Quán nước Dân Luận

  • Bởi tqvn2004
    01/02/2009
    1.995 phản hồi

    Vào đây đọc tin không chắc các bác cũng buồn, vì hiện giờ không nhiều tin tức, và nếu có thì tin cũng không cập nhật nhanh được như diễn đàn. Dân Luận đáng lẽ phải có một khu để tán dóc, khổ nỗi tôi chưa kiếm được plugin để làm shoutbox cho hợp lý.

    Vì vậy, tôi lập ra mục này để mọi người cùng tán chuyện cho vui. Không giới hạn chủ đề, miễn là lịch sự và tôn trọng lẫn nhau là được :)

    Nào, hãy cùng khởi động quán nước Dân Luận, ngồi lê đôi mách nào!

    _____________________________

    Chú ý các liên kết hay được sử dụng trên Dân Luận:

    Chủ đề: Thư giãn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1995 phản hồi

    Tại sao yêu nhau không đến được với nhau??? :-(

    Giờ nhìn anh khỏa thân mà lòng em đầy nuối tiếc ...

    Một còm trên oét bình:

    Yêu nhau từ thuở thiếu thời
    Giờ đây mình nỡ vào nồi ... mình ơi ...
    Bảo rằng mình chẳng biết bơi
    Mà giờ nude giữa 1 nồi nước xương
    Nhìn anh như thế em thương
    Thôi thì vĩnh biệt đôi đường nha anh

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC (đoạn 6)

    Vì chính quyền áp dụng apartheid ngày càng thắt chặc, cộng thêm chính sách điền thổ bất công ở vùng nông thôn nên loạn lạc xảy ra nhiều nơi. Một số các lãnh đạo những cuộc phản kháng bị bắt giam, hoặc ám sát như ở vùng Zeerust. Tình trạng vùng Sekhukhune nóng bỏng đến độ dân chúng chống đối bất tuân ra mặt và từ chối đóng thuế. Chi nhánh ANC ở hai vùng này tổ chức đấu tranh nhờ chiêu mộ được đông đảo thành viên, và trở nên hai phân bộ ANC đầu tiên bị chính quyền ra lệnh cấm hoạt động. Ở vài vùng khác, những người thân chính quyền bị tấn công và bị giết chết.

    Tôi đau lòng vì tình trạng ở quê nhà Transkei; vùng đó được K.D. Matanzima mà tôi gọi là Daliwonga, cai quản [K.D. là người bà con của Mandela và đã cố vấn cho ông ta khi còn ở trường Fort Hare]. Không có gì nghi ngờ việc Daliwonga cộng tác với chính quyền; và những gì tôi kêu gọi anh ta đều trở thành con số không. Có những báo cáo rằng các "impis" (chiến binh truyền thống) từ bộ chỉ huy của Matanzima đã đốt rụi những thôn làng nào chống lại anh ta; và Daliwonga phải trải qua những vụ ám sát hụt. Cũng đau lòng không kém là việc người cha của Winnie đang phục vụ trong hội đồng cai quản của Matanzima một cách không dao động. Thật khủng khiếp cho Winnie: cha và chồng của cô ta, hai người đang ở hai đối cực của một vấn đề. Winnie yêu mến cha, nhưng chống đối con đường chính trị của ông.

    Tiến trình xử án trong hệ thống tư pháp ở Nam Phi rất chậm chạp. Hai năm và tám tháng sau ngày chúng tôi bị bắt, kể cả một năm dài chuẩn bị pháp lý, vụ án được chính thức công bố vào ngày 3/8/1959 và vụ xử bắt đầu với bản cáo trạng mới được sửa đổi. Tôi thuộc vào nhóm 30 bị cáo được xử đợt đầu; tất cả đều không nhận tội. Hai tháng sau, viên Trưởng Công tố Oswald Pirow đột nhiên từ trần; đây là một bước lùi về phía chính quyền vì người kế nhiệm De Vos không thể nào sánh về tài hùng biện và sự sắc bén.

    Trên hai trăm nhân chứng bên công tố được tòa triệu tập, đa số là các thám tử trong Ban Cảnh sát Đặc nhiệm. Nhưng bên công tố không thể đưa ra bằng chứng hợp lý nào về âm mưu bạo động của chúng tôi [ngoại trừ một đoạn ghi âm lén bài thuyết giảng của một thành viên ANC, nhưng sự trích dẫn bị sai lạc về ngữ cảnh]

    Có vài nhân chứng bên biện hộ, một người là Chủ tịch Luthuli của ANC. Khi khai về chính sách bất bạo động của ANC, ông ta nhấn mạnh rằng có sự khác biệt giữa bất bạo động và chủ trương hòa bình. Những người chủ trương hòa bình không chịu tự bảo vệ ngay cả khi bị tấn công bằng bạo lực, nhưng đó không nhất thiết đúng với những ai theo đường lối bất bạo động. Đôi khi những cá nhân và các quốc gia, ngay cả khi bất bạo động, cũng phải tự vệ nếu bị tấn công.

    Nhưng vào ngày 21 tháng Ba, lời khai của ông Luthuli bị gián đoạn vì một biến cố gây đảo lộn đang xảy ra bên ngoài tòa án. Ngày hôm đó, cả nước bị rung chuyển bởi một vụ kinh khủng đến nỗi khi ông Luthuli trở lại tòa một tháng sau đó thì phòng xử -và toàn thể Nam Phi- trở thành khác hẳn.

    Cuộc hội thảo hàng năm của ANC nhất trí bầu cho việc khởi sự một chiến dịch toàn quốc chống giấy thông hành bắt đầu vào 31/3/1960 và sẽ đạt cao điểm vào 26/6 [kỷ niệm Ngày Phản Kháng lịch sử của ANC] với việc đồng loạt đốt bỏ giấy thông hành. Những phái đoàn được phái về tận địa phương nhiều nơi giải thích cho các chi bộ về chiến dịch sắp đến. Những nhân viên ANC đi loan truyền tin tức đến các thị trấn và nhà máy. Truyền đơn, nhãn hiệu, áp-phích được in, luân chuyển và dán khắp nơi.

    Vào thời gian đó, PAC tỏ ra thua cuộc; họ biết về chiến dịch chống giấy thông hành và được ANC mời tham gia nhưng họ tìm cách phá bĩnh chúng tôi. PAC loan báo họ sẽ triển khai một chiến dịch của riêng mình cũng để chống giấy thông hành. Họ sẽ bắt đầu vào 21/3, mười ngày trước khi chúng tôi khởi sự. Việc họ tiến hành chiến dịch rất hấp tấp, thiếu chuẩn bị, và theo phong cách cơ hội may rủi. Hành động của họ nhằm che khuất chiến dịch của ANC hơn là theo đuổi mục tiêu đánh bại kẻ thù.

    Sáng ngày 21/3, Sobukwe và ban lãnh đạo của PAC bước vào một trạm cảnh sát tự nạp mình để bị bắt. Trước tòa án, Sobukwe tuyên bố rằng PAC sẽ không ra sức tự bào chữa, đúng theo khẩu hiệu của họ "Không đóng tiền thế chân, không biện hộ, không đóng tiền phạt". Họ tin rằng những người bất tuân lần này sẽ lãnh án vài tuần lễ trong tù. Nhưng Sobukwe bị tuyên án tù ở không phải ba tuần, mà đến ba năm.

    Sự hưởng ứng đáng kể cho chiến dịch của PAC chỉ bùng lên nơi vài thị trấn. Ở Evaton, hàng trăm người không mang giấy thông hành và để cho cảnh sát bắt giữ. Ở Langa, do sinh viên trẻ Philip Kgosana cầm đầu, khoảng 30 ngàn người tập trung và sau đó gây bạo loạn chống đoàn cảnh sát mang dùi cui. Hai người bị giết. Nhưng chính ở Sharpeville, một biến cố xảy ra mang đến tai họa và thảm kịch vang dội. Các thành viên của PAC đã làm việc xuất sắc tổ chức cho cuộc biểu dương trong vùng này với vài ngàn người đến vây quanh một trạm cảnh sát, họ rất trật tự và không mang vũ khí. Lực lượng cảnh sát bên trong trạm gồm 75 nhân viên, họ trở nên hoảng hốt vì bị đám người quá đông bao vây. Đến một khoảnh khắc, cảnh sát thình lình nổ súng và tiếp tục xả đạn vào người biểu tình đang tìm cách bỏ chạy.

    Khi hiện trường yên tĩnh lại, 69 người Phi nằm chết; đa số đã bị bắn vào lưng trong lúc tháo chạy. Hàng trăm người khác bị thương. Đó là một vụ thảm sát, và hôm sau báo chí quốc tế đều loan tin. Vụ bắn giết ở Sharpeville không những kích động sự náo loạn trong nước và tình trạng chính quyền bị khủng hoảng, nó còn gây nên làn sóng phản đối khắp nơi trên thế giới, kể cả Bộ Ngoại giao Mỹ. Và đây là lần đầu tiên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc xen vào nội tình của Nam Phi, qui lỗi cho chính quyền đã bắn giết; và thúc giục việc khởi đầu những biện pháp mang lại bình đẳng chủng tộc. Nhưng chính quyền cứ nhấn mạnh rằng biến cố Sharpeville là kết quả do một âm mưu của cộng sản.

    Vụ thảm sát ở Sharpeville tạo nên một tình trạng mới. Mặc dù giới lãnh đạo mang tính tài tử và cơ hội, giờ đây hàng ngũ của PAC được biết đến với sự can đảm và kiên cường qua các cuộc biểu dương ở Sharpeville và Langa. Chỉ trong một ngày, họ xuất hiện nơi hàng đầu của cuộc đấu tranh; và ở trong cũng như ngoài nước, Robert Sobukwe được xem như vị cứu tinh của phong trào giải phóng. Chúng tôi trong ANC phải thực hiện những điều chỉnh nhanh chóng với tình trạng mới này.

    Một nhóm nhỏ của ANC gồm cả tôi mở một cuộc họp suốt đêm để hoạch định cho cuộc đáp ứng và triển khai sau đó. Chúng tôi biết rằng ANC phải công nhận biến cố ấy theo một cách nào đó cũng như tạo cho dân chúng một lối thoát để trút bỏ sự giận dữ và nỗi đau buồn. Ngày 26/3 ở Pretoria, Chủ tịch ANC Luthuli công khai đốt giấy thông hành của ông, kêu gọi mọi người cùng hành động như thế. Ông loan báo một ngày "ẩn trong nhà" cho cả nước vào 28/3, đó là Ngày Để Tang toàn quốc và phản đối sự tàn ác ở Sharpeville. Tôi và một số thành viên ANC cùng đốt giấy thông hành ở Orlando trước sự hiện diện của hàng trăm người và cả chục phóng viên.[*]

    Hai ngày sau, vào 28/3, cả nước đã đáp ứng rất tuyệt diệu khi nhiều trăm ngàn người Phi hành động theo lời ông Luthuli kêu gọi. Ở vùng Cape, một đám đông 50 ngàn người tụ tập để phản đối vụ thảm sát. Bạo loạn đã bùng nổ ở nhiều nơi, và chính quyền phải tuyên bố Tình trạng Khẩn cấp, nắm lấy quyền hành rộng rãi để hành động chống lại mọi hình thức lật đổ. Nam Phi giờ đây đang ở trong tình trạng thiết quân luật.

    [*] Một nguồn khác cho biết khi Mandela đốt giấy thông hành, ông tuyên bố với báo chí rằng đó là hành động để bày tỏ sự không công nhận một chính quyền vốn đối xử tàn bạo với dân chúng mà họ cai trị.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC (đoạn 4)

    Có ít việc nào có thể va chạm mạnh đến tinh thần người phụ nữ như vấn đề giấy thông hành. Nhà nước chưa giảm bớt kiên quyết buộc phụ nữ phải mang giấy thông hành, và ở phía kia các phụ nữ chưa giảm bớt quyết tâm chống đối. Mặc dù bây giờ chính quyền gọi giấy thông hành là "sổ tham khảo", nhưng các phụ nữ không bị lừa, bởi họ vẫn có thể bị phạt 10 bảng hoặc bị bỏ tù một tháng nếu không thể trình ra "sổ tham khảo".

    Năm 1957, do các nỗ lực của Hội Phụ nữ ANC thôi thúc, các phụ nữ trên cả nước phản ứng dữ dội đối với việc nhà nước nhất định buộc họ phải mang giấy thông hành. Các phụ nữ ấy thật can đảm, kiên trì, nhiệt thành, không mệt mỏi, và việc họ đấu tranh đòi bãi bỏ giấy thông hành đã tạo một chuẩn mực chưa từng có cho hoạt động chống chính quyền. Như Chủ tịch Luthuli đã nói "Một khi phụ nữ bắt đầu tham gia tích cực vào cuộc tranh đấu, thì không có quyền lực nào trên quả đất có thể ngăn chặn chúng ta đạt đến tự do trong thế hệ này."

    Từ nông thôn cho đến thành thị, hàng ngàn phụ nữ cùng nhau bày tỏ sự chống đối. Vụ án Phản quốc được tạm ngưng nên Frances Baard và Florence Matomela [hai cái tên của phái nữ] có thì giờ tổ chức nơi quê nhà của họ cho các phụ nữ biểu lộ việc từ chối dùng giấy thông hành. Ở Johannesburg, một nhóm đông các phụ nữ tập trung ở văn phòng cấp thẻ thông hành, và họ xua đuổi những ai đến làm giấy tờ cũng như các thư ký làm việc bên trong. Cảnh sát đã bắt bớ hàng trăm phụ nữ tham gia hành động.

    Không bao lâu sau việc bắt bớ, trong lúc Winnie và tôi đang thư giãn khi bữa ăn tối vừa xong thì cô ta thỏ thẻ báo cho tôi biết cô dự tính gia nhập một nhóm phụ nữ sẽ đến văn phòng cấp thẻ thông hành để chống đối vào ngày hôm sau. Một chút ngạc nhiên, tôi vừa cảm thấy hài lòng vói tinh thần dấn thân của Winnie và thán phục sự can đảm của cô ta, vừa xem xét thận trọng ý định ấy. Winnie còn trẻ, mới 25 tuổi, xuất thân từ một gia đình khá giả và bị ngăn cách với những thực tế phủ phàng của cuộc sống trong xã hội. Nhưng từ khi chúng tôi thành hôn, Winnie ngày càng dính líu nhiều hơn vào chính trị, và cô ta đã gia nhập một chi nhánh của Hội phụ nữ ANC.

    Tôi bảo Winnie rằng tôi hoan nghênh quyết định của cô, nhưng cần phải cảnh báo về tính hệ trọng của hành động đó. Rằng chỉ cần một hành vi thôi cũng có thể thay đổi cả cuộc đời của mình. Rằng nếu bị bắt giam thì rất dễ bị chủ đuổi việc, và càng khó xin việc làm cán sự xã hội ở nơi khác vì hồ sơ cá nhân bị hoen ố. Và sau chót, Winnie đang có thai; tôi cảnh báo cô ta về những khó khăn vật chất và sỉ nhục trong nhà tù. Phản ứng của tôi có lẽ gay gắt, nhưng tôi cảm thấy có trách nhiệm của một người chồng lẫn của một lãnh đạo cho cuộc tranh đấu, phải phân tích hành động của Winnie cho thật rõ ràng. Bản thân tôi dấy lên những cảm xúc lẫn lộn, bởi những quan tâm của một người chồng và của một nhà lãnh đạo không luôn luôn trùng hợp.

    Nhưng Winnie là con người kiên định; tôi ngờ rằng phản ứng bi quan của tôi chỉ làm quyết tâm của cô tăng lên. Cô ta lắng nghe tất cả những gì tôi nói và cho tôi biết cô đã nhất định như thế. Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm lo dọn bữa ăn điểm tâm cho Winnie, rồi chúng tôi cùng lái xe đến nhà của Walter để gặp vợ anh ta, Albertina, vốn là một trong những người chỉ huy cuộc phản kháng. Tôi chở hai phụ nữ đến một trạm xe để từ đấy các bà đi xe buýt vào thành phố. Tôi ôm chặc Winnie trước khi cô ta lên đường. Winnie tỏ ra lo lắng nhưng cương quyết khi cô ta vẫy tay chào tôi từ trên xe, và tôi cảm thấy tuồng như Winnie vừa khởi hành cho một chuyến đi dài đầy nguy hiểm.

