và các đồng minh của nó hiện kiểm soát 2/3 số ghế trong quốc hội. Các kênh truyền hình quốc gia thường xuyên nêu lên những những nét tích cực của lãnh đạo Đảng Nước Nga Đoàn kết và nhắm vào mặt tiêu cực của các đảng viên cộng sản, sự ủng hộ tài chánh ồ ạt từ các tay đầu sỏ chính trị Nga và sự hậu thuẫn gần như nhất trí của các lãnh đạo cấp vùng cũng giúp cho đảng của Putin thắng thế trong quốc hội. Những đảng chính trị không liên kết với điện Cẩm Linh cũng bị thiệt hại. Các đảng độc lập có khuynh hướng tự do như Yabloko và SPS cũng như đảng độc lập lớn nhất bên cánh tả, tức Đảng Cộng sản Liên bang Nga, ngày nay đều đã yếu đi và phải hoạt động trong một môi trường bị hạn chế hơn nhiều so với thập niên 1990. Việc bỏ tù Mikhail Khodorkovsky, trước đây là người giàu nhất nước Nga và là chủ công ti dầu hỏa Yukos, đã gửi một tín hiệu mạnh mẽ cho những nhà doanh nghiệp khác về cái giá phải trả khi tham gia chính trị đối lập. Vào nhiệm kỳ thứ hai, Putin cho rằng các tổ chức phi chính phủ (NGO) có thể trở thành mối đe dọa đến quyền lực của ông. Vì thế ông ban hành một đạo luật đem lại cho nhà nước nhiều phương tiện để xách nhiễu, làm suy yếu và thậm chí đóng cửa những tổ chức NGO bị xem là mang quá nhiều màu sắc chính trị. Khó tin nhất có lẽ là việc không còn được tụ tập đông người nơi công cộng. Vào mùa xuân năm 2007, một liên minh gồm các nhóm xã hội dân sự và một số đảng chính trị, dưới danh xưng Một Nước Nga khác (Other Russia) do nhà quán quân cờ tướng Garry Kasparov lãnh đạo, đã cố gắng tổ chức những buổi mít-tinh công khai tại Moscow và St. Petersburg. Cả hai cuộc mit-tinh đã bị hàng ngàn cảnh sát và lực lượng đặc biệt giải tán, có hàng trăm người bị bắt – đây là một vụ đàn áp có qui mô chưa từng thấy ở Nga trong vòng 20 năm qua. Cùng với việc làm suy yếu những cơ chế kiểm soát quyền lực của Tổng thống, Putin và phe nhóm đã trì hoãn những cải tổ mà qua đó đáng lẽ có thể củng cố các ngành khác của chính phủ. Hệ thống tư pháp vẫn còn yếu. Khi có những vấn đề chính trị quan trọng cần giải quyết, toà án thường là một công cụ phục vụ quyền lực của tổng thống – như đã xảy ra trong vụ tranh giành kênh truyền hình NTV và trong việc truy tố nhà tỉ phú Khodorkovsky. Thậm chí toà án còn toan tính đến việc truất quyền hành nghề của một trong những luật sư biện hộ cho Khodorkovsky, đó là Karinna Moskalendo. To lớn hơn không có nghĩa là tốt hơn: Huyền thoại của chủ nghĩa Putin là, ngày nay dân Nga được an toàn hơn, ổn định hơn và nói chung có cuộc sống ấm no hơn thập niên 1990 – và thành quả này có được là do công lao của Putin. Thật ra, chế độ độc tài Putin cũng không hơn gì thời kỳ dân chủ trong việc cải tiến an toàn công cộng, y tế, hay tạo một môi trường ổn định về pháp lý và sở hữu tài sản. Nhà nước Nga dưới thời Putin phình to hơn trước kia. Số viên chức nhà nước tăng đến 1 triệu rưỡi người, tức tăng gấp đôi. Các bộ ngành mang tính đàn áp như cảnh sát, thuế vụ, tình báo được hưởng những ngân sách lớn hơn nhiều so với một thập niên trước đây. Trong vài lãnh vực, chẳng hạn việc trả tiền hưu trí hoặc trả lương công chức đúng hạn kỳ, xây dựng đường xá hay chi phí cho ngành giáo dục, nhà nước này đã làm tốt hơn thập niên 1990. Tuy vậy, với sự tăng trưởng về kích thước và tiềm lực của bộ máy công quyền, người ta không khỏi ngạc nhiên là nhà nước Nga vẫn còn hoạt động kém cỏi. Về vấn đề an toàn công cộng, y tế, nạn tham nhũng và mức độ an ninh của quyền sở hữu, dân Nga hiện nay chịu đựng nhiều cảnh tệ hại hơn mười năm về trước. Quyền được sống trong an ninh, lợi ích công cộng cơ bản nhất mà một nhà nước có thể cung ứng cho người dân, là một yếu tố chính trong huyền thoại của chủ thuyết Putin. Thực tế là, con số những vụ tấn công của bọn khủng bố đã gia tăng dưới thời Putin. Hai vụ tấn công khủng bố lớn nhất trong lịch sử Nga xảy ra dưới chế độ độc tài của Putin chứ không phải dưới thời dân chủ của Yeltsin. Theo số liệu của cục Thống kê Nhà nước Liên bang Nga, số án mạng cũng gia tăng dưới thời Putin. Trong những năm “hỗn loạn” 1995-1999, trung bình mỗi năm có 30.200 vụ giết người; trong những năm “có kỷ cương” 2000-2004, con số đó là 32.200. Số người chết vì hỏa hoạn tại Nga ở vào khoảng 40 người một ngày, gấp chừng 10 lần con số trung bình tại Tây Âu. Y tế cộng đồng cũng không được cải thiện trong 8 năm qua. Mặc dù điện Cẩm Linh có đầy tiền trong kho, nhưng việc chi tiêu cho ngành y tế từ năm 2000 đến 2005 trung bình chỉ chiếm 6% tổng sản lượng quốc gia (GDP), so với con số 6,4% từ năm 1996 đến 1999. Dân số Nga co lại kể từ năm 1990 vì số sinh giảm và số tử tăng, nhưng chiều đi xuống này trở nên tệ hại hơn kể từ năm 1998. Khoảng 0,9% dân số Nga hiện đang nhiễm HIV. Nga hiện có tỉ số nhiễm HIV cao hơn bất cứ quốc gia nào nằm ngoài châu Phi, ít nhất một phần là kết quả của những chính sách ứng phó tai hại hoặc không phù hợp cộng với hệ thống y tế yếu kém, lỗi thời. Tuổi thọ trung bình của người Nga gia tăng từ năm 1995 đến 1998. Nhưng kể từ năm 1999, nó tụt xuống 59 tuổi ở nam giới và 72 tuổi ở nữ giới. Đồng thời với tình trạng xã hội Nga ngày càng trở nên kém an ninh và kém lành mạnh dưới thời Putin, vị trí của Nga trên trường quốc tế cũng đi xuống trong các lãnh vực như sức cạnh tranh kinh tế, tính thân thiện đối với doanh nghiệp, tính minh bạch và khả năng chống tham nhũng. Viện nghiên cứu INDEM của Nga ước tính nạn tham nhũng đã tăng vọt trong 6 năm qua. Năm 2006, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đã xếp Nga ở một vị trí tệ hại hơn bao giờ hết, đứng thứ 121 trong số 163 quốc gia về nạn tham nhũng, nằm giữa Philippines và Rwanda. Năm 2006 Nga đứng thứ 62 trong số 125 nước theo chỉ số cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn Kinh tế Thế giới đề ra, nghĩa là Nga đã tuột 9 nấc trong một năm. Theo chỉ số “dễ dàng cho doanh nghiệp” do Ngân hàng Thế giới đề ra, năm 2006 Nga đứng thứ 96 trong số 175 nước, cũng là vị thứ tệ nhất từ trước đến nay. Quyền sở hữu tài sản cũng bị phá hoại. Putin và những người cộng sự của ông trong điện Cẩm Linh đã dùng quyền lực chính trị không bị kiềm toả của mình để phân phối lại một số tài sản có giá trị nhất tại Nga. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, hầu hết các chỉ số điều hành của Nga về các vấn đề như chế độ pháp trị và kiểm soát nạn tham nhũng chỉ ở số không hoặc âm dưới thời Putin. Những lãnh vực mà Nga có cải tiến trong mười năm qua, đặc biệt là phẩm chất các luật điều hành và hiệu năng của chính phủ, thật ra đã bắt đầu tăng tiến khá lâu trước khi thời đại Putin bắt đầu. Nói tóm lại, các dữ liệu rõ ràng không bênh vực cho quan niệm thông thường rằng, bằng cách dựng lên chế độ độc