    Hàng trăm phụ nữ, già có trẻ có, cùng tụ lại ở văn phòng cấp giấy thông hành; họ ca hát, tuần hành, và hô khẩu hiệu. Trong phút chốc, tất cả bọn họ bị cảnh sát vũ trang bao vây, bắt giữ và nhét vào xe thùng chở về nhà giam. Tôi biết các tin tức này không phải vì tôi là chồng của một trong những người bị giam giữ nhưng vì văn phòng luật "Mandela và Tambo" được thỉnh cầu làm đại diện cho hầu hết các phụ nữ bị bắt. Tôi nhanh chóng đi đến nhà giam thăm các tù nhân và lo sắp xếp tiền thế chân; dĩ nhiên tôi phải gặp Winnie cho bằng được. Đến cuối ngày thứ nhì, con số người bị bắt tăng cao và gần hai ngàn phụ nữ bị tống giam, nhiều người phải chuyển về khám Pháo đài để chờ xử án. Việc này gây ra những vấn đề khủng khiếp không những cho Oliver và tôi, mà còn cho cảnh sát và nhà tù. Đơn giản là không có đủ chỗ, tiện nghi và tiếp liệu để giam tất cả những người bị bắt.

    Nhiều thành viên ANC, kể cả tôi, hăng hái lo đóng tiền thế chân cho các phụ nữ, nhưng Lilian Ngoyi (Chủ tịch Hội Phụ nữ ANC) và Helen Joseph (Thư ký của Liên đoàn Phụ nữ Nam Phi) tin rằng để cho cuộc phản kháng được đúng nghĩa và có hiệu quả, những người bị bắt nên trải qua thời gian trong tù theo lệnh của tòa án [hai phụ nữ này cũng tương tự như Mandela, đang đợi bị xử trong Vụ án Phản quốc]. Tôi bác bỏ ý kiến của họ nhưng được cho biết đấy là chuyện của phụ nữ và ANC cũng như các ông chồng đang nóng lòng không nên xen vào. Tôi bảo Lilian rằng tôi nghĩ bà ta nên bàn vấn đề ấy với các phụ nữ trước khi quyết định, và hộ tống bà ta đến tận các xà-lim để dò hỏi các tù nhân. Nhiều người muốn thoát khỏi tù ngay vì đã chưa được chuẩn bị đủ để đối phó với những gì xảy ra trong nhà giam. Để thỏa hiệp, tôi đề nghị với Lilian rằng các phụ nữ sẽ trải qua nửa tháng trong tù, và sau đó chúng tôi sẽ đóng tiền thế chân cho họ ra khỏi nhà giam. Lilian chấp nhận đề nghị ấy.

    Vụ án Phản quốc được thật sự xử bắt đầu vào Tháng Tám, 1958. Chính quyền thiết lập một tòa án cấp cao đặc biệt gồm 3 thẩm phán: Rumpff, Kennedy, và Ludorf; cả ba đều là người Da Trắng và có liên hệ mật thiết với đảng cầm quyền. Kenndy nổi tiếng là một "thẩm phán treo cổ" vì ông ta đã từng tuyên án tử hình một nhóm 23 người Phi vì tội giết hai cảnh sát viên Da Trắng. Nhà nước chơi một đòn tiểu xảo khó ưa với chúng tôi; họ loan báo rằng nơi xử án sẽ là Pretoria vốn ở cách Johannesburg 36 dặm. Phần lớn các bị cáo và nhóm luật sự biện hộ đều cư ngụ ở Johannesburg, vì thế chúng tôi bị buộc phải di hành hằng ngày đến Pretoria, và phải tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc hơn. Thay đổi chỗ xử án cũng là mưu toan đè bẹp tinh thần của chúng tôi bằng cách làm khó những người ủng hộ từ Johannesburg đến tham dự. Còn Pretoria là đất của Đảng Dân tộc, và ANC chẳng hề có mặt ở đó.

    [Một đoạn dài nói về các chi tiết chính của các phiên tòa xử Vụ án Phản quốc nhưng chưa đến hồi kết cuộc]

    http://vtc.vn/311-482130/quoc-te/duc-tang-trung-quoc-ban-do-khong-co-hoang-sa-truong-sa.htm

    Đức tặng Trung Quốc bản đồ không có Hoàng Sa, Trường Sa

    (VTC News) - Trong bữa tối ngày 28/3, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng ông Tập Cận Bình một tấm bản đồ cổ của Trung Quốc, biên giới chỉ đến đảo Hải Nam.

    » Triển lãm hàng trăm tư liệu quý về Hoàng Sa, Trường Sa
    » Trung Quốc lên kế hoạch đánh chiếm đảo Thị Tứ năm nay?

    Tấm bản đồ bà Merkel tặng ông Tập Cận Bình được vẽ vào năm 1735 bởi họa sĩ bản đồ người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville và được in tại Đức.

    Theo chú thích của các trang web chuyên về bản đồ cổ, tác phẩm được d'Anville vẽ dựa vào các cuộc khảo sát địa lý của những nhà truyền giáo Dòng Tên ở Trung Quốc. Nó được gọi là đại diện của 'tổng hợp kiến thức châu Âu về Trung Quốc trong thế kỷ 18".

    Trong tấm bản đồ, với chú thích bằng chữ Latin có nghĩa là 'Trung Quốc chuẩn' cho thấy chủ yếu là vùng dân cư người Hán, không có Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ hay Mãn Châu. Biên giới phía Nam kéo dài đến sát đảo Hải Nam.

    Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng màu biến giới khác so với phần đại lục. Tất nhiên, Hoàng Sa và Trường Sa không thể xuất hiện trong tấm bản đồ 'Trung Quốc chuẩn' này.

    Theo Foreign Policy, bản đồ lịch sử là một chủ đề nhạy cảm ở Trung Quốc, các học sinh được dạy Tây Tạng, Tân Cương, Đài Loan và Điếu Ngư là một 'phần không thể tách rời của đại lục từ thời cổ đại'. Tuy nhiên, tấm bản đồ bà Merkel tặng ông Tập Cận Bình đã phủ nhận hoàn toàn điều đó.

    Tạp chí Foreign Policy cũng nhận xét rằng không có gì ngạc nhiên khi các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc không đánh giá cao món quà này.

    Thậm chí, Foreign Policy còn nói 'một tấm bản đồ khác' đã được thay thế khi xuất hiện trên truyền thông Trung Quốc khi nói về chuyến thăm châu Âu của Chủ tịch Tập Cận Bình.

    Tấm bản đồ được đưa lên truyền hình, theo Foreign Policy là thể hiện Trung Quốc ở thời kỳ 'đỉnh cao về lãnh thổ', bao gồm cả Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ và nhiều vùng rộng lớn ở Siberia.

    Đây là tác phẩm của họa sĩ bản đồ người Anh John Dower, xuất bản năm 1844 tại London và chắc chắn không phải làm món quà bà Merkel tặng ông Tập, tạp chí Foreign Policy khẳng định. Tuy nhiên, 'sai sót' này không được giải thích hay thừa nhận trên các bản tin của truyền thông Trung Quốc.

    Tuy nhiên trên các mạng xã hội Trung Quốc lại có thông tin về cả hai bản đồ này. Với bản đồ d'Anville, cư dân mạng Trung Quốc giận dữ với món quà bà Merkel tặng, cho rằng đó là "món quà vụng về", hoặc "Đức chắc có động cơ thầm kín", hay đi xa hơn là cáo buộc bà Merkel muốn hợp pháp hóa các phong trào đòi độc lập của Tây Tạng, Tân Cương.

    Trong khi đó, bản đồ Dower lại được đón chào hơn, và có người còn tự hào về lãnh thổ cũng như quyền lực to lớn của đế quốc Trung Hoa trước đây.

    Tuy nhiên nhiều người cũng tự vẽ ra những lời 'nhắc nhở' mà bà Merkel muốn gửi đến ông Tập thông qua 'món quà khó xử lý' này.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC (đoạn 5)

    Tháng Tư 1959, một tổ chức mới được ra đời với ý định cạnh tranh cùng ANC giành vị trí là tổ chức chính trị hàng đầu ở Nam Phi trong việc tiến đến mục đích khước từ sự thống trị của người Da Trắng. Với vài trăm đại biểu đến từ khắp nơi trong nước, "Đại hội Toàn thể người theo Chủ nghĩa Phi" (Pan Africanist Congress - PAC) bắt đầu chính thức hành động theo nguyên tắc trái ngược với ANC vốn chủ trương đa chủng tộc. Tương tự như một số chúng tôi đã thành hình Đoàn Thanh niên trước đây 15 năm, các nhà sáng lập của tổ chức mới này cho rằng ANC không mang tính chiến đấu đầy đủ, xa rời quần chúng, và bị nhóm "không phải người Phi" khống chế.

    Robert Subukwe được bầu chức Chủ tịch và Potlako Leballo làm Thư ký toàn quốc, cả hai đều là cựu thành viên của Đoàn Thanh niên ANC. Cùng với diễn văn mở đầu của Sobukwe, PAC đưa ra một tuyên ngôn và một hiến chương, cổ vũ cho một "chính quyền của dân Phi, do dân Phi, và vì dân Phi". PAC tuyên bố họ dự tính lật đổ quyền tối thượng của người Da Trắng và thiết lập một chính quyền có nguồn gốc chủ nghĩa Phi, nội dung chủ nghĩa xã hội, và hình thức dân chủ. Họ bác bỏ chủ nghĩa cộng sản ở mọi dạng thức, và xem người Da Trắng cũng như Ấn độ là "những nhóm thiểu số ngoại lai". Nam Phi chỉ được dành cho người Phi, và không ai khác.

    Sự hình thành của PAC không làm chúng tôi ngạc nhiên vì những thành viên ANC theo Chủ nghĩa Phi đã từng lớn tiếng gióng lên mối bất bình từ hơn ba năm qua. Họ đã kêu gọi bỏ phiếu bất tín nhiệm ủy ban điều hành nhưng bị thất bại; họ đã phản đối chiến dịch quấy rối cuộc bầu cử năm 1958; và người lãnh đạo của họ, Potlako Leballo đã bị trục xuất khỏi ANC. Họ cũng đã tuyên bố chống lại bản Hiến chương Tự do vì cho rằng nó vi phạm các nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc Phi.

    PAC tự nhận họ lấy cảm hứng từ những nguyên tắc của các nhà sáng lập tổ chức ANC năm 1912, và quan điểm của họ phần chính xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc Phi đầy cảm tính do Anton Lembede và A.P. Mda đề ra khi sáng lập Đoàn Thanh niên ANC năm 1944. Nhưng lý do trực tiếp khiến họ ly khai là việc phản đối bản Hiến chương Tự do và sự tham gia của những người Da Trắng và Ấn độ trong giới lãnh đạo Liên minh các Đại hội. Họ chống đối hợp tác giữa các chủng tộc, một phần lớn vì tin rằng những người Da Trắng thiên tả và người Ấn độ đã gia nhập vào để thống trị ANC.

    Tôi biết rõ những người lãnh đạo của PAC. Robert Sobukwe là một người bạn cũ, một học giả ai cũng biết tiếng, và được các đồng nghiệp gọi là Giáo sư. Tôi luôn kính trọng lòng tự nguyện kiên trì của anh ta sẵn sàng trả giá cho các nguyên tắc của mình. Potlako Leballo và vài người khác cũng đều là bạn hữu và đồng nghiệp. Tôi rất ngạc nhiên và xuống tinh thần một chút khi biết người đã từng hướng dẫn tôi về chính trị, anh Gaur Radebe, cũng gia nhập PAC. Tôi cảm thấy thật kỳ lạ vì một cựu thành viên của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản giờ đây đi theo đường lối của một tổ chức ra mặt chối bỏ Chủ thuyết Marx.

    Nhiều người theo PAC vì mối hận thù hoặc bất mãn cá nhân, và họ nghĩ đến việc trả thù hoặc cảm xúc do ganh tị, thay vì đến sự lớn mạnh của công cuộc đấu tranh. Tôi luôn tin rằng là một chiến sĩ cho tự do thì phải gạt bỏ bất kỳ cảm xúc cá nhân nào vốn gây ra cho mình cảm giác như một cá nhân cách biệt thay vì một phần tử của phong trào quần chúng. Ai dấn thân tranh đấu thì làm việc ấy để giải phóng cho hàng triệu người, chứ không phải vì vinh quang của một cá nhân nào. Tôi không đề nghị rằng một người phải trở thành con người máy, phải loại bỏ tất cả mọi cảm xúc và động lực cá nhân. Nhưng cùng theo một cách người chiến sĩ cho tự do hạ thấp gia đình của chính mình nhằm đem lợi ích đến gia đình của nhân dân, thì người ấy phải hạ thấp cảm xúc của mình để đem sức mạnh đến cho phong trào đấu tranh.

    PAC đề ra một chương trình ngoạn mục và quá tham vọng, hứa hẹn những giải pháp nhanh chóng. Lời hứa ngoạn mục -và ngây thơ- nhất của họ là cuộc giải phóng sẽ đạt được trong vòng ba năm, và họ thúc giục dân Phi sẵn sàng cho giờ phút lịch sử ấy. Mặc dù lời tiên đoán này đem cảm hứng, hy vọng, và nhiệt thành đến những ai đang mệt mỏi vì đợi chờ, đó luôn là sự nguy hiểm cho một tổ chức khi hứa hẹn những điều không thể thành hiện thực.

    Bởi vì PAC chống cộng sản nên họ trở thành người thân yêu của giới truyền thông Phương Tây và Bộ Ngoại giao Mỹ. Thậm chí Đảng Dân tộc thấy đó là tiềm năng cho một liên minh với PAC: họ xem PAC như sự phản ánh của chính sách chống cộng của họ, và như sự ủng hộ các quan điểm của họ theo một hướng đi khác. Đảng Dân tộc cũng chối bỏ sự hợp tác giữa các chủng tộc, và họ cùng với Bộ Ngoại giao Mỹ thấy sự phù hợp để thổi phồng kích thước và tầm quan trọng của PAC.

    Dù chúng tôi chào mừng bất cứ ai được PAC chiêu mộ vào công cuộc đấu tranh, nhưng vai trò của tổ chức này hầu như luôn luôn là kẻ phá thối. Họ gây phân chia trong quần chúng vào những thời điểm nghiêm trọng, và điều này rất khó quên. Họ yêu cầu dân chúng đi làm việc khi chúng tôi kêu gọi tổng đình công; họ đưa ra những lời phát biểu lệch lạc để đi ngược lại bất kỳ những gì chúng tôi công bố. Tuy nhiên PAC gây hy vọng trong tôi rằng mặc dù các nhà sáng lập PAC là những người ly khai khỏi ANC, sự đoàn kết giữa hai nhóm vẫn có thể thành hiện thực. Tôi nghĩ rằng một khi cuộc luận chiến nóng bỏng trở nên nguội dần, những điểm chung cốt yếu của công cuộc đấu tranh sẽ mang chúng tôi lại gần với nhau. Phấn khởi do những niềm tin ấy, tôi đặc biệt chú ý đến những phát biểu và hoạt động của PAC, với ý định tìm ra những đồng cảm chứ không phải sự khác biệt.

    Hôm sau ngày hội nghị khánh thành của PAC, tôi đến gặp Sobukwe xin một bản diễn văn của anh ta trong vai trò chủ tịch, cũng như bản hiến chương và các tài liệu về chính sách. Subukwe có vẻ hài lòng với sự quan tâm của tôi và nói sẽ bảo đảm để lời yêu cầu của tôi được thỏa mãn. Khi gặp lại anh ta chẳng bao lâu sau, tôi nhắc đến lời yêu cầu hôm trước, và anh ta nói các tài liệu đã được gởi đi. Sau đó tôi gặp Leballo và nói "Ôi, mấy đứa tụi bây cứ hứa gởi tài liệu, nhưng chưa ai đưa cho tao hết!" Anh ta nói, "Nelson, bọn tao quyết định không gởi tài liệu vì biết mày chỉ muốn dùng nó để tấn công bọn tao". Tôi giải thích cho anh ta tỉnh ngộ khỏi ý tưởng này và anh ta trở nên thông cảm, đưa cho tôi những gì tôi cố tìm.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO (tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần I. THỜI NIÊN THIẾU Ở QUÊ NHÀ

    Tôi sinh ra trong hoàng tộc của dân Thembu và được đặt tên Rolihlahla vốn có nghĩa "kẻ gây rối". Tôi không tin rằng tên họ là định mệnh hay rằng cha tôi đã chọn sẵn tương lai cho tôi, nhưng những năm về sau nhiều người nối kết cái tên khai sinh ấy với những bão tố mà tôi đã gây ra. Còn tên tiếng Anh Nelson được đặt cho tôi ngày đầu tiên tôi đi học.

    Tôi sinh năm 1918, đó là năm kết thúc Thế Chiến I và một phái đoàn của ANC (African National Congress - Đại hội Toàn quốc Phi) đến viếng hội nghị hòa bình Versailles để gióng lên tiếng kêu thống thiết của dân chúng Phi ở Nam Phi.