tài Putin đã xây dựng được một nhà nước có kỷ cương và đầy đủ khả năng, một nhà nước đang ra tay giải quyết và khắc phục những vấn đề phát triển khá ghê gớm của Nga. Những thất bại này của Putin càng rõ nét hơn khi xét đến mức độ tăng trưởng kinh tế mạnh hàng năm kể từ 1999: ngay với tiền bạc dồi dào đi qua nền kinh tế, chính quyền Putin vẫn chưa có thành tích gì khá hơn và có khi còn tệ hơn chính quyền Yeltsin (trong những năm kinh tế suy thoái của thập niên 1990) trong việc cung ứng cho người dân các tiện ích và dịch vụ công cộng cơ bản. Từ năm 2000, thu nhập khả dụng (disposable income) của dân chúng tăng 10% một năm, mức chi tiêu của người tiêu thụ tăng vọt, chỉ số thất nghiệp giảm từ 12% năm 1999 xuống 6% năm 2006. Theo một thống kê, số người nghèo giảm từ 41% năm 1999 xuống 14% năm 2006. Chưa bao giờ người Nga giàu như hiện nay. Nhưng, thập niên 1990 là một thời kỳ kinh tế cực kỳ khó khăn. Sau khi nước Nga chính thức độc lập vào tháng 12 năm 1991, tổng sản lượng quốc nội (GDP) bị suy giảm trong 7 năm liền. Một điều cần lưu ý là, suy thoái kinh tế đã xảy ra trước thời độc lập của nước Nga. Thật ra, nó là nguyên nhân chính đưa đến sự sụp đổ của chế độ Xô-viết. Không chỉ giới hạn tại Nga nó diễn ra sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại mọi quốc gia trong vùng, bất luận quốc gia đó theo chế độ nào. Trong trường hợp nước Nga, Yeltsin thừa hưởng một nền kinh tế vốn đã rơi vào cuộc khủng hoảng tồi tệ chưa từng có. Vào tháng 8 năm 1998, chính phủ Nga thực sự bị phá sản. Vụ suy sụp tài chánh này cuối cùng đã chấm dứt cuộc tranh luận chính về chính sách kinh tế tại Nga. Vì những cơ chế dân chủ vẫn còn giá trị, chính phủ đi theo hướng tự do chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng tài chính phải rút lui, quốc hội đã buộc Yeltsin chỉ định một chính phủ nghiêng về cánh tả, do Thủ tướng Yevgeny Primakov đứng đầu. Phó thủ tướng đặc trách kinh tế trong chính phủ Primakov là một lãnh tụ Đảng Cộng sản. Ở vào vị trí cầm quyền lúc này, Primakov và chính phủ của ông phải theo đuổi những chính sách có trách nhiệm tài chính, nhất là vào lúc không còn ai chịu cho chính phủ Nga vay mượn. Như vậy những nhà “xã hội chủ nghĩa” này phải cắt xén việc chi tiêu của chính phủ và giảm bớt vai trò của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế. Cùng với việc hạ giá đồng rúp nhằm giảm bớt số lượng hàng nhập khẩu và thúc đẩy hàng xuất khẩu của Nga, chính sách khắc khổ ngân sách mới đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế thật sự bắt đầu từ năm 1999. Như vậy kinh tế Nga đã bắt đầu phục hồi trước khi Putin lên cầm quyền và cũng trước khi chế độ độc tài của Putin bắt đầu đâm rễ. Thoạt đầu trong vai trò Thủ tướng và sau đó trên cương vị Tổng thống, Putin bám sát chính sách tài chính lành mạnh mà trước đó Primakov đã đề ra. Sau cuộc bầu cử đầy tính cạnh tranh tháng 12 năm 1999, phe đổi mới trong quốc hội thậm chí đã thông qua được một đạo luật quân bình ngân sách đầu tiên trong lịch sử nước Nga thời hậu Xô-viết. Với sự cộng tác của quốc hội, chính phủ đầu tiên của Putin đã đem ra áp dụng một số cải tổ thông thoáng được soạn thảo nhiều năm trước, dưới thời Yeltsin, trong đó có một thuế thu nhập đồng hạng 13%, một luật mới về đất đai (cho phép quyền sở hữu đất thương mại và đất định cư), một luật mới về ngành tư pháp, một chế độ mới ngăn chặn việc rửa tiền, một chế độ mới cho tự do hóa tiền tệ, và giảm thuế lợi tức (từ 35% xuống 24%). Vận may thật sự của Putin đã đến khi giá dầu trên thế giới tăng. Chính sách ngày càng độc tài tại Nga rõ ràng không phải là nguyên nhân khiến cho tài nguyên của Nga lên giá. Ngược lại: những thu nhập do dầu khí mang lại đã cho phép chế độ độc tài tái xuất trên đất Nga. Với lượng tiền trời cho khổng lồ từ dầu khí trong ngân khố của điện Cẩm Linh, Putin có thể đàn áp hoặc kết nạp các lực lượng chính trị độc lập, để mua đứt hay đàn áp đối lập trong ngành truyền thông hay trong dân. Nếu có một mối liên hệ nhân quả nào giữa chế độ độc tài và tăng trưởng kinh tế tại Nga, thì đó là một mối liên hệ tiêu cực. Chế độ ngày càng độc tài tại Nga trong mấy năm qua đã khiến nạn tham nhũng gia tăng và giảm sự an toàn trong quyền sở hữu tài sản. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Châu Âu Tái thiết và Phát triển, điều này sẽ cản trở việc phát triển về lâu dài. Sự chuyển nhượng tài sản đã biến một khu vực công nghiệp năng lượng tư nhân đang sinh lợi trở thành một khu vực quốc doanh và kém hiệu quả hơn. (Các hãng tư đã sản xuất đến 90% lượng dầu tại Nga năm 2004; hiện nay con số này là khoảng 60%.) Việc tái quốc hữu hoá đã làm suy giảm hiệu quả làm việc tại các công ti trước đây thuộc về tư nhân, hủy hoại giá trị của các công ti sinh lợi nhất trong nước, và làm khựng nguồn đầu tư, cả từ trong lẫn ngoài nước. Có lẽ bằng cách so sánh với các nước trong vùng, ta sẽ có được bằng chứng rõ nhất cho thấy chế độ độc tài của Putin có hại hơn là có lợi cho nền kinh tế Nga. Đáng chú ý nhất là dù với nguồn tài nguyên năng lượng khổng lồ của Nga, mức phát triển kinh tế dưới thời Putin còn thấp hơn mức trung bình của thời hậu Xô-viết. Vào năm 2000, năm Putin đắc cử Tổng thống, kinh tế Nga phát triển nhanh thứ hai trong các nước thuộc Xô-viết cũ, chỉ sau nước có nhiều khí đốt Turkmenistan. Tuy vậy, vào năm 2005, Nga tụt xuống hàng thứ 13, chỉ hơn Ukraine và Kyrgyzstan, hai nuớc đang hồi phục sau “các cuộc cách mạng màu”. Từ năm 1999 đến 2006, Nga xếp hạng 9 trong 15 quốc gia hậu Xô-viết về mức phát triển kinh tế bình quân. Tương tự, mức đầu tư ở Nga, chiếm 18% tổng sản phẩm nội địa, dù hiện nay mạnh hơn hẳn trước kia, vẫn còn nằm xa dưới mức trung bình so với các nước dân chủ ở trong vùng. Hiện nay kinh tế Nga đang phát triển tốt, nhưng là bất chấp chế độ độc tài, chứ không phải là nhờ có nó. Putin và phe nhóm của ông đã vạch ra kế hoạch nhằm tránh việc phải trao quyền lực lại cho một phe nhóm khác trong năm nay. Tài uốn éo của họ nhằm giữ quyền đứng đầu nhà nước có vẻ thành công hơn nỗ lực cải thiện bộ máy công quyền hay tăng tốc độ phát triển kinh tế. Giá năng lượng và nhiên liệu trên thế giới vẫn giữ kinh tế Nga tăng trưởng trong tương lai tới. Nhưng sự thống trị độc tài được giữ lại sẽ không đóng góp được gì cho sự phát triển này. Việc tiếp tục chính sách cai trị tồi này sẽ trở thành một lực kéo trì hoãn phát triển kinh tế về lâu về dài. Hiện nay người dân Nga đúng là giàu hơn trước, nhưng họ hoàn toàn có thể giàu hơn thậm chí nhanh hơn nhiều dưới thể chế dân chủ. _____________________________________________ Cựu TT và thủ tướng Putin cùng với tài sản ngầm của ông trị giá cỡ $40bn theo tin của guardian.co.uk