    [Một đoạn khá dài nói về thời thơ ấu của Mandela, với những thú vui, sinh hoạt hàng ngày với cha mẹ, anh chị em, bạn bè và láng giềng. Cũng nói về văn hóa của người Phi về mặt cá nhân, gia đình và cộng đồng. Thân phụ của Mandela là một Tù trưởng do huyết thống và phong tục (và cũng làm cố vấn cho Hoàng gia) được vị Vua xác nhận nhưng cũng phải được chính quyền Anh phê chuẩn. Cha của Mandela có một lúc bốn bà vợ; mẹ của ông là bà thứ ba, còn được gọi là "Vợ bên Tay Phải", bà này có bốn con gồm Mandela là con trai lớn và ba con gái nhỏ hơn. Về sau thân phụ ông bị người Da Trắng trừng phạt mà không qua xét xử do tội bất tuân lệnh nên mất chức vụ Tù trưởng và mất cả tài sản, phải đem vợ con về thôn quê sống trong cảnh nghèo khó]

    Sau cái chết của cha vì bệnh phổi vào năm tôi lên chín tuổi, tôi được vị Quan Nhiếp chánh (Ngài Jongintaba vốn chịu ơn của cha tôi tiến cử khi ông làm cố vấn cho Hoàng gia) nhận làm giám hộ và nuôi ăn học. Tôi được đối xử bình đẳng với con ruột của ông tên Justice mà tôi xem như người anh. Sống ở vùng thị trấn, tôi có cơ hội quan sát và học hỏi từ vị Nhiếp chánh về cách làm việc và giao tế với dân chúng cũng như với các vị chức sắc. Tôi cũng được tiếp xúc với Giáo hội Methodist và đi lễ nhà thờ đều đặn (dù khi ở quê nhà tôi đã từng đến nhà thờ có một lần duy nhất để làm lễ theo đạo - baptized). Và về sau tôi đi dạy Thánh Kinh hàng tuần ở những ngôi làng kế cận trường học. Một chủ đề mà tôi bắt đầu chú tâm đến là lịch sử của người Phi, với những vị anh hùng trong suốt cả một thế kỷ phản kháng lại sự đô hộ của người Phương Tây, một số trong họ bị chính quyền Anh hạ ngục cho đến chết.

    Cha tôi là người thất học (nhưng ăn nói rất giỏi) tuy nhiên ông hiểu giá trị của giáo dục, và ông đã tiến cử vị Nhiếp chánh vì ông này có học vấn cao. Theo ý nguyện của cha tôi và khuynh hướng của vị Nhiếp chánh, khi tôi đến tuổi trưởng thành, vị này cho tôi tiếp tục lên học những trường cao đẳng và đại học của đạo Cơ Đốc để sau này làm cố vấn cho vị Chánh Vương thay vì phải ở nhà đi phu hầm mỏ cho người Da Trắng. Mặc dù một người bạn ở khóa đàn anh (thật ra là cháu của tôi theo thứ bậc của bộ lạc, tên K.D. Matanzima mà tôi xem như bậc thầy) khuyên tôi nên học Luật, nhưng tôi chọn ngành Thông dịch ngôn ngữ.

    [Môt đoạn khá dài nói về đời sống và sinh hoạt trong trường học và nhà nội trú]

    Ở các trường, học sinh được dạy - và chúng tôi cũng tin tưởng - rằng những ý tưởng Anh là hạng nhất, chính quyền Anh là hạng nhất, và người Anh là hạng nhất.

    Vào một kỳ nghĩ lễ, tôi mời bạn học Paul Mahabane cùng về quê tôi chơi. Paul nổi danh ở trường học (và được gán là tên nổi loạn) vì cha của anh đã hai lần làm Chủ tịch của ANC mà tôi vẫn còn biết rất ít về tổ chức này. Khi chúng tôi đang đứng trước nhà bưu điện thì một vị quan hành chánh địa phương người Da Trắng bước đến gần Paul và yêu cầu anh đi vào mua cho ông một ít tem thư. Những chuyện như vậy hay xảy ra: người Da Trắng thường sai bảo người Da Đen làm cho một việc gì đấy. Vị quan đưa cho Paul một ít tiền lẻ nhưng Paul không nhận. Vị quan mặt đỏ gay bực tức hỏi "Anh có biết tôi là ai không?". Paul trả lời "Không cần biết ông là ai. Nhưng tôi biết ông là gì." Vị quan hỏi Paul rằng chính xác anh ta có ý nói gì. Paul nói một cách ghét bỏ "Tôi biết ông là một tên ăn xin". Vị quan nổi nóng và xổ ra "Anh sẽ trả giá xứng đáng cho việc này" và rồi bỏ đi.

    Tôi cảm thấy cực kỳ không thoải mái về cách ứng xử của Paul. Tôi trọng sự can đảm của anh, nhưng tôi cũng thấy nó gây phiền toái. Vị quan đã biết rõ ràng tôi là ai [vì địa phưong này là quê của Mandela] và tôi biết rằng nếu ông ta đã yêu cầu tôi thay vì Paul, thì tôi đã đơn giản đi vào mua tem thư cho ông và rồi quên đi chuyện này. Nhưng tôi thán phục Paul vì chuyện anh đã làm, mặc dù tôi chưa sẵn sàng tự mình làm theo cách ấy. Tôi bắt đầu nhận thức rằng một người Da Đen không buộc phải chấp nhận hàng chục những cách sỉ nhục nhắm vào mình mỗi ngày.

    Sau kỳ nghỉ lễ, tôi trở về trường vào đầu năm trong cảm giác mạnh mẽ và phấn chấn. Tôi tập chú vào việc học, nhắm vào các bài khảo sát vào cuối năm; và tôi tưởng tượng mình sẽ lấy được tấm bằng Cử nhân. Chúng tôi cứ được ông Hiệu trưởng và các thầy nhắc nhở cho rằng khi tốt nghiệp từ Fort Hare chúng tôi sẽ là giới tinh hoa của dân Phi. Tôi tin rằng cấp bằng đại học sẽ là cái hộ chiếu cho phép đi đến không những vị trí lãnh đạo cộng đồng mà còn cả sự thành công tài chánh nữa. Với bằng Cử nhân, sau cùng tôi có thể phục hồi cho mẹ tôi những tài sản và danh giá đã mất sau khi cha tôi qua đời. Tôi sẽ giúp mẹ và các em gái đủ sức mua sắm những thứ mà họ thiếu thốn đã lâu. Đấy là giấc mơ của tôi và nó có vẻ ở trong tầm tay.

    Một chuyện nữa, tôi được đề nghị ứng cử vào Ban Đại diện Sinh viên trường Đại học Fort Hare, và lúc ấy tôi không biết những sự cố liên quan đến cuộc bầu cử của sinh viên sẽ gây khó khăn và thay đổi cuộc đời của tôi. Theo hiến chương của trường, tập thể sinh viên sẽ bầu ra sáu thành viên của Ban Đại diện. Trước cuộc bầu cử, một buổi họp cho tất cả sinh viên được tổ chức để bàn thảo về những vấn đề và gióng lên lời than phiền. Mọi người đều cảm thấy rằng thức ăn ở trường quá tồi và rằng quyền hạn của Ban Đại diện cần được nâng lên nhằm xóa bỏ vị thế bù nhìn chỉ để đóng dấu thuận cho những quyết định của ban Giám hiệu. Tôi đồng ý với cả hai việc và cùng biểu quyết với đa số sinh viên sẽ tẩy chay cuộc bầu cử, trừ khi nhà trường chấp nhận sự đòi hỏi của chúng tôi.

    Chẳng bao lâu sau buổi họp ấy, cuộc bỏ phiếu diễn ra theo lịch trình [có lẽ vì ít thời gian nên không có tranh đấu qua lại với Ban Giám hiệu]. Đa số sinh viên tẩy chay bầu cử, ngoại trừ 25 người (khoảng 1/6 tổng số sinh viên) bầu cho sáu đại diện mà tôi là một. Cùng ngày, sáu đại diện được bầu ấy gặp nhau để bàn thảo về các sự cố. Chúng tôi cùng quyết định từ chức căn cứ trên việc chúng tôi ủng hộ cuộc tẩy chay và không được bầu bởi đa số sinh viên. Chúng tôi thảo một bức thư và mang đến vị Hiệu trưởng là Tiến sĩ Kerr.

    Nhưng vị Hiệu trưởng rất khôn ngoan. Ông ta chấp nhận việc chúng tôi từ chức và rồi ra thông báo rằng một cuộc bầu cử mới sẽ được tổ chức vào ngày kế tiếp trong nhà ăn vào buổi ăn tối. Làm thế có lẽ sẽ bảo đảm đông đủ sinh viên hiện diện và không có lý do để nói rằng Ban Đại diện mới chẳng được đa số ủng hộ. Cuộc bầu cử thứ nhì này diễn ra, nhưng cũng chỉ cùng 25 sinh viên ấy bầu cho cùng sáu đại diện đã từ chức. Kết quả lại trở về chỗ cũ.

    Lúc này, sáu người chúng tôi họp với nhau để xét lại vị thế của mình, nhưng việc biểu quyết lại khác với khi trước. Năm thành viên kia cho rằng chúng tôi được bầu trong khi mọi sinh viên có mặt và như thế không còn có thể cãi bướng chúng tôi không đại diện cho cả tập thể. Năm người ấy tin tưởng bây giờ chúng tôi nên chấp nhận chức vụ.

    Tôi phản đối rằng thật ra không có gì thay đổi; dù tất cả sinh viên có mặt ở cuộc bầu cử, nhưng đa số sinh viên đã không bầu, và thật không đúng về đạo đức khi cho rằng chúng tôi được họ ủy quyền đại diện. Bởi mục tiêu nguyên thủy của chúng tôi là tẩy chay cuộc bầu cử [để tranh đấu cho những đòi hỏi], việc này đã được mọi người thỏa thuận cho nên bổn phận của chúng tôi vẫn phải đi theo quyết nghị ấy, và không để bị ông Hiệu trưởng răn đe bằng những tiểu xảo. Vì không thể thuyết phục năm thành viên kia, tôi từ chức lần thứ nhì, và tôi đơn độc làm việc này.

    Ngày kế, vị Hiệu trưởng cho gọi tôi đến. Ông ta trầm tĩnh xem lại những sự cố trong mấy ngày qua và rồi yêu cầu tôi xét lại quyết định từ chức. Tôi bảo ông ta rằng tôi không thể làm vậy. Ông ta bảo tôi về suy nghĩ và ngày mai cho ông biết quyết định sau cùng. Tuy nhiên ông cũng cảnh cáo tôi rằng ông ta không cho phép học sinh của mình ứng xử vô trách nhiệm, và rằng nếu tôi nằng nặc từ chức thì ông ta buộc phải đuổi tôi khỏi trường đại học Fort Hare.

    Lời ông Hiệu trưởng làm tôi hoảng hốt và trải qua một đêm không yên giấc. Tôi đã chưa từng làm một quyết định có thể mang mang lại nhiều hệ lụy như thế. Tôi hỏi ý kiến người bạn ở khóa đàn anh; anh K.D. cảm thấy về mặt nguyên tắc tôi làm đúng khi chọn từ chức và không nên đầu hàng. Lúc ấy tôi cảm thấy sợ anh K.D. còn hơn là sợ ông Hiệu trưởng. Tôi cám ơn K.D. và trở về phòng của mình.

    Mặc dù tôi nghĩ mình đang làm phải lẽ về đạo đức, nhưng tôi vẫn không chắc như thế có phải là con đường đúng. Phải chăng tôi đang phá hỏng con đường học vấn của mình chỉ vì một nguyên tắc đạo đức trừu tượng không mấy quan trọng? Tôi cảm thấy khó nuốt cái ý tưởng rằng tôi sẽ hy sinh điều tôi xem là sự bó buộc với các sinh viên - cho những quyền lợi ích kỷ của chính mình. Cùng một lúc, tôi cũng không muốn ném bỏ con đường học vấn của mình ở Fort Hare.

    Sáng hôm sau, khi đến văn phòng Hiệu trưởng, tôi còn ở trong trạng thái lơ mơ. Chỉ khi ông hỏi tôi đã quyết định chưa thì tôi mới xác nhận vị thế. Tôi bảo ông rằng với lương tâm tốt tôi không thể phục vụ trong Ban Đại diện Sinh viên. Ông Hiệu trưởng suy nghĩ một chút rồi nói "Tốt lắm. Dĩ nhiên đó là quyết định của ông. Nhưng tôi cũng đưa vào vấn đề một ý nghĩ, và tôi đề nghị điều này: ông có thể trở lại trường Fort Hare vào năm tới miễn là ông sẽ tham gia vào Ban Đại diện Sinh viên. Ông có cả một mùa Hè để xem xét đề nghị này, thưa ông Mandela.".

    Theo một cách nào đó, phản ứng của tôi đã làm ngạc nhiên bản thân mình và cả ông Hiệu trưởng. Tôi biết rằng rời bỏ Fort Hare là điều thiếu khôn ngoan cho tôi, nhưng lúc ấy tôi cần sự cân bằng, và đơn giản tôi không thể làm như ông Hiệu trưởng đề nghị. Điều gì đó trong lòng đã không cho phép tôi. Tôi công nhận vị thế của ông Hiệu trưởng và sự sẵn lòng cho tôi một cơ hội khác, nhưng tôi căm giận cái quyền lực tuyệt đối của ông trên số phận của bản thân tôi. Đáng lẽ tôi nên có mọi quyền để từ chức khỏi Ban Đại diện nếu muốn.

    Sau kỳ thi cuối năm học, tôi trở về nhà và cho vị Nhiếp chánh biết những gì đã xảy ra. Ông ta giận dữ cực độ, không thể hiểu được những lý do mà tôi đã hành động. Không cần nghe tôi giải thích tường tận, ông nói như ra lệnh rằng tôi phải theo lời vị Hiệu trưởng và trở về trường học vào mùa Thu tới. Thiết nghĩ tranh cãi với ân nhân của mình là bất kính mà cũng không ích gì nên tôi định để cho vấn đề lắng chìm trong một thời gian.

    Cũng trong mùa Hè này, vị Nhiếp chánh xếp đặt sẵn mai mối rồi sẽ làm đám cưới cho anh nuôi Justice và tôi mỗi người một cô vợ. Cả hai cô đều xinh đẹp trong những gia đình danh giá. Chẳng may cô gái được vị Nhiếp chánh chọn làm vợ tôi lại là người yêu của anh Justice mà ông không biết! Hai anh em bàn với nhau và đồng ý về tình trạng tiến thoái lưỡng nan, lấy vợ như thế không được mà chống lại ý của vị Nhiếp chánh cũng không xong. Cả hai cùng quyết định giải pháp bỏ nhà ra đi và nơi duy nhất có thể đến được là thành phố Johannesburg.

    [Một đoạn khá dài kể chuyện hai anh em lén đem bán hai con bò lấy tiền làm lộ phí; và nói về những khó khăn khi người Da Đen di chuyển từ địa phương này sang nơi khác, bị đòi hỏi những giấy tờ như hộ chiếu, chúng nhận đóng thuế, giấy giới thiệu, v.v. mà hai người không có]

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO (tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần II. Thành phố JOHANNESBURG

    [Một đoạn dài giới thiệu thành phố lớn Johannesburg xây dựng nên và sinh hoạt nhờ những mỏ vàng. Cũng nói về chuyện hai anh em Justice và Nelson tìm được công việc trong một công ty khai thác vàng nhưng rồi bị đuổi bởi vị Nhiếp chánh biết hai người làm ở đây và lộ ra vụ họ đã gian dối khi xin việc]

    Và rồi qua sự giới thiệu dây chuyền, nhất là nhờ ông Walter Sisulu -một chuyên gia địa ốc và lãnh đạo cộng đồng địa phương- tôi tìm được công việc thư ký cho một văn phòng luật sư của người Do Thái. Họ chỉ định tôi ngồi làm chung phòng với một nhân viên thư ký Da Đen khác tên Gaur Radebe. Một luật sư Do Thái ở đây, ông Sidelsky, rất thiện cảm với cộng đồng người Da Đen và giúp đẩy mạnh nền giáo dục cho người bản xứ. Ông ta thường nói chỉ có giáo dục quần chúng sẽ giải phóng con người, và lý luận rằng một người có giáo dục không thể bị đàn áp bởi người ấy có thể suy nghĩ độc lập. Ông ta cứ bảo tôi rằng con đường đáng giá nhất để tôi theo đuổi là trở thành một luật sư thành công và từ đó sẽ là một gương mẫu về sự thành đạt cho dân tôi. Tôi cố gắng hoàn tất văn bằng Cử nhân rồi theo học luật vào ban đêm theo cách hàm thụ qua trường Đại học Nam Phi UNISA.