    Xem thêm về MAFIOCRACY IN RUSSIA Link này dùng tiếng Pháp có thể chi bộ đọc qua Google Translate vậy.
    Chủ đề: Thế giới
    Từ khóa: Putin, nước Nga

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Richard Pipes (nhà sử học, chính trị học, Xô-viết học người Mỹ, cố vấn của tổng thống Ronald Reagan. Bài đăng trên tuần báo Wprost (Ba Lan) số ra ngày 21-28/12/2008. Thái Linh dịch)

    Xưa kia, Gogol đọc những chương đầu tiên của „Những linh hồn chết” cho Pushkin nghe. Nhà thơ thường ngày hay cười, khi nghe tác phẩm của Gogol, trở nên mỗi lúc một buồn bã hơn. Khi nhà văn ngừng đọc, Pushkin thở dài và thốt lên: „Lạy Chúa, nước Nga của chúng ta mới buồn thảm làm sao!”

    Tôi nghĩ đến cảnh tượng từ đầu thế kỷ XIX ấy khi theo dõi các sự kiện ở Nga. Vì đâu một dân tộc như dân tộc Nga, tài năng trong văn học, nghệ thuật và khoa học, lại không thể tổ chức được cuộc sống xã hội để bảo đảm cho mình sự ổn định và một nhà nước pháp quyền? Tại sao người Nga che giấu hết cuộc khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, bù đắp cho điều đó bằng sự khinh mạn và khủng bố các nước láng giềng? Thật là một vở kịch thương tâm. Đã 17 năm trôi qua từ khi Liên Xô sụp đổ. Các nước Đông Âu, sau khi thoát khỏi sự kìm kẹp của Nga, đã xây dựng được những nhà nước dân chủ dù ít dù nhiều và hòa nhập vào cộng đồng châu Âu. Họ biết họ thuộc về cái gì. Chỉ có nước Nga là vẫn không biết.

    Theo các điều tra dư luận, người Nga chối bỏ lối sống và các giá trị phương Tây. Trên phương diện chủng tộc và tôn giáo, họ không thuộc thế giới Hồi giáo hay Phật giáo phương Đông, họ khẳng định rằng họ muốn đi theo con đường riêng của mình, mặc dù họ không xác định được con đường đó là gì. Vì vậy họ rơi vào tình trạng tự cô lập, không biết tìm cho mình một chỗ đứng trong gia đình các dân tộc toàn thế giới.

    Những người lãnh đạo nước Nga – phần lớn là các cựu quân nhân cảnh sát chính trị xô viết – ý thức được sự vô vọng của nền kinh tế cộng sản và đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhưng đấy là chủ nghĩa tư bản trong đó nhà nước kiểm soát các ngành kinh tế mang lại nhiều lợi nhuận, như dầu lửa và khí đốt, đồng thời tỏ ra không tôn trọng sở hữu tư nhân. Ví dụ như các hợp đồng với British Petroleum và Shell, bị cắt đứt với lý do không tuân thủ việc bảo vệ môi trường. Tài sản của Michail Chodorkovsky, chủ hãng Yukos, bị tịch thu trên cơ sở các cáo buộc gian dối về tội trốn thuế. Thực chất là các lý do chính trị.

    Cả Putin lẫn Medvedev đều không được chuẩn bị cho các hậu quả của khủng hoảng tài chính thế giới. Cả hai đều cho rằng nước Nga được cách ly khỏi kinh tế thế giới như Liên Xô trước kia. Vì vậy họ cam đoan rằng họ kiểm soát được cuộc khủng hoảng là hậu quả sự thiếu thận trọng của người Mỹ. Nhưng họ không giải thích được cho nhân dân tại sao thị trường chứng khoán Nga sụt giảm 85%, mất nhiều hơn bất cứ thị trường chứng khoán nào khác trên thế giới. Họ không thể giải thích tại sao đồng Rúp mất giá. Nền kinh tế của họ, phụ thuộc vào xuất khẩu năng lượng, đang bị đe dọa, khi mà trên thị trường quốc tế giá một thùng dầu tụt xuống dưới 70 USD. Các nhà lãnh đạo Nga đến bây giờ mới nhận thức được họ đã trả cái giá đắt như thế nào cho cuộc xâm lược Georgia, khi sau đó các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi Nga một số vốn trị giá gần 100 tỉ USD.

    Trong lãnh vực chính trị tình hình cũng không khá hơn. Người Nga hoài nghi cho rằng mọi chính phủ đều do các chính khách chỉ biết chăm lo đến quyền lợi cá nhân lãnh đạo. Bởi vậy phần lớn dân Nga không quan tâm đến chuyện bầu những người lãnh đạo. Họ thấy các chính phủ chuyên quyền là phù hợp với mình. Những người lãnh đạo phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”. Putin và Medvedev đều tỏ rõ cho mọi người hiểu rằng họ không định xây dựng nước Nga thành một nước dân chủ. Họ lặp lại quan điểm của nữ hoàng Catherine II và Aleksandr II, rằng dân chủ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nước Nga. Trong bài giảng ở Đại học Columbia, Mỹ vào năm 2003 Putin phản đối lại lời chỉ trích rằng ở nước ông ta không có tự do ngôn luận, viện lý lẽ là trong lịch sử của mình, nước Nga chưa từng biết đến thứ tự do này. Việc chính quyền hiện nay không ưa tự do ngôn luận đã khiến cho mười ba nhà báo dũng cảm dám chỉ trích chế độ phải trả giá bằng mạng sống. Cho tới nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm.

    Lệ chuyên quyền, đối với truyền thống phương Tây là cá biệt, lại được 2/3 dân Nga ủng hộ. Hậu quả của nó là sự tách biệt dân chúng khỏi các vấn đề của quốc gia. Có thể đặt câu hỏi nếu khủng hoảng chính trị nổ ra, người dân Nga có đứng lên giúp đỡ chính phủ hay không? Trong các thời điểm như vậy dân chúng rút lui vào cuộc sống riêng, để kệ cho chính phủ tự bảo vệ mình. Người ta đã có thái độ như thế ở Nga vào năm 1917 và năm 1991, khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, trong sự thờ ơ của nhân dân.