    Tôi được ông Sidelsky chiếu cố tận tình; ông chỉ dạy cho tôi trong công việc làm, giải thích vì sao phải thế này, thế kia và như vậy với mục đích gì. Ông ta là một thầy giáo kiên nhẫn và rộng lượng, giảng giải không chỉ những chi tiết của các điều luật mà còn về triết lý đã tạo ra chúng. Quan điểm của ông về luật rất rộng rãi bởi ông tin rằng luật là một công cụ có thể được dùng trong việc thay đổi xã hội. Nhưng ông cảnh báo tôi về chính trị, cho rằng chính trị tiết ra những điều xấu nhất của con người. Nó là nguồn gốc của rối loạn và tha hóa, và nên được xa lánh bằng mọi giá. Ông ta vẽ ra một bức tranh kinh khiếp với những gì có thể xảy ra cho tôi nếu tôi đi vào con đường chính trị, và cố vấn tôi nên tránh những người ông ta xếp vào loại "kẻ gây rối", cụ thể là Walter và Gaur.

    Quả thật Gaur là "kẻ gây rối" và rất có ảnh hưởng đối với cộng đồng người Da Đen trong cách mà ông Sidelsky không biết đến. Chẳng bao lâu sau, tôi tìm hiểu được Gaur là một thành viên nổi bật của cả ANC lẫn Đảng Cộng sản. Gaur không nịnh bợ giới chủ nhân và thường phản đối họ về cách đối xử với người Da Đen.

    Gaur tiêu biểu cho một người không có bằng Cử nhân nhưng tỏ ra trình độ giáo dục cao hơn nhiều so với những anh chàng tốt nghiệp trường Fort Hare với bằng cấp sáng chói. Anh ta không những hiểu biết nhiều mà còn tự tin và dám làm. Mặc dù tôi định lấy cho xong bằng Cử nhân rồi xin vào trường Luật, nhưng tôi học từ Gaur rằng bằng cấp tự nó không bảo đảm cho tài lãnh đạo của một người và nó chỉ vô nghĩa trừ khi người ấy đi ra làm việc với cộng đồng và chứng tỏ bản thân mình cho công chúng biết.

    Một người thư ký nữa trong văn phòng luật, Nat Bregman trạc tuổi với tôi, và anh trở thành người bạn Da Trắng đầu tiên của tôi. Vào một buổi ăn trưa, Nat lôi ra gói bánh mì, anh lấy ra một chiếc rồi nói "Nelson, hãy cầm lấy đầu kia của chiếc bánh". Tôi không chắc vì sao anh ta muốn tôi như thế, nhưng tôi đang thấy đói, và quyết định làm theo yêu cầu. Rồi anh ta nói "Bây giờ, hãy kéo ra". Tôi làm theo lời và chiếc bánh đứt làm hai. Anh ta tiếp "Bây giờ, anh ăn đi". Trong khi tôi đang nhai, Nat bảo "Nelson, những gì chúng ta vừa mới làm là biểu tượng cho triết lý của Đảng Cộng sản: đó là chia xẻ mọi thứ ta có".

    Nat cho tôi biết anh là một thành viên của đảng ấy và giải thích những nguyên tắc mà Đảng Cộng sản ủng hộ. Tôi biết Gaur là một thành viên của đảng ấy, nhưng anh ta chưa bao giờ thúc giục như thế. Tôi lắng nghe Nat hôm ấy và vào nhiều dịp khác về sau, khi anh ta biện hộ cho những chính nghĩa của chủ thuyết cộng sản và cố gắng thuyết phục tôi gia nhập đảng. Tôi không có khuynh hướng tham gia vào bất cứ tổ chức chính trị nào, bởi lời khuyên của ông Sidelsky vẫn còn vang trong tai. Tôi cũng là con người sùng đạo, và chủ trương của cộng sản về vô tôn giáo làm cho tôi lẫn tránh lời đề nghị ấy.

    Tôi thích làm bạn với Nat và chúng tôi thường cùng nhau đi viếng nhiều nơi, kể cả những buổi diễn thuyết của Đảng Cộng sản; tôi đến đấy chủ yếu vì sự tò mò trí thức. Tôi đang trở nên ý thức đến lịch sử của sự áp bức chủng tộc ở nước tôi, và nhận thấy sự đấu tranh ở Nam Phi là thuần túy về chủng tộc. Nhưng Đảng Cộng sản nhìn những vấn đề của Nam Phi qua lăng kính của đấu tranh giai cấp; đối với họ, đấy là chuyện giới tư sản áp bức giới vô sản. Quan điểm này khêu gợi thật nhưng có vẻ không thích đáng vói Nam Phi thời ấy, dù nó có thể đúng cho vài nước khác như Nga, Đức và Anh. Mặc dù vậy, tôi vẫn lắng nghe và học hỏi.

    [Một đoạn khá dài nói về vùng Alexandra, ngoại ô của Johannesburg, một khu ổ chuột đông đúc, nghèo và dơ dáy của người Da Đen, ban đêm không có cả ánh đèn điện. Đó là nơi Mandela cư ngụ một thời gian không lâu nhưng ông rất yêu mến với nhiều kỷ niệm]

    Ở khu đó trong năm đầu tiên tôi biết về sự nghèo khổ nhiều hơn tôi đã từng trải cả thời niên thiếu. Tôi không bao giờ mang vẻ có nhiều tiền và tôi xoay xở để sống còn bằng những nguồn lợi rất đạm bạc. Tiền lương do văn phòng luật trả không giúp tôi đủ trang trải cho cuộc sống, vì tôi phải chi tiêu vào những thứ đắt đỏ như thuê phòng trọ, đi làm việc bằng xe buýt, trả học phí cho trường hàm thụ. Và dĩ nhiên phải có thực phẩm. Và đèn cầy để đọc sách ban đêm. Tôi không đủ khả năng mua một chiếc đèn dầu.

    Tính ra tôi bị thiếu một ít mỗi tháng. Nhiều ngày đi làm tôi phải cuốc bộ sáu dặm vào thành phố và sáu dặm về nhà để tiết kiệm tiền xe buýt. Tôi thường trải qua những ngày với một nhúm thức ăn, và không đổi quần áo. Ông Sidelsky, người cao cỡ như tôi, đã cho tôi một bộ đồ vét cũ của ông. Sau khi đã khâu và vá khá nhiều, tôi bận bộ đồ đó mỗi ngày trong suốt năm năm trời.

    [Một đoạn nói về những tủi nhục của Mandela vì sự nghèo khó, khi đụng chạm với những người khác ăn mặc bảnh bao, khi phải nhờ vả người quen vì những bữa ăn đàng hoàng. Và cũng nói về những mối tình lon con, lẩm cẩm của ông]

    [Một đoạn kể việc vị Nhiếp chính, cha nuôi của Nelson Mandela, đến thăm Johannesburg và gặp Justice cùng Nelson. Với Nelson ông không nhắc gì đến chuyện cũ mà chỉ hỏi thăm về chuyện học hành và dự tính tương lai. Với Justice ông lại rất bực tức và muốn anh ta phải trở về quê, nhưng Justice không chịu tuân theo. Chẳng bao lâu sau vị Nhiếp chính qua đời; bức điện tín gởi cho hai người bị thất lạc; họ chỉ biết tin qua tờ báo địa phương; Justice và Nelson về quê dự lễ tang nhưng khi đến nhà thì đám tang đã xong xuôi. Rồi Nelson phải quay trở lại Johannesburg; còn Justice ở lại quê tiếp nối chức vụ của cha theo truyền thống]

    Vào cuối năm 1942 tôi đậu kỳ thi cuối cho bằng Cử nhân [không rõ ngành gì]; lúc bấy giờ tôi đã tiến lên hàng ngũ mà tôi từng xem là cao quý. Tôi rất hãnh diện mình đã thành đạt với tấm bằng Cử nhân, nhưng tôi cũng biết rằng bằng cấp tự nó không là một lá bùa hay một hộ chiếu cho sự thành công dễ dàng.

    Ỏ văn phòng luật, tôi trở nên gần gũi hơn với Gaur dù ông Sidelsky rất bực tức. Theo như Gaur lý luận, giáo dục là thiết yếu cho sự tiến bộ, nhưng anh ta chỉ ra rằng chưa một dân tộc hay quốc gia nào có thể tự giải phóng chỉ nhờ vào giáo dục mà thôi. Gaur nói "Giáo dục là hoàn toàn tốt và lành mạnh; nhưng nếu phải dựa vào giáo dục, chúng ta sẽ chờ cả ngàn năm cho nền tự do. Chúng ta nghèo, có ít thầy giáo và càng ít trường học hơn. Thậm chí chúng ta không có quyền giáo dục cho chính mình."

    Gaur tin tưởng vào việc đi tìm giải pháp thay vì tuôn ra lý thuyết. Anh ta xác định rằng đối với người Phi, bộ máy của sự thay đổi là ANC; chính sách của tổ chức này tỏ ra tốt nhất để đạt quyền lực ở Nam Phi. Hiến chương của ANC lên án sự kỳ thị chủng tộc, các vị chủ tịch đến từ các nhóm dân khác nhau, và nó ủng hộ mục tiêu của người Phi là trở thành những công dân thật sự của Nam Phi. Điều gây ấn tượng nhất cho tôi là sự tận tụy cao độ của Gaur trong cuộc tranh đấu cho tự do. Có vẻ anh ta không suy nghĩ về điều gì khác ngoài con đường cách mạng.

    Tôi cùng đi với Gaur đến những buổi họp của ANC. Tôi đến như một người quan sát chứ không phải để tham gia, bởi vì tôi không nghĩ rằng mình sẽ phát biểu. Tôi muốn tìm hiểu những vấn đề đang được tranh luận, đánh giá những quan điểm, và nhận ra trình độ của những nhân vật liên hệ. Các buổi họp rất sống động với tranh luận và bàn thảo về Quốc hội, luật cho thẻ căn cước, giá cả thuê mướn, giá vé xe buýt - bất kỳ những chủ đề nào ảnh hưởng đến Nam Phi.

    Năm 1943, tôi tuần hành cùng với Gaur và hàng chục ngàn người khác để ủng hộ dân Alexandra đang tẩy chay công ty xe buýt; họ đang chống đối việc nâng giá vé xe. Gaur là một trong các nhà lãnh đạo và tôi quan sát anh ta đang hành động. Chiến dịch này đã mang đến cho tôi một ảnh hưởng lớn; trong một cách chừng mực, tôi đã chuyển vai trò từ người quan sát và trở thành người tham gia và tôi nhận ra rằng tuần hành cùng với dân chúng có thể gây hồ hởi và cảm hứng. Và tôi cũng bị gây ấn tượng bởi sự hiệu quả của cuộc tẩy chay: sau chín ngày xe buýt chạy gió không hành khách, công ty buộc phải áp dụng trở lại giá cũ.

    Ở văn phòng luật, Gaur không phải là người duy nhất tôi để ý đến về quan điểm. Hans Muller, một chuyên viên địa ốc người Da Trắng và khách hàng của ông Sidelsky, đã thu hút tôi vào bàn luận. Ông ta là một tiêu biểu của giới thương gia vốn nhìn thế giới qua lăng kính "cung và cầu" và cho rằng mọi người đều đi tìm tài sản, tiền bạc vì chúng ngang bằng với hạnh phúc.

    William Smith, một người Da Màu làm việc trong ngành mua bán địa ốc, anh ta là thành viên kỳ cựu của ICU (Công đoàn của các Nhân viên Kỹ nghệ và Thương mãi), nhưng quan điểm của anh đã thay đổi rất nhiều. Anh ta bảo "Này Nelson, tôi đã từng tham gia chính trị khá lâu, và tôi hối tiếc từng phút của thời gian đó. Tôi đã phí những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời cho những nỗ lực vô ích vì ủng hộ những kẻ phù phiếm và ích kỷ vốn đặt quyền lợi riêng của họ lên trên quyền lợi của công chúng mà họ giả vờ phục vụ. Theo kinh nghiệm của tôi, chính trị không là gì ngoài cái thủ đoạn để ăn cắp tiền của giới nghèo."

    Ông Sidelsky không tham gia bàn luận với chúng tôi. Có vẻ ông cho rằng bàn luận chính trị cũng phí thì giờ gần giống như tham gia chính trị. Hết lần này đến lần khác, ông khuyên nhủ tôi hãy tránh khỏi chính trị.

    Tôi lắng nghe những người ấy và cân nhắc một cách cẩn thận các quan điểm của họ; tất cả các lý lẽ của họ đều có giá trị. Tôi đang nghiêng dần về sự can dự vào chính trị, nhưng tôi không biết nó sẽ là gì và làm cách nào; và tôi cứ chần chờ ở bên lề, không rõ mình sẽ phải làm việc gì.

    Đầu năm 1943, sau khi đậu kỳ thi thông qua Trường Đại học Nam Phi, tôi trở về Fort Hare dự lễ tốt nghiệp. Tôi phải vay mượn tiền của bạn bè để mua một bộ đồ vét đàng hoàng, cũng như mượn bộ áo chùng đen cho lễ ra trường. Người cháu của tôi, K.D. Matanzima, đã chở mẹ tôi và bà vợ góa của vị Nhiếp chánh đến dự lễ.

    Sau đó tôi về nhà anh K.D. trong vài ngày. Anh ta ta đã chọn con đường lãnh đạo theo truyền thống, và đang kế nghiệp trở thành người đứng đầu nơi quê hương của anh. Thời gian tôi ở đây, anh ta thúc giục tôi trở về quê phục vụ sau khi trở thành một luật sư. Anh ta nói "Tại sao anh lại trụ ở Johannesburg? Nơi đây người ta cần anh hơn ở đó."

    Đấy là một điểm hợp lý; bởi không có nhiều người Phi chuyên nghiệp ở quê tôi; và tôi bảo K.D rằng đề nghị của anh ta còn quá sớm. Nhưng từ trong tâm, tôi biết mình đang tiến về một sự ràng buộc khác hẳn. Qua tình bạn với Gaur và Walter, tôi đã bắt đầu thấy bổn phận của mình là phục vụ nhân dân Phi nói chung, chứ không phải chỉ cho một địa phương hay một bộ tộc riêng lẽ.

    Lễ ra trường ở Fort Hare mang lại cho tôi một khoảnh khắc cho hồi tưởng và suy tư. Điều đập vào tâm trí tôi mạnh nhất là sự tương phản giữa sự mặc định của tôi lúc trước và những kinh nghiệm thực tế của mình sau này. Tôi đã gạt bỏ điều giả định rằng người tốt nghiệp sẽ tự động trở thành lãnh đạo và rằng sự liên hệ của tôi với Hoàng gia Thembu bảo đảm cho tôi sự kính trọng. Một sự nghiệp thành công và mức lương bổng sung túc đã không còn là những mục tiêu sau cùng của tôi. Tôi nhận thấy mình bị lôi cuốn vào thế giới chính trị bỏi sự không hài lòng với những niềm tin cũ.

    Ở Johannesburg, tôi lao vào các lãnh vực mà tri giác phổ thông và kinh nghiệm thực tế được xem là quan trọng hơn trình độ học vấn cao. Thậm chí khi vừa đạt được tấm bằng, tôi nhận ra rằng khó có điều gì mình học ở nhà trường có vẻ thích đáng với môi trường mới. Ở trường, các thầy giáo tránh né những chủ đề như sự áp bức chủng tộc, tình trạng thiếu cơ hội cho người Phi cùng những luật lệ và quy định nhằm nô dịch người Da Đen. Nhưng trong cuộc sống ở Johannesburg, hàng ngày tôi đương đầu với những chuyện ấy. Không ai từng đề nghị tôi cách hành động nào để loại bỏ những xấu xa của thành kiến chủng tộc, và tôi phải học hỏi theo lối "thử làm và tìm lỗi".

    Khi trở lại Johannesburg, tôi nhập học trường đại học Witwatersrand (gọi tắt là Wits) để lấy bằng Cử nhân Luật, bước khởi đầu để trở thành một luật sư. Nơi đây tôi tiếp xúc với các sinh viên trạc tuổi mình người Da Trắng; chuyện này thật mới lạ cho họ cũng như cho tôi, bởi tôi là sinh viên người Phi duy nhất trong Khoa Luật. Những trường đại học "nói tiếng Anh" của Nam Phi là vườn ươm của các giá trị phóng khoáng, chẳng hạn như chấp nhận cho sinh viên người Da Đen vào học; mặc dù vậy, tôi chẳng bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái ở đây. Chỉ một số rất ít người Da Trắng có cảm tình với tôi đã trở thành bạn và sau này là đồng nghiệp, nhưng đa số người Da Trắng ở Wits tỏ ra phân biệt màu da và không phóng khoáng. Chẳng hạn như họ luôn tìm cách tránh ngồi gần người Da Đen. Không ai dùng từ ngữ "bọn đen", sự thù nghịch của họ lặng lẽ hơn, nhưng tôi cảm thấy cũng vậy thôi.

    Một giáo sư luật, ông Hahlo, có quan điểm kỳ lạ về luật học khi nói về phụ nữ và người Phi. Ông ta cho rằng người của cả hai nhóm ấy không thể nào trở thành luật sư; bởi luật là một ngành khoa học xã hội, và phụ nữ lẫn người Phi không được rèn luyện đủ để thông thạo những phức tạp của luật. Có lần ông ta bảo tôi không nên ở Wits mà chỉ nên học lấy bằng qua trường hàm thụ UNISA. Dù bất đồng với quan điểm của ông, tôi chẳng làm gì nhiều để phản bác; và sức học của tôi với tư cách một sinh viên luật trở nên ảm đạm.

    Ở Wits, tôi gặp một số người chia xẻ với tôi những thăng trầm của cuộc đấu tranh giải phóng, và không có họ thì tôi đạt được chẳng bao nhiêu. Tôi đã gặp Joe Slovo và cô vợ tương lai của anh, Ruth First. Joe là một trong những người có đầu óc sâu sắc và bén nhọn nhất mà tôi từng tiếp xúc; anh ta theo cộng sản một cách nồng nhiệt. Còn Ruth có một nhân cách chan hòa và viết lách rất giỏi. Cả hai đều là con của người di dân Do Thái. Tôi bắt đầu tình bạn suốt đời với George Bizos và Bram Fischer. George, con của một di dân Hy Lạp, một người kết hợp giữa bản chất thiện cảm với đầu óc sắc sảo. Bram, một giảng viên bán thời gian, là con dòng của một gia đình Phi danh giá; mặc dù có thể đứng vào hàng ngũ chính quyền cai trị nhưng anh ta lại trở thành một trong những người bạn can đảm và vững chắc nhất trong cuộc tranh đấu cho tự do. Tôi cũng làm bạn với Tony O'Dowd và Harold Wolpe, cả hai đều cực đoan về chính trị và gia nhập Đảng Cộng sản; và Jules Browde cùng vợ của anh, cả hai theo phái tự do trong công cuộc chống chế độ kỳ thị chủng tộc (anti-apartheid).

    Tôi cũng có những bạn thân là sinh viên Ấn Độ như Ismail Meer, J.N. Singh, Ahmed Bhoola, và Ramlal Bhoolia. Chúng tôi thường tụ lại ở nhà của Ismail vốn trở thành tổng hành dinh của những chiến sĩ trẻ cho tự do.

    Wits mở ra cho tôi một thế giới mới, một thế giới của những ý tưởng, những niềm tin và tranh luận chính trị, một thế giới mà người ta say đắm về chính trị. Tôi đứng trong hàng ngũ những trí thức cùng một thế hệ người Da Trắng và Ấn Độ, những thanh niên sẽ tạo ra đội tiền phong cho một phong trào chính trị quan trọng nhất của vài năm tới đây. Lần đầu tiên tôi khám phá rằng những người cùng lớp tuổi với tôi vững vàng đồng hành với cuộc đấu tranh giải phóng. Mặc dù có những đặc quyền tương đối, họ sẵn sàng hy sinh bản thân cho chính nghĩa của kẻ bị áp bức.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC
    (đoạn 3)

    [Winnie, người vợ thứ nhì của Mandela, về sau là một nhân vật quan trọng trong cuộc đấu tranh; nên khúc đầu của đoạn này giới thiệu đôi chút về bà ta]

    Một buổi chiều trong giai đoạn thẩm tra sơ khởi Vụ án Phản quốc, khi lái xe ngang qua bệnh viện Baragwanath, tôi nhận ra một phụ nữ trẻ yêu kiều đang đợi xe buýt. Vẻ đẹp của cô làm tôi chú ý, và khuôn mặt ấy vẫn ám ảnh tôi. Vài tuần lễ sau, một sự trùng hợp lạ lùng xảy ra làm tôi giật nẩy mình. Trong giờ làm việc ở văn phòng, khi tôi bước sang để gặp Oliver, thì chính phụ nữ đó đang ngồi trước bàn giấy của anh ta vì có vấn đề pháp lý cần được giúp đỡ. Oliver giới thiệu hai bên; cô ta mang danh tính Nomzamo Winifred Madikizela nhưng thường được gọi là Winnie, và đang làm Cán sự xã hội ở bệnh viện Baragwanath. Lúc đó tôi không mấy để ý đến gia cảnh và vấn đề pháp lý của Winnie, mà nghĩ nhiều về cách nào mời gặp cô ta. Vào giây phút tôi mới nhìn thoáng Winnie Nomzamo, tôi biết tôi muốn cô trở thành người vợ của tôi.

    Hôm sau tôi gọi cho Winnie và yêu cầu cô giúp việc quyên tiền cho Quỹ Biện hộ vụ án phản quốc. Đó chỉ là cái cớ để tiếp theo đó tôi tỏ lời mời đi ăn trưa; và cô ta chấp nhận. Sau bữa ăn, chúng tôi đi dạo ở một cánh đồng cỏ rất giống vùng quê nơi chúng tôi đã lớn lên thời thơ ấu. Tôi nói với cô về những hy vọng của tôi và về những khó khăn trong vụ án phản quốc. Tôi biết ngay chốc tôi muốn cưới cô làm vợ, và tôi nói với cô ta như thế. Nhân cách của cô: tinh thần, sự đam mê, tuổi trẻ, lòng can đảm, tính bướng bỉnh - tôi cảm nhận tất cả những thứ này vào giây phút tôi mới gặp mặt. Tên của cô ta, Nomzamo, có nghĩa là "người bị xử án" (một cái tên mang tính tiên tri không khác gì trường hợp cái tên của tôi).

    Những tuần và tháng kế, chúng tôi gặp nhau thường xuyên. Winnie đến thăm tôi ở văn phòng của tôi, ở Hội trường Drill, và ở nơi tôi luyện tập quyền Anh. Winnie cũng đến tham dự các buổi họp và thảo luận chính trị; nhắm vào cô ta, tôi vừa tán tỉnh vừa huấn luyện chính trị. Thật ra, khi còn là học sinh, Winnie đã bị thu hút vào "Phong trào Đoàn kết không có người Âu" vì cô có người anh hoạt động với tổ chức chính trị này. Một thời gian ngắn sau, tôi đệ đơn xin ly dị Evelyn và sửa soạn may áo cưới cho Winnie.

    Vụ án Phản quốc bước vào năm thứ nhì khiến công việc làm ăn của chúng tôi bị ảnh hưởng nặng. Văn phòng luật "Mandela và Tambo" trở nên tơi tả; Oliver và tôi đều rơi vào cảnh khó khăn tài chánh dù sau khi Oliver được miễn tố, anh ta đã có thể cứu vãn đôi chút. Tôi giải thích mọi chuyện cho Winnie biết; tôi bảo rất có thể khi thành vợ chồng, hai người sẽ phải sống chỉ nhờ vào đồng lương ít ỏi của cô ta. Winnie hiểu và nói rằng cô sẵn sàng chấp nhận rủi ro và những gì sẽ xảy ra. Tôi đã chưa bao giờ hứa hẹn tặng Winnie vàng bạc và kim cương, và tôi đã chưa bao giờ có thể tặng cô ta những thứ ấy. Đám cưới diễn ra vào giữa năm 1958; tôi phải yêu cầu chính quyền tạm thời ngưng lệnh cấm để được đi về quê làm lễ. Xe hoa được phủ bằng các màu cờ của ANC; và tất cả các vị lãnh đạo đều được mời nhưng vì lệnh cấm nên chỉ một số ít có thể tham dự. Trong lễ cưới cũng có một số khách không được mời; đó là các nhân viên cảnh sát an ninh.

    Chúng tôi không có thời gian lẫn tiền bạc cho tuần trăng mật, và đời sống nhanh chóng trở thành thói quen, phần lớn để theo kịp vụ án. Chúng tôi phải thức dậy sớm, thường vào bốn giờ sáng, và Winnie sửa soạn bữa ăn trước khi tôi đi khỏi. Buổi sáng, tôi đi xe buýt đến tòa án, buổi chiều làm việc ở văn phòng, buổi tối dành cho họp hành và các công việc chính trị. Vợ của một chiến sĩ cho tự do thường giống như một người đàn bà có chồng bê tha, ngay cả khi ông chồng không ở trong tù. Dù tôi đang bị xử tội phản quốc, nhưng Winnie đem đến cho tôi một động cơ cho hy vọng và tôi cảm thấy dường như mình có một đời sống mới. Tình yêu của tôi hướng về cô ta đã khiến tôi có thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh trong tương lai.

    Biến cố quan trọng của Nam Phi trong năm 1958 là cuộc tổng tuyển cử - "tổng" chỉ có nghĩa là 3 triệu người Da Trắng có thể tham gia, chứ không ai trong 13 triệu người Da Đen được phép. Chúng tôi tranh luận liệu có nên tiến hành một cuộc phản kháng. Vấn đề trọng tâm là: một cuộc bầu cử mà chỉ dân Da Trắng được tham gia sẽ tạo ra khác biệt nào cho người Phi hay không? Chúng tôi bị loại trừ nhưng không phải không bị ảnh hưởng: việc Đảng Dân tộc thất cử sẽ phù hợp với quyền lợi của ANC và của tất cả dân Phi.

    ANC cùng các tổ chức khác và "Đại hội Công đoàn Nam Phi" kêu gọi một cuộc đình công dài ba ngày trong thời gian cuộc bầu cử. Truyền đơn được phân phát khắp nơi: ở nhà máy và tiệm buôn, ở nhà ga và trạm xe khách, ở quán bia và bệnh viện, và từ nhà này sang nhà khác. "ĐẢNG DÂN TỘC PHẢI CÚT ĐI!" là khẩu hiệu chính của chiến dịch này. Việc chúng tôi chuẩn bị khiến chính quyền lo lắng, nên bốn ngày trước cuộc bầu cử họ ra quy định rằng tụ tập nhiều hơn mười người Phi trong thành phố là bất hợp pháp.

    Vào đêm trước cuộc phản kháng, tẩy chay, và nằm nhà như đã ấn định, các vị chỉ huy chiến dịch đều đi ẩn náu để tránh cuộc đột kích của cảnh sát chắc chắn sẽ xảy ra. Chúng tôi vẫn giữ liên lạc với nhau qua điện thoại vốn không mấy hiệu quả vào thời kỳ đó, vì thế công việc giám sát cuộc đình công gây nhiều bực dọc. Chúng tôi phái người đến những tụ điểm quan trọng trong thành phố để quan sát lượng người và xe cộ lưu thông nhằm xác định xem dân chúng có đi làm việc hay không. Họ trở về với những tin tức không thuận lợi: xe lửa và xe buýt đều đầy khách; dân chúng phớt lờ với cuộc đình công. Và chiến dịch của chúng tôi xem như thất bại.

    Chúng tôi quyết định hủy cuộc đình công; một cuộc đình công ba ngày nếu được bãi bỏ vào ngày đầu tiên thì chỉ là thất bại một ngày; còn như nó chết suốt ba ngày liên tiếp thì đó là thảm bại. Thật đáng bẽ mặt khi phải tháo lui, nhưng chúng tôi thấy mối nhục sẽ lớn hơn nếu không làm như thế. Nửa giờ sau khi chúng tôi loan báo hủy bỏ đình công, đài phát thanh của chính quyền đọc toàn văn của bản tuyên bố, rất khác với lệ thường là họ không bao giờ nhắc đến ANC. Sẵn dịp thậm chí họ còn ca tụng quyết định đó của chúng tôi; việc này khiến Moses Kotane tức giận và đặt câu hỏi phải chăng chúng tôi đã hành động quá hấp tấp nên đem lợi thế lại cho chính quyền. Đó là một quan tâm chính đáng, nhưng một quyết định không nên được dựa vào lòng hãnh diện hay ngượng nghịu mà nên dựa vào chiến lược thuần túy - và chiến lược ở đây đòi hỏi chúng tôi hủy bỏ cuộc đình công. Sự kiện kẻ thù khai thác việc chúng tôi bỏ cuộc không có nghĩa chúng tôi đã bỏ cuộc một cách sai lầm.

    Nhưng một số vùng đã không nhận đuợc tin cuộc đình công bị hủy bỏ, và một số khác từ chối không làm theo lời chúng tôi kêu gọi. Ở vùng Cape, vốn là thành trì của ANC, vào hai ngày thứ nhì và thứ ba, dân chúng đình công còn nhiều hơn ngày đầu tiên. Tuy nhiên nói chung, chúng tôi không thể che dấu sự thất bại của chiến dịch đình công. Và có vẻ như thế vẫn chưa đủ, theo kết quả bầu cử, Đảng Dân tộc đã đạt thêm phiếu bầu trên 1 phần trăm.

    Chúng tôi tranh cãi nảy lửa về việc phải chăng các biện pháp cưỡng bức đã nên được áp dụng. Có nên chăng chúng tôi dùng những người đứng cản không cho công nhân đi vào nơi làm việc? Các thành viên cứng rắn cho rằng nếu những người đứng cản được dàn ra thì chiến dịch có lẽ đã thành công. Nhưng tôi luôn chống đối những phương pháp như thế. Tốt nhất là dựa vào sự ủng hộ tự nguyện của dân chúng; nếu không thì sự ủng hộ sẽ yếu kém và chóng tàn. Tuy nhiên, nếu đa số của tổ chức hay tập thể ủng hộ một quyết định, thì sự cưỡng bức có thể được dùng trong vài trường hợp để chống lại nhóm thiểu số bất đồng nhằm mang lợi ích cho nhóm đa số. Nhóm thiểu số, dù to tiếng cách mấy cũng không nên có khả năng làm hỏng ý chí của nhóm đa số.

    Khi ở nhà, tôi đã toan dùng một loại cưỡng bức khác nhưng không thành công. Ida Mthimkhulu, một phụ nữ đang làm quản gia cho gia đình tôi; chúng tôi đối đãi với chị ta như người thân hơn là người giúp việc. Vào ngày trước cuộc đình công, lúc đang chở chị và đứa con trai của chị về nhà, tôi nhắc rằng tôi cần chị giúp giặt và ủi vài chiếc áo cho ngày mai. Ida quay sang tôi trả lời với thái độ khinh thị "Ông biết rất rõ tôi không thể làm việc đó mà."

    "Tại sao không?" Tôi hỏi với sự ngạc nhiên vì cách phản ứng dữ dội của chị.

    "Ông quên rồi sao? Tôi cũng là một công nhân đây này!" chị ta nói với giọng hài lòng. "Ngày mai tôi sẽ đình công cùng với dân chúng và các bạn công nhân của tôi!"

    Đứa con trai của chị ta thấy tôi ngượng nghịu nên làm giảm căng thẳng bằng cách nói rằng "Cậu Nelson" luôn đối xử với mẹ như người chị chứ không phải người giúp việc. Phát cáu, chị ta quay sang cậu con trai có ý tốt và nói "Ồ, con ở đâu khi mẹ đấu tranh cho quyền của mẹ trong căn nhà đó hả? Nếu mẹ không chiến đấu hết mình chống 'Cậu Nelson' của con thì ngày nay mẹ đâu có được đối xử như người chị!" Hôm sau, Ida không đến nhà tôi để lo công việc, và tôi phải mặc áo không được ủi.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC (đoạn 2)

    Ngay cả trước vụ án, cuộc hôn nhân giữa Evelyn và tôi đã bắt đầu xa cách. Cô ta gia nhập tổ chức Tháp Canh thuộc giáo hội "Nhân chứng của Đấng Jehovah" và tìm cách truyền đạo cho tôi, thúc giục tôi chuyển đổi những nỗ lực cho tranh đấu sang lòng thờ phụng Thượng Đế. Mặc dù tôi thấy vài khía cạnh của hệ thống Tháp Canh rất hay và giá trị, nhưng tôi không thể chấp nhận đường lối của họ vốn dạy về tính thụ động và phục tùng trước cảnh áp bức. Chúng tôi nhiều lần tranh cãi nhau về chuyện này, và tôi kiên nhẫn giải thích rằng chính trị không phải để giải trí mà là một phần cơ bản và chủ yếu cho con người của tôi; nhưng cô ta không chấp nhận như thế. Tôi cố thuyết phục Evelyn về sự cần thiết của tranh đấu và phục vụ đất nước, trong khi cô ta thuyết phục tôi về giá trị của tín ngưỡng tôn giáo và thờ phụng Thượng Đế. Chúng tôi không thể tìm ra điểm chung.