    Khi người Nga nói họ muốn chính phủ phải „mạnh mẽ, cương quyết và không khoan nhượng”, ý họ cũng muốn nói đến chính sách ngoại giao. Khi hỏi rằng nước họ nên được nhìn nhận như thế nào trên trường quốc tế, gần một nửa số người được hỏi trả lời là „một nước hùng mạnh, bất khả chiến bại, một cường quốc của thế giới”. Chỉ có 3% trả lời là „nước yêu hòa bình và thân thiện”, và 1% là „nước pháp quyền và dân chủ”. Thái độ ấy của phần lớn xã hội lý giải sự nỗ lực đến mức ám ảnh của người Nga để xây dựng địa vị „cường quốc lớn” mà họ đạt tới đỉnh điểm trong chế độ Xô viết và đã đánh mất. Cũng chính vì lý do này mà phần lớn người Nga coi Stalin là lãnh tụ lớn nhất, và coi thường Kerensky và Yeltsin, những người đã cố gắng mang tự do đến cho họ. Tham vọng lớn nhất của các lãnh tụ là xây dựng cho nước Nga khả năng gây khiếp sợ và bắt người khác phải vì nể.

    Mỗi năm chính sách ngoại giao của Nga một trở nên hung hãn hơn. Chính quyền phản ứng một cách giận dữ khi cảm thấy các mong muốn của mình bị lờ đi, như trong trường hợp Kosovo, Georgia hay các vấn đề hệ thống phòng chống tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Séc. (...) Có vẻ như mục đích chính của sự can thiệp vào Georgia là để quấy rối và làm mất thể diện nước Mỹ. Moscow muốn cho thấy – và họ đã thành công – rằng Mỹ không có khả năng cứu bất cứ một đồng minh nào trong „vùng ảnh hưởng đặc biệt” của Nga. Các nỗ lực của Nga để chia rẽ châu Âu và Mỹ cũng phục vụ cho mục đích này. Moscow thực hiện chính sách này thành công. Một phần là do sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp năng lượng của Nga, phần khác vì sự ghen tị với vai trò chủ đạo của Mỹ trên thế giới mà các chính khách châu Âu – Berlusconi, Sarkozy và Merkel – đã chọn sự trung lập trong căng thẳng của Washington – Moscow. Nước Nga cảm ơn Liên Hiệp châu Âu vì đã không áp dụng với nước này các hình phạt cho cuộc xâm lược Georgia.

    Chuẩn bị cho dân chúng trước sự sụp đổ giả tưởng của Hoa Kỳ, truyền thông Nga vẽ ra những bức tranh vui tươi cho nước mình, mà đến năm 2020 phải vượt qua Hoa Kỳ trong kinh tế và quân sự và có thể - cùng với Trung Quốc - thay thế siêu cường quốc đáng căm ghét này. Đồng Rúp sẽ phải trở thành ngoại tệ dự trữ chính, còn Moscow – thành thủ đô tài chính của thế giới. Khi đọc các dự báo như vậy, người ta có thể đặt câu hỏi liệu các tác giả có tin vào chúng không, hay là họ đang có mưu đồ. (...)

    Tôi tin rằng để nước Nga không còn là một khó khăn cho chính mình và cho phần còn lại của thế giới, nó phải chọn ra được một chính phủ biết xóa bỏ những mộng tưởng siêu cường quốc, dồn công sức cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân hiệu quả và nhà nước pháp quyền. Chính phủ ấy cũng phải từ bỏ sự tự cô lập và tiếp nhận một tiến trình theo phương Tây mạnh mẽ. Chính sách này không có cơ hội dưới trướng chính phủ của Putin – Medvedev. Có thể nước Nga cần một cú sốc mới để đương đầu với hiện thực.

    Nguồn : Lilia's Blog