    Chúng tôi cũng tranh giành nhau về tâm trí của con cái. Evelyn muốn chúng sống vì tôn giáo, còn tôi nghĩ chúng nên hướng về chính trị. Cô ta dẫn chúng đi nhà thờ và đọc sách của Tháp Canh, thậm chí chúng đuợc giao công tác phân phát truyền đơn giảng đạo. Còn tôi thường giải thích cho các con về chính trị và sự áp bức; Thembi, con trai lớn của tôi đã gia nhập Đội Tiên Phong, một bộ phận của ANC dành cho thiếu niên. Trong nhà, tôi treo những bức ảnh của Roosevelt, Churchill, Stalin, Gandhi, và cảnh Cung điện Mùa Đông ở St. Petersburg năm 1917. Tôi giải thích cho các con mỗi người trong ảnh là ai, và những gì họ chủ trương [*]. Ngoài ra, việc tôi về nhà trễ mỗi đêm vì phải họp hành sau giờ làm việc, khiến cô ta nghi ngờ tôi đi gặp những người đàn bà khác. Và như thế, tôi được cho thấy cuộc hôn nhân của chúng tôi không còn có thể đứng vững. Sau cùng, Evelyn cho tôi một tối hậu thư: tôi phải chọn giữa cô ta và ANC.

    Khi tôi bị bắt và bị giam trong hai tuần lễ, Evelyn đến thăm tôi một lần. Nhưng khi tôi ra khỏi tù thì mới biết cô ta đã bỏ nhà và mang các con về ở luôn bên ngoại. Evelyn là một người đàn bà tốt, duyên dáng, mạnh mẽ, và trung hậu; tôi không bao giờ đánh mất sự tôn trọng và chiêm ngưỡng cô ta. Nhưng sau cùng, chúng tôi đã không thể giữ được cuộc hôn nhân, dù biến cố này gây nhiều chấn thương nhất là cho con cái.

    Trở lại vụ án phản quốc, vào tháng Giêng 1957 chúng tôi tụ tập trở lại ở Hội trường Drill cho lượt bên biện hộ phản bác cáo trạng của nhà nước. Berrange, trưởng nhóm luật sư bào chữa, loan báo luận cứ của chúng tôi: Bên bị sẽ cố gắng bác bỏ cáo buộc và chứng minh rằng các điều khoản của Hiến chương Tự do không mang tội phản quốc hay hình sự. Trái lại, bên bị sẽ đoan chắc các ý tưởng và niềm tin được diễn đạt trong bản hiến chương, mặc dù xung khắc với đường lối của chính quyền hiện tại, nhưng được chia xẻ bởi đại đa số nhân loại cũng như đại đa số nhân dân Nam Phi thuộc mọi chủng tộc và màu da. Và chúng tôi ngoài việc chứng tỏ sự vô tội, sẽ chỉ ra rằng đây là một vụ án chính trị mà chính quyền đang truy tố chúng tôi vì những hành động vốn được biện minh về đạo đức.

    Tháng đầu tiên của vụ xử án được dành cho bên công tố đưa ra bằng chứng. Từng cái một được trưng bày: mỗi tờ giấy, truyền đơn, tài liệu, sách, vở, thư, báo vốn được cảnh sát tích lũy từ những cuộc lục soát trong ba năm qua. Tổng cộng 12 ngàn vật chứng, chúng gồm cả Bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc lẫn sách dạy nấu ăn bằng tiếng Nga. Trong nhiều tháng kế tiếp, các thám tử của cảnh sát thay phiên nhau đọc những gì họ đã ghi chép về những buổi mit tinh và diễn văn của ANC. Tiếp theo là phần kiểm tra chéo các nhân chứng do luật sư Berrange khéo léo thực hiện và đánh đổ các lời khai gian dối. Đến tháng Chín mới xong phần thẩm tra sơ khởi về phía chính quyền, và tòa án ấn định bên bị có bốn tháng để xem xét lại các chứng cứ cũng như sửa soạn cho giai đoạn kế của vụ xử. Ba tháng sau, không một lời giải thích, chính quyền loan báo rằng 61 bị cáo được miễn tố; phần lớn là những khuôn mặt không mấy quan trọng của ANC, nhưng danh sách lại gồm cả Chủ tịch ANC Luthuli và Oliver Tambo. Hai người này được phóng thích làm chúng tôi vui lòng nhưng cũng gây ra sự hoang mang.

    Tháng Giêng 1958, khi chính quyền tổng kết lại bản cáo trạng, họ cử ra một viên công tố mới thật kinh khủng: Oswald Pirow vốn là cựu Bộ trưởng Tư pháp và một trụ cột cho chính trị của Đảng Dân tộc. Việc Pirow được bổ nhiệm cho thấy nhà nước đang lo lắng về kết quả của vụ án và họ nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao cho chiến thắng. Trước khi Pirow tổng kết, Berrange loan báo ông sẽ đệ đơn yêu cầu hủy bỏ bản án trên cơ sở nhà nước đã không đưa ra đủ bằng cớ. Pirow phản đối bằng cách trích ra một số đoạn mang tính kích động trong những bài diễn văn của các bị cáo, và trình với tòa rằng cảnh sát đã tìm ra thêm nhiều bằng chứng cho một âm mưu cực kỳ nguy hiểm. Ông ta phô trương một cách trang trọng rằng đất nước đang đứng trên một ngọn núi lửa. Đó là một cách biểu diễn có hiệu quả và gây ấn tượng, và Pirow đã làm thay đổi không khí của vụ án. Trước đây chúng tôi đã quá tự tin [sẽ được vô tội], và bây giờ được nhắc nhở rằng mình đang đối diện với một cáo buộc nghiêm trọng. Vì thế chúng tôi trở nên tỉnh táo.

    Sau 13 tháng thẩm tra sơ khởi, tòa phán rằng họ tìm thấy "đầy đủ lý do" để đưa vụ án về tội phản quốc lên Tòa Tối cao. Còn lại 95 bị cáo đều nhất định tiếp tục đối diện trước tòa án. Khi nào vụ xử thật sự sẽ bắt đầu, chúng tôi không biết.


    [*] Đoạn này được dịch vào đây để bạn đọc đánh giá về một khía cạnh của Mandela qua thái độ của ông ta đối với Stalin: treo ảnh tôn vinh và giảng dạy cho con cái về nhà lãnh đạo cộng sản lừng danh. Năm 1956, Khrushchev chính thức lên án Stalin đã tạo ra tình trạng chính trị và kinh tế cực kỳ tồi tệ ở nước Nga. Nhưng dĩ nhiên trước đó rất nhiều năm, thế giới Phương Tây đã biết rõ những thông tin như thế.

    Anh Ba SG viết:
    Chỉ trong vòng mấy ngày vừa qua đã có 5, 6 vụ biểu tình lớn nhưng sao DL không đưa tin đầy đủ vậy? Đừng để người ta nghĩ trí thức trên DL cũng xa rời thực tế khi chỉ lo bàn chuyện trên trời dưới đất trong khi mấy ngàn người dân đứng lên đấu tranh mà không có sự quan tâm của các vị.

    Vấn đề là thiếu nhân sự bác ạ, các vụ việc này ngay cả báo chính thống cũng không có nhiều thông tin, do đó bọn tôi muốn tổng hợp lại cũng khó khăn.

    Chỉ trong vòng mấy ngày vừa qua đã có 5, 6 vụ biểu tình lớn nhưng sao DL không đưa tin đầy đủ vậy? Đừng để người ta nghĩ trí thức trên DL cũng xa rời thực tế khi chỉ lo bàn chuyện trên trời dưới đất trong khi mấy ngàn người dân đứng lên đấu tranh mà không có sự quan tâm của các vị.

    Trường Sa : Tàu Philippines phá vòng vây Trung Quốc, đổ bộ lên Bãi Cỏ Mây (Trọng Nghĩa)

    Tại khu vực Bãi Second Thomas Shoal (tên Việt Nam : Bãi Cỏ Mây ; tên Philippines : Ayungin; tên Trung Quốc : Nhân Ái) hiện do Manila kiểm soát, nhưng đang bị tuần duyên Trung Quốc phong tỏa, vào hôm qua 29/03/2014, một chiếc tàu tiếp tế Philippines đã vượt qua được vòng vây của tuần duyên Trung Quốc để đổ bộ lên bãi. Ngoài ra, thất bại của tàu Trung Quốc trong việc ngăn chặn diễn ra dưới sự chứng kiến tận mắt của truyền thông quốc tế.

    Sau thất bại hôm 09/03, khi hai tàu tiếp tế dân sự của mình - bị tuần duyên Trung Quốc phong tỏa bãi Second Thomas Shoal chặn đường - phải trở lui, vào hôm qua, Manila lại phái một con tàu khác đến tiếp tế cho đơn vị Thủy quân lục chiến của Philippines đồn trú tại đấy. Điểm khéo léo của Chính quyền Manila lần này là cho nhiều nhà báo quốc tế đi theo chiếc tàu tiếp liệu.

    Theo tường trình của hãng tin Anh Reuters, hành trình của chiếc tàu Philippines - thuộc loại nhỏ - diễn ra suôn sẻ cho đến lúc bị một chiếc tàu tuần duyên Trung Quốc phát hiện khi cách bãi Second Thomas Shoal khoảng một tiếng đồng hồ. Tàu Trung Quốc đã tăng tốc và đến kèm sát bên trái chiếc tàu Philippines, hụ còi cảnh cáo ít nhất ba lần.

    Sau vài phút, tàu Trung Quốc chạy chậm lại, vào lúc một tầu tuần duyên lớn hơn xuất hiện, di chuyển nhanh để vượt lên cắt ngang đường đi của tàu Philippines.

    Phia Trung Quốc đã dùng tiếng Anh gọi radio cho tàu Philippines, cảnh cáo rằng con tàu đã đi vào « lãnh thổ Trung Quốc ». Thuyền trưởng chiếc tàu dân sự Philippines đã trả lời rằng nhiệm vụ của ông là đến tiếp tế cho quân đội Philippines đồn trú trên bãi.

    Thay vì dừng lại hoặc trở lui, chiếc tàu Philippines đã tăng tốc độ, lách chiếc tàu Trung Quốc ở phía trước và rốt cuộc đã chạy được vào vùng biển nông mà tàu tuần duyên Trung Quốc không thể tiếp cận.

    Thế là sau đó chiếc tàu đã cặp được vào bãi Second Thomas Shoal, và đưa lương thực, nước uống lên trên chiếc tàu cũ mắc cạn trên bãi được dùng làm chỗ ở cho tám người lính Thủy quân lục chiến Philippines có nhiệm vụ canh giữ bãi này.

    Tất cả các động thái ngăn chặn, hù dọa của Trung Quốc, cũng như phản ứng kiên quyết và khéo léo của chiếc tàu Philippines, đã diễn ra dưới sự chứng kiến của một phái đoàn nhà báo, kể cả nhà báo quốc tế, đi theo chuyến tàu.

    Ngoài ra, còn có một phi cơ Hải quân Mỹ, một máy bay quân sự Philippines và một phi cơ Trung Quốc cũng bay trên không, theo dõi chiếc tàu Philippines vào những thời điểm khác nhau.

    Theo ghi nhận của hãng Reuters, vụ săn đuổi hôm thứ Bảy là một biểu hiện cụ thể hiếm thấy về tình hình căng thẳng thường xuyên diễn ra trên vùng Biển Đông, một trong những điểm nóng của khu vực. Vụ này cũng là một lời cảnh tỉnh, cho thấy rõ thái độ vô cùng quyết đoán của Bắc Kinh trong việc áp đặt yêu sách chủ quyền trên những khu vực rất xa bờ biển Trung Quốc.

    Có thể nói là khi cho phóng viên quốc tế tháp tùng theo con tàu, chính quyền Manila đã thành công trên mặt trận truyền thông, nêu bật được thế ỷ mạnh hiếp yếu của Bắc Kinh.

    Dù đã tiếp tế thành công, nhưng chính quyền Manila vẫn xem xét khả năng chính thức phản đối Bắc Kinh về mưu toan ngăn chặn thứ hai này.

    Về phần Trung Quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nước này vào tối hôm qua đã lên tiếng cho rằng hành động của Philippines không ảnh hưởng đến thực tế là bãi này thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và Bắc Kinh « sẽ không bao giờ chấp nhận việc Philippines chiếm giữ bãi Nhân Ái (tên Trung Quốc đặt cho Second Thomas Shoal) dưới bất kỳ hinh thức nào ».

    http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140330-truong-sa-tau-philippines-pha-vong-vay-trung-quoc-do-bo-len-bai-co-may

    Biển Đông: Hồ sơ Manila cáo buộc Bắc Kinh dày 4000 trang

    Đúng như dự kiến, vào hôm nay, 30/03/2014, chính quyền Manila đã chính thức chuyển đến tòa án của Liên Hiệp Quốc bản luận chứng cáo buộc rằng các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông không phù hợp với luật pháp quốc tế. Theo yêu cầu của Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ITLOS, được giao trách nhiệm xem xét vụ kiện này, bên nguyên đơn là Philippines phải nộp tài liệu này chậm nhất là vào hôm nay.

    Trong một cuộc họp báo tại Manila, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario xác nhận là Manila đã chính thức nộp hồ sơ cho tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc để yêu cầu phán quyết rằng các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông đã vi phạm luật pháp quốc tế.

    Theo hãng tin Pháp AFP, tập hồ sơ mà Philippines đệ trình dày khoảng 4000 trang, nhưng nội dung cụ thể ra sao chưa được các quan chức trong chính quyền Manila tiết lộ.

    Phát biểu trong cuộc họp báo, Ngoại trưởng Philippines chỉ bình luận rằng vụ kiện Trung Quốc liên quan đến vấn đề « bảo vệ những gì thuộc về Philippines một cách hợp pháp, bảo đảm tương lai cho con em người Philippines » và « bảo đảm quyền tự do hàng hải cho mọi quốc gia ».

    Trung Quốc hiện đang tự nhận mình là chủ nhân của hầu như toàn bộ vùng Biển Đông, kể cả những vùng ăn vào thềm lục địa của các láng giềng và rất xa bờ biển Trung Quốc. Yêu sách của Bắc Kinh đã đối lập với các tuyên bố chủ quyền của các láng giềng khác – Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

    Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đặc biệt chĩa mũi dùi vào các vùng biển đảo, bãi ngầm mà Philippines tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông. Sau sự cố Scarborough Shoal vào năm 2012, qua tháng Giêng năm 2013, Philippines quyết định kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Trung Quốc từ chối tham gia vụ tranh tụng nhưng các thủ tục vẫn được khởi động.

    Vào khi ấy, Philippines cho biết là sẽ yêu cầu Tòa án quốc tế tuyên bố là các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông – cụ thể hóa bằng tấm bản đồ « lưỡi bò » - không phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

    http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140330-bien-dong-ho-so-philippines-cao-buoc-trung-quoc-day-4000-trang

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    Phần V: TỘI PHẢN QUỐC (đoạn 1)

    Rạng sáng ngày 5/12/1956, tôi bị tiếng đập cửa ầm ầm đánh thức. Hàng xóm hay bạn bè không hề gõ cửa theo lối cưỡng bách như vậy, và lập tức tôi biết đó là cảnh sát an ninh. Tôi mặc vội quần áo rồi ra gặp một sĩ quan an ninh địa phương quen thuộc tên Rousseau cùng đi với hai nhân viên cảnh sát; trong lúc này các con tôi đã thức dậy và ngơ ngác nhìn tôi cầu cứu. Họ đưa ra trát tòa và bắt đầu sục sạo khắp căn nhà cố tìm mọi giấy tờ hay tài liệu có thể buộc tội. Rồi Rousseau nói một cách vô cảm "Mandela, chúng tôi có trát tòa cho lệnh bắt giữ ông. Hãy đi theo tôi." Tôi nhìn vào bản trát tòa, và những chữ nhảy vào mắt tôi: "PHÁ HOẠI CHÍNH QUYỀN - TỘI PHẢN QUỐC". Tôi đi với họ ra xe. Thật không dễ chịu khi bị bắt giữ trước mặt con cái, dù biết những việc mình làm là đúng. Nhưng trẻ con không thể hiều sự phức tạp của tình huống; chúng chỉ đơn giản thấy cha mình bị nhà chức trách Da Trắng bắt dẫn đi mà không một lời giải thích.

    Rousseau lái xe còn tôi ngồi bên cạnh ở ghế trước mà không bị còng tay. Anh ta thả hai nhân viên cảnh sát xuống một khu lân cận rồi tiếp tục lái về trung tâm Johannesburg vì trát tòa cũng cho lệnh lục soát văn phòng của tôi. Khi qua một khu đường vắng, tôi nói ra nhận xét rằng anh ta phải rất tự tin lái xe một mình với tôi vốn đang không bị còng tay. Anh ta lặng thinh.

    "Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi tóm bắt và chế ngự anh?" tôi hỏi.

    "Ông đang giỡn với lửa đó, Mandela" Rousseau nói.

    "Giỡn với lửa là trò chơi của tôi mà," tôi trả lời.

    "Nếu ông cứ ăn nói kiểu này thì tôi phải còng tay ông lại thôi," Rousseau đe dọa.

    "Và nếu tôi từ chối?"

    Chúng tôi tiếp tục cuộc tranh cãi căng thẳng này trong vài phút; và khi tiến vào khu đông người gần một trạm cảnh sát, Rousseau nói: "Mandela, tôi đối xử tốt với ông và tôi mong ông cũng làm thế với tôi. Tôi không thích cách ông đùa cợt". Sau khi tạm ngừng ở trạm cảnh sát, thêm một sĩ quan nữa đi theo đến văn phòng của tôi và họ cùng nhau lục soát ở đây.

    Rồi họ mang tôi đến nhà tù Marshall Square, nơi tôi đã từng trải qua vài đêm trong Chiến dịch Bất tuân. Một số đồng sự của tôi đang có mặt nơi đây, họ đã bị bắt và giam giữ trước đó trong ngày. Trong vòng vài giờ sau, thêm nhiều bạn hữu và đồng chí cũng chịu cùng số phận. Đây là cuộc đột kích mà chính quyền đã hoạch định từ lâu. Ai đó đã mang lén vào một tờ báo mới, và qua những hàng tựa chúng tôi mới biết rằng cuộc bố ráp đã xảy ra trên cả nước và tất cả các lãnh đạo cao cấp của Liên minh các Đại Hội [gồm bốn tổ chức đã cùng nhau tạo nên bản Hiến chương Tự do] đã bị bắt giữ vì tình nghi tội phản quốc và âm mưu lật đổ chính quyền. Các vị bị bắt ở những vùng xa khác nhau được máy bay của quân đội chuyển về Johannesburg là nơi lời buộc tội được tòa án chính thức công bố vào ngày kế. Một tuần lễ sau, Walter Sisulu và 11 người nữa cũng bị bắt, nâng con số tổng cộng thành 156 người gồm Da Đen, Ấn độ, Da Trắng và Da Màu.

    Chẳng bao lâu chúng tôi được chuyển sang Khám đường Johannesburg vốn được quen gọi là Pháo đài. Khi đến nơi, chúng tôi được dẫn vào một sân trong và được lệnh cởi hết quần áo rồi sắp hàng dựa vào tường. Chúng tôi bị ép buộc đứng ở đấy hơn một giờ đồng hồ, rùng mình trong gió [Tháng Chạp ở Nam Phi nhằm mùa Hè của Nam bán cầu] và cảm thấy ngượng nghịu - vì nhà tu, giáo sư, bác sĩ, luật sư, thương gia, và giới trung niên hay lão thành, vốn thông thường đuợc kính nể và tôn trọng. Rồi chúng tôi được lệnh mặc lại quần áo, và bị đẩy vào hai xà-lim lớn với sàn xi-măng và không có đồ đạc gì cả; mỗi xà-lim có một nhà xí trống lỗng ở sát mặt đất. Mỗi người chúng tôi được phát ba cái mền mỏng và một chiếc chiếu. Người ta nói rằng không ai có thể thật sự biết một quốc gia cho đến khi họ từng trải qua những nhà tù của nó. Một quốc gia không nên được đánh giá qua cách nó đối xử các công dân cao cấp, mà phải nhìn vào những người thấp nhất - và Nam Phi đối xử với các tù nhân bị giam giữ như với súc vật.

    Chúng tôi ở trong Pháo đài được hai tuần, và vẫn giữ tinh thần rất cao mặc dù những khó khăn. Chúng tôi được xem báo và đọc với sự hài lòng về những làn sóng phẫn nộ do việc bắt giữ chúng tôi kích dậy. Các cuộc mit tinh và biểu dương phản đối được tổ chức khắp Nam Phi; dân chúng mang biểu ngữ tuyên bố "Chúng tôi luôn đứng cạnh các vị lãnh đạo". Chúng tôi cũng đọc tin những cuộc phản đối trên thế giới về việc tống giam chúng tôi.

    Xà-lim giam tập thể chúng tôi trở thành một thứ hội nghị giữa những chiến sĩ cho tự do. Nhiều người trong chúng tôi đã và đang sống dưới lệnh cấm, khiến cho việc gặp gỡ và nói chuyện trở thành bất hợp pháp. Giờ đây, tất cả chúng tôi được kẻ thù gom lại một nơi để trở thành cuộc hội họp không bị cấm, lớn nhất và dài nhất của cấp lãnh đạo trong Liên minh các Đại Hội. Những người trẻ có điều kiện gặp mặt các bậc lão thành mà trước đó họ chỉ nghe tên; người từ vùng này được dịp hòa lẫn với người ở vùng khác. Chúng tôi say sưa với cơ hội này để trao đổi ý kiến và kinh nghiệm - suốt hai tuần lễ trong khi chờ đợi phiên tòa.

    Đến ngày đầu tiên của tiến trình xử án, chúng tôi được chở đi trong xe khách bít bùng do quân xa và binh lính vũ trang hộ tống, đến Hội trường Drill để thẩm tra sơ khởi. Có một đám đông khổng lồ những người ủng hộ chúng tôi, khiến lưu thông ở vài đường phố bị tắc nghẽn. Chúng tôi có thể nghe tiếng họ hoan hô và ca hát, và họ có thể nghe tiếng chúng tôi trả lời từ trong xe. Chuyến đi ấy đã trở thành một cuộc diễu hành mừng chiến thắng khi xe chở chúng tôi phải chạy chậm lại và được đám đông lúc lắc. Chung quanh hội trường, vốn là một tòa nhà quân sự lớn mới đủ chỗ chứa hàng trăm bị cáo, được binh lính và cảnh sát đeo súng bao vây. Bên trong, chúng tôi gặp một đám đông khác những người ủng hộ, đến nỗi hội trường có vẻ như một cuộc mit tinh phản đối trong ồn ào và vô trật tự hơn là một tòa án luật trầm tĩnh. Chúng tôi bước vào với ngón tay cái giơ lên theo cách chào của ANC, và gật đầu với những người ủng hộ đang ngồi ở khu dành riêng cho người không phải Da Trắng. Không khí bên trong tỏ ra tôn vinh hơn là trừng phạt, bởi vì các bị cáo hòa lẫn với các phóng viên và bạn hữu.

    Cáo trạng cho tất cả 156 người chúng tôi là tội phản quốc và âm mưu khắp nước dùng bạo lực lật đổ chính quyền hiện hữu để thay thế bằng một nhà nước Cộng sản. Thời kỳ được kể ra bao gồm từ năm 1952 đến 1956, vì các Chiến dịch Bất tuân, Chống di dời Sophiatown, và Đại hội Nhân dân. Nếu bị kết tội sẽ lãnh bản án tử hình. Mục đích của thẩm tra sơ khởi là để xác định xem có đủ bằng cớ cáo buộc hay không. Nếu có, vụ án sẽ đem ra xử ở Tòa Tối cao, còn không thì các bị cáo được miễn tố.

    Do hội trường bị thiếu máy khuyếch âm nên phiên tòa được đình hoãn. Khi trở lại đây vào ngày hôm sau, một cái lồng khổng lồ bằng lưới sắt đã được dựng sẵn cho chúng tôi ngồi bên trong trên ghế dài, và do một tiểu đội vệ binh vũ trang canh giữ. Ngoài tác dụng biểu tượng, cái lồng còn ngăn cách chúng tôi không thể tiếp xúc với các luật sư biện hộ đang ở phía ngoài. Một người trong chúng tôi viết vội lên tờ giấy "Nguy hiểm. Xin đừng cho ăn." rồi gài vào mắt lưới.

    Những người ủng hộ chúng tôi và các tổ chức đã hình thành một toán luật sư biện hộ kinh khủng, gồm Fischer, Rosenberg, Maisels, Franks, và Berrange. Không ai trong họ trước đây đã từng thấy một cái lồng như thế trong tòa án. Trước tòa, Franks tung ra lời phản đối mạnh mẽ việc nhà nước làm nhục các thân chủ của mình theo cách quái dị và đối xử với họ không khác gì dã thú. Ông ta loan báo rằng cái lồng phải được tháo bỏ tức khắc còn không thì toàn thể toán luật sư biện hộ sẽ rời khỏi tòa án. Sau khi trì hoãn phiên xử một lát, vị quan tòa quyết định rằng cái lồng sẽ được kéo xuống; và tạm thời chỉ tháo bỏ mặt trước của nó.

    Rồi nhà nước bắt đầu vụ kiện; Van Niekerk, viên trưởng công tố, đọc một phần của cáo trạng dài 18 ngàn từ. Dù có máy khuyếch âm nhưng lời của ông ta rất khó nghe vì bị át bởi tiếng hô và ca hát từ bên ngoài, và có lúc một nhóm cảnh sát chạy ra. Chúng tôi nghe một phát súng tay nổ, rồi tiếp theo với những tiếng la hét và nhiều tiếng súng nữa. Hai mươi người đã bị thương.

    Bản cáo trạng được tiếp tục đọc trong hai ngày kế. Đến ngày thứ tư, chúng tôi được phóng thích với tiền thế chân, vói điều kiện không được tham dự các đám đông và mỗi tuần phải đến trình diện cảnh sát. Tiền thế chân được những người ủng hộ chúng tôi trong mọi tầng lớp dân chúng đóng góp, và do một số các vị Giám mục lập ra "Quỹ Biện hộ cho vụ án Phản quốc".

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    PHẦN IV. ĐẤU TRANH LÀ ĐỜI SỐNG CỦA TÔI (đoạn 6)

    [Cuối phần IV có những chi tiết rời rạc nhưng liên hệ đến các phần sau nên xin thêm vào đây]

    Một số thành viên ANC, nói riêng là nhóm theo Chủ nghĩa Phi vốn chống Cộng và chống người Da Trắng, phản đối bản hiến chương vì nghĩ nó là bản vẽ cho một Nam Phi khác hẳn tận gốc so với những gì ANC đã đòi hỏi trong suốt thời kỳ hoạt động. Họ cho rằng bản hiến chương đặt trọng tâm vào một trật tự theo chủ nghĩa xã hội, và COD vốn gồm những thành viên Cộng sản Da Trắng đã gây quá nhiều ảnh hưởng về ý thức hệ.

    Trên nguyệt san Giải Phóng, tôi viết bài chứng tỏ thật ra bản hiến chương tán thành việc kinh doanh tư nhân và cho phép chủ nghĩa tư bản được nở rộ. Nó bảo đảm rằng khi đạt được tự do, người Phi sẽ có cơ hội sở hữu xí nghiệp, nhà cửa và tài sản, hay ngắn gọn, họ sẽ thịnh vượng như những nhà tư bản và kinh doanh. Bản hiến chương không nói đến vấn đề tiêu diệt giai cấp và tài sản tư nhân, cũng không có sự làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất, cũng không phổ biến những nguyên lý nào của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nó không nhấn mạnh về chủ nghĩa, dù tư bản hay xã hội, nhưng là tổng hợp những đòi hỏi của nhân dân để chấm dứt sự áp bức.

    [Tháng 9/1955 lệnh cấm Mandela hết hạn. Ông ta trở về quê thăm nhà ở vùng Transkei, và cũng để tận mắt thấy sự thay đổi của ANC lẫn của dân chúng khắp Nam Phi trong thời gian ông bị cấm di chuyển. Vài suy nghĩ của Mandela và chi tiết trong chuyến du hành của ông:]

    - Tôi đã đọc nhiều loại báo chí khắp nơi trong nước, báo chí chỉ là sự phản chiếu tồi của thực tế; các thông tin của nó quan trọng đối với một chiến sĩ cho tự do không phải vì chúng bày tỏ sự thật ra, mà vì chúng để lộ những khuynh hướng và nhận thức của kẻ làm báo lẫn người đọc báo. Và tôi muốn tiếp xúc nói chuyện đầu nguồn với dân chúng đang sống thật.

    - Vẻ đẹp bí ẩn của âm nhạc Phi là nó nâng cao tinh thần dù nó kể ra một chuyện buồn. Có thể bạn buồn, có thể bạn chỉ có một căn lều, có thể bạn bị mất việc làm, nhưng bài hát ấy mang hy vọng đến cho bạn. Âm nhạc Phi thường diễn tả những khát khao của dân Phi, và nó có khả năng thổi bùng quyết tâm chính trị của những ai có lẽ đang thờ ơ với chính trị. Bạn chỉ cần chứng kiến tiếng hát lan truyền ở những cuộc biểu dương của người Phi thì biết ngay. Chính trị có thể được đẩy cao lên nhờ âm nhạc, nhưng âm nhạc cũng có sức mạnh cản trở chính trị.

    - Tôi gặp gỡ một số thành viên ANC, kể cả Chủ tịch Luthuli vốn cũng có lệnh cấm vừa hết hạn. Ông Luthuli bày tỏ quan ngại đến khuynh hướng của ANC ngày càng tập trung về Johannesburg và sự giảm bớt quyền của các địa phương. Tôi phải trấn an ông ta rằng chúng tôi mong muốn các địa phương vẫn giữ thế mạnh.

    - Trên đường đi đến vùng Cape, tôi dừng lại để khảo sát một khu rừng rậm rộng bao la về mọi hướng. Và tôi chăm chú không vào vẻ đẹp xanh tươi nhưng để khám phá ra nhiều chỗ có thể cho một đạo quân du kích trú ẩn và huấn luyện mà không bị lộ tung tích.

    - Vào ngày chót ở vùng Cape, tôi đến cơ sở tờ báo "Kỷ nguyên mới" thăm vài người bạn cũ và thảo luận về đường lối biên tập của họ. Khi vừa đến nơi, tôi được chứng kiến việc cảnh sát an ninh đang quát tháo và lục soát văn phòng tòa báo. Tôi lặng lẽ bỏ đi, và về sau mới biết được đó không phải một biến cố riêng lẻ mà là một phần của cuộc bố ráp khắp nước rộng lớn nhất trong lịch sử Nam Phi. Với trát tòa cho phép tịch thu mọi thứ được xem là tang chứng của tội phản quốc, dấy loạn, hay vi phạm Đạo luật Cấm chỉ Cộng sản, cảnh sát trong cả nước lục soát tư gia và văn phòng của hơn 500 người kể cả Bác sĩ Moroka, Cha đạo Huddleston, Giáo sư Matthews, và tôi. Cuộc bố ráp ấy làm cho ngày cuối cùng của tôi ở vùng Cape trở nên ảm đạm, vì nó báo hiệu cho bước đầu trong một chiến lược mới và đàn áp mạnh hơn của nhà nước. Ít nhất, một đợt những lệnh cấm mới sẽ được tung ra, và chắc hẳn tên tôi sẽ được liệt kê trong đó.

    - Khi đến Kimberley, một thị trấn của mỏ kim cương, tôi ngụ ở nhà Bác sĩ Arthur Letele (về sau, anh ta làm Tổng Thủ quỹ của ANC). Trước đây Arthur tỏ ra một con người can đảm và tận tâm, anh ta đã chỉ huy một nhóm người tình nguyện để vào tù trong Chiến dịch Bất tuân. Đấy là việc làm đầy rủi ro đối với một bác sĩ ở vùng thị trấn mà hành động chính trị của người Da Đen rất hiếm khi xảy ra. Ở Johannesburg, bạn có sự ủng hộ của hàng trăm và thậm chí hàng ngàn người khác đang tham dự vào cùng nhũng hoạt động nguy hiểm, nhưng ở một vùng bảo thủ như Kimberley vốn không có báo chí hay tư pháp độc lập để kiềm chế ngành cảnh sát, thì một hành động như thế đòi hỏi lòng dũng cảm thật sự. Chính ở Kimberley trong Chiến dịch Bất tuân, một trong những thành viên lãnh đạo của ANC đã bị viên quan hành chánh địa phương tuyên hình phạt "đánh bằng roi".

    Tháng Ba 1956, sau một thời gian ngắn được tương đối tự do, tôi nhận lệnh cấm lần thứ ba cho thời hạn năm năm. Trong 60 tháng sắp đến tôi sẽ quanh quẩn trong cùng một khu vực, thấy mãi cùng những con đường và cảnh hầm mỏ đơn điệu ở chân trời. Tôi sẽ lệ thuộc vào báo chí và những người khác để biết những gì xảy ra bên ngoài Johannesburg, một viễn cảnh mà tôi chẳng hề thích thú.

    Nhưng lần này thái độ của tôi đã thay đổi tận gốc đối với các lệnh cấm. Khi bị cấm lần đầu, tôi tuân theo các quy định do những kẻ hành hạ đặt ra. Còn bây giờ tôi tỏ ra khinh thường những hạn chế ấy. Tôi sẽ không để cho sự tham gia của tôi vào cuộc tranh đấu và phạm vi các hoạt động của tôi về chính trị bị ấn định bởi kẻ thù mà tôi đang chống lại. Chấp nhận việc đối thủ giới hạn những hành động của mình là một dạng của chiến bại, và tôi quyết tâm sẽ không trở thành người cai ngục của chính mình.

    (hết phần IV)

    Lượm lặt từ Toà LS Houston viết:
    Người phát ngôn mới của Bộ Ngoại giao là ông Lê Hải Bình (37 tuổi)

    Trước khi nhận nhiệm vụ này, ông Bình đã làm quen với công việc trong lĩnh vực báo chí - thông tin với cương vị phó vụ trưởng Vụ Thông tin báo chí và đã một số lần chủ trì các cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao.

    Ông Bình công tác tại Bộ Ngoại giao từ năm 2000 ở Vụ Châu Á 2, rồi làm tùy viên Đại sứ quán VN tại Brunei. Sau đó, ông Lê Hải Bình lần lượt làm chuyên viên tại Vụ Châu Á 2, Văn phòng bộ, thư ký lãnh đạo bộ, thư ký bộ trưởng, phó vụ trưởng Vụ Chính sách đối ngoại kiêm thư ký phó thủ tướng - bộ trưởng Bộ Ngoại giao, phó vụ trưởng Vụ Chính sách đối ngoại kiêm phó viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược. Ông Bình là tiến sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế.

    Lượm từ tuoitreonline

    ...
    Hỏi:Trong thực tế có những tình huống cụ thể, vấn đề đối ngoại cụ thể có khoảng cách giữa cách xử lý chính thức với mong muốn người dân nên phần nào gây bức xúc trong dư luận, anh nghĩ gì về điều này?

    Lê Hải Bình:... Khi thực thi nhiệm vụ, phát ngôn chính thức lập trường đối ngoại thì người làm công vụ phải cân đo đong đếm, thật sự tỉnh táo, cân nhắc trước sau, bảo đảm giữ vững lợi ích quốc gia. Mà việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định cũng là lợi ích quốc gia. Vì thế, đôi khi có độ vênh giữa cách phản ứng chính thức của Nhà nước và cách phản ứng của một bộ phận người dân. Đây cũng là điều bình thường xảy ra ở nhiều nước khác.

    Với vị trí của một người phát ngôn, tôi mong có sự cảm thông, chia sẻ trong những tình huống nhất định. Còn về mặt ý thức, tình cảm thì mình vẫn là người dân Việt, cũng dòng máu ấy, trái tim ấy, sự sục sôi ấy.

    Hỏi: Anh còn là một võ sư, thầy dạy võ, tổng thư ký Liên đoàn Vovinam Hà Nội, võ thuật có ý nghĩa thế nào trong cuộc sống của anh?

    Lê Hải Bình: Võ là một phần rất quan trọng trong cuộc sống của tôi. Tôi mê võ thuật và tập từ năm 12 tuổi, cũng đã tập qua nhiều môn võ trước khi gắn bó với vovinam. Tôi gắn bó với vovinam vì trước hết đây là môn võ chú trọng dạy võ đi liền với dạy đạo, có giá trị quy tụ và giáo dục thanh niên rất tốt...

    Tôi đã dạy võ được gần mười năm, cũng đã dạy khắp nơi ở Hà Nội, số lượng học trò đến giờ chắc cũng hơn nghìn. Câu lạc bộ chính ở Học viện Ngoại giao thường xuyên có khoảng 100 võ sinh luyện tập. Tôi không thu học phí, và đội ngũ huấn luyện viên do tôi xây dựng cũng theo đúng tôn chỉ mình học võ để dạy lại cho người khác chứ không bán võ...

    KÊU CỨU

    - Chị ơi, nếu chị đi chơi trong công viên mà gặp một anh chàng đẹp trai đến ôm hôn thì chị sẽ làm gì?
    - Chị sẽ kêu cứu.
    - Kêu cứu thế nào?
    - Kêu khe khẽ để không ai nghe tiếng.
    ( Trích trong cuốn “Truyện Trào phúng”)

    Chuyện cấm đàn bà viết:
    1.
    Vợ mới sanh con đầu lòng, thương chồng bị "cấm quân" lâu ngày, vất vả ngược xuôi, nên đưa chồng ít tiền rồi thỏ thẻ bảo chồng đi "thư giản" ở ngoài, xả van một phát cho đỡ bức bối anh ạ, Em không phiền trách đâu. Chồng đi một lúc rồi về, trả lại vợ phân nửa số tiền và kể:
    - Anh định lên Xóm Mới, nhưng cô chủ quán chè đầu ngỏ cứ chèo kéo mãi, cô ấy thông cảm hoàn cảnh vợ đẻ nên giảm cho 50 phần trăm.
    - Con ranh láu cá thật, cô vợ gầm lên.
    - Ơ kìa Em, đi đâu mà chẳng thế, ông chồng hốt hoảng.
    - Em tức là tức nó đấy. Hồi trước nó đẻ, Em có lấy của chồng nó xu nào đâu?

    2.
    Một cặp vợ chồng mới cưới sửa sọan đi hưởng tuần trăng mật. Trước khi đi, mẹ cô vợ dặn dò hai người:
    - Nếu "lúc đó" mà làm từ từ thì đứa bé sau này sẽ là bác sĩ, làm nhanh hơn một chút nó sẽ là kỹ sư, còn vừa nhanh vừa mạnh sau này nó sẽ làm nghề đạp xích lô.
    Cả hai vợ chồng đều muốn đứa con tương lai thành bác sĩ nên trước khi lên giường anh chồng còn nhắc nhở:
    - Em ơi, bác sĩ nhé.
    Được 5 phút cô vợ rên rỉ:
    - Thôi kệ cho nó làm kỹ sư đi Anh.
    Nhưng sau 5 phút nữa, anh chồng la lên:
    - Để Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn.

    (trích báo Saigon Nhỏ)

    3.
    Chuyện cấm đàn bà nhưng không cấm mấy cô chưa chồng :D

    Cuối tuần, đọc cho vui ....

    22.000 người ký tên yêu cầu Mỹ trả Alaska cho Nga

    Sau vụ Nga giành lại Crimea, hơn 22.000 người đã ký đơn yêu cầu tách bang Alaska ra khỏi Mỹ và sáp nhập trở lại với Nga.

    Theo Hãng tin RIA Novosti ngày 25-3, đơn yêu cầu mang tên “Alaska trở lại với Nga” đã được mở hôm 21-3 trên trang web của Nhà Trắng. Nếu đơn yêu cầu này thu hút được 100.000 chữ ký trong một tháng, chính quyền Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ phải phản hồi chính thức theo luật.

    Một công dân giấu tên ở Anchorage, Alaska là người lập lá đơn này. Lá đơn chỉ rõ rằng trong quá khứ từ nhiều nghìn năm trước, người Nga đã đến thám hiểm ở Alaska. Trên thực tế, Alaska là lãnh thổ của Nga cho đến năm 1867.

    Khi đó, hoàng đế Nga Alexander II đã bán Alaska cho Mỹ với giá 7,2 triệu USD. Theo tỉ giá hiện tại nếu tính cả lạm phát, số tiền này tương đương với 120 triệu USD.

    Hồi tháng 11-2012, một số công dân bang Texas cũng đã gửi đơn đòi tách Texas ra khỏi Mỹ vì người dân bang này không hài lòng với chính sách kinh tế của chính quyền liên bang. Tổng cộng 125.000 người đã ký lá đơn đó.

    Chính quyền Obama đã bác bỏ yêu cầu này và khẳng định dù nước Mỹ đang phải đối mặt với nhiều thử thách, nhưng người Mỹ cần hòa đồng và hợp tác cùng nhau để tiến về phía trước. Người dân các bang Tennessee, Louisiana, South Carolina, North Carolina, Florida, Alabama và Georgia cũng từng xin tách khỏi Mỹ.

    1.
    Vợ mới sanh con đầu lòng, thương chồng bị "cấm quân" lâu ngày, vất vả ngược xuôi, nên đưa chồng ít tiền rồi thỏ thẻ bảo chồng đi "thư giản" ở ngoài, xả van một phát cho đỡ bức bối anh ạ, Em không phiền trách đâu. Chồng đi một lúc rồi về, trả lại vợ phân nửa số tiền và kể:
    - Anh định lên Xóm Mới, nhưng cô chủ quán chè đầu ngỏ cứ chèo kéo mãi, cô ấy thông cảm hoàn cảnh vợ đẻ nên giảm cho 50 phần trăm.
    - Con ranh láu cá thật, cô vợ gầm lên.
    - Ơ kìa Em, đi đâu mà chẳng thế, ông chồng hốt hoảng.
    - Em tức là tức nó đấy. Hồi trước nó đẻ, Em có lấy của chồng nó xu nào đâu?

    2.
    Một cặp vợ chồng mới cưới sửa sọan đi hưởng tuần trăng mật. Trước khi đi, mẹ cô vợ dặn dò hai người:
    - Nếu "lúc đó" mà làm từ từ thì đứa bé sau này sẽ là bác sĩ, làm nhanh hơn một chút nó sẽ là kỹ sư, còn vừa nhanh vừa mạnh sau này nó sẽ làm nghề đạp xích lô.
    Cả hai vợ chồng đều muốn đứa con tương lai thành bác sĩ nên trước khi lên giường anh chồng còn nhắc nhở:
    - Em ơi, bác sĩ nhé.
    Được 5 phút cô vợ rên rỉ:
    - Thôi kệ cho nó làm kỹ sư đi Anh.
    Nhưng sau 5 phút nữa, anh chồng la lên:
    - Để Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn.

    (trích báo Saigon Nhỏ)

    Tôi có đọc cái còm ý nói là ngày tết hay ngày nghỉ gì đó thì báo chí phải vui. Tôi muốn góp chuyện vui nhưng thấy viết truyện cười khó hơn đánh Mỹ nên sưu tầm truyện vui trong nước tặng bạn đọc Dân luận.

    CẢ MÌNH CŨNG YÊN TÂM (Trích trong cuốn Truyện Cười Việt-Anh của Trần Dzĩ Hạ)

    - Này chỗ bạn bè thân thiết, mình báo cho cậu biết: vợ mình vừa đặt vòng tránh thai, mình yên tâm lắm.

    - Ồ, thế à, cả mình cũng yên tâm.

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    PHẦN IV. ĐẤU TRANH LÀ ĐỜI SỐNG CỦA TÔI (đoạn 5)

    Nhiều tháng sau khi ông Luthuli được bầu làm Chủ tịch ANC, thì Giáo sư Matthews trở về nước vì hết làm giáo sư thỉnh giảng ở Mỹ và ông được trang bị với một ý tưởng có thể chỉnh đốn lại cuộc đấu tranh giải phóng. Trong một bài diễn văn, vị Giáo sư nói "Tôi tự hỏi thời điểm chưa đến hay sao để ANC xem xét vấn đề triệu tập một hội nghị toàn quốc, một đại hội của nhân dân, đại diện toàn thể dân chúng trong nước bất kể chủng tộc hay màu da, để thảo ra một bản Hiến chương Tự do cho Nam Phi Dân chủ trong tương lai.

    Trong vòng vài tháng, cuộc hội thảo toàn quốc của ANC chấp thuận đề xuất ấy, và thành lập Đại hội Nhân dân với Luthuli làm chủ tịch. Mục đích của nó là tạo ra một bộ nguyên tắc cho nền tảng của nước Nam Phi mới. Các đề nghị cho bản hiến chương sẽ đến từ chính nhân dân, và cấp lãnh đạo ANC ở khắp nơi được ủy quyền đi tìm ý kiến của mọi người trong địa bàn hoạt động. Bản hiến chương sẽ là một văn kiện do nhân dân hình thành.

    Đại hội Nhân dân đại diện cho một trong hai dòng suy nghĩ chính đang hoạt động ở nội bộ tổ chức ANC. Việc chính phủ sẽ cấm ANC có vẻ là điều không tránh khỏi, và nhiều người bàn luận rằng tổ chức nên chuẩn bị hoạt động kín một cách bất hợp pháp. Cùng lúc, chúng tôi không muốn từ bỏ các chính sách và hoạt động công cộng vốn gây nổi bật hình ảnh của ANC cũng như sự ủng hộ quần chúng. Đại hội Nhân dân sẽ là cách biểu lộ cho công chúng thấy sức mạnh ấy.

    Điều mơ ước của chúng tôi về Đại hội Nhân dân là nó sẽ trở thành một biến cố bước ngoặc trong lịch sử của cuộc tranh đấu cho tự do - một hội nghị tạo đoàn kết giữa mọi người bị áp bức và mọi lực lượng cấp tiến của Nam Phi, để dẫn đến lời kêu gọi hùng hồn cho tiến trình thay đổi.

    Chúng tôi cố gắng thu hút sự bảo trợ rộng lớn nhất và mời khoảng 2 trăm tổ chức - Da Trắng, Da Đen, Ấn độ, và Da Màu - để họ gởi đại diện tham dự cuộc hội thảo đề ra kế hoạch. Ở đó, Hội đồng Hành động Toàn quốc được thành lập gồm 8 thành viên từ 4 tổ chức chính. Chủ tịch là ông Luthuli và ban thư ký có 4 người kể cả Walter Sisulu (về sau anh ta bị lệnh cấm nên phải từ chức và được Oliver Tambo thay thế).
    [Liên minh gồm 4 tổ chức chính: ANC, SAIC, SACPO và COD.
    SAIC (Đại hội Người Ấn ở Nam Phi, đã giới thiệu ở một phần trước).
    SACPO (South African Coloured People's Organization - Tổ chức Người Da Màu Nam Phi)
    COD (Congress of Democrats - Đại Hội những Người Dân chủ), một đảng của người Da Trắng thiên tả và chống chính quyền. Tuy họ ít người và hoạt động giới hạn chỉ trong vài vùng nhưng gây ảnh hưởng rất lớn. Một số thành viên của COD là các nhà hùng biện bênh vực cho chính nghĩa của chúng tôi. COD tự nhận mình thân cận với ANC và SAIC; họ ủng hộ cho quyền công dân phổ thông và sự bình đẳng hoàn toàn bất kể màu da.]

    Hội đồng Hành động đã thỉnh mời các tổ chức đang tham dự và nhân sự của họ gởi về những đề nghị cho một hiến chương tự do. Thông tri được gỏi đến các thị trấn và làng xã khắp nơi trong nước với những câu như "NẾU BẠN CÓ THỂ BAN HÀNH LUẬT... THÌ BẠN SẼ LÀM GÌ?", "BẠN LÀM CÁCH NÀO BIẾN NAM PHI THÀNH NƠI HẠNH PHÚC CHO MỌI NGƯỜI DÂN CÙNG SINH SỐNG?". Một số truyền đơn và giấy dán vào tường còn mang những bài thơ mời gọi dân chúng tham gia vào kế hoạch.

    Lời kêu gọi đã nắm bắt được trí tưởng tượng và lòng mơ ước của dân chúng.

    Những lời đề nghị đã đến từ các câu lạc bộ văn hóa và thể thao, các nhóm tín đồ của nhà thờ, hội những người đóng thuế, các tổ chức phụ nữ, các trường học, các chi nhánh công đoàn. Thật là khiêm tốn khi thấy những đề nghị của thường dân có khi dẫn trước xa giới lãnh đạo. Đòi hỏi được nêu lên phổ thông nhất là "mỗi người một lá phiếu". [theo wiki, ANC đã phái 50 ngàn người tình nguyện đến các thị trấn và thôn quê để thu thập "các đòi hỏi cho tự do" từ dân chúng Nam Phi]

    Các chi bộ ANC đóng góp rất nhiều cho tiến trình soạn thảo bản hiến chương và thật ra hai bản nháp tốt nhất đã đến từ hai vùng Durham và Pietermaritzburg. Kết hợp của hai bản này được chuyển đến những vùng và ủy ban khác để được phê bình và đặt câu hỏi. Rồi một nhóm nhỏ của Hội đồng Hành động đã thảo ra chính bản hiến chương vốn được Ủy ban Điều hành của ANC duyệt lại. Theo kế hoạch, bản hiến chương sẽ được đưa ra trước Đại hội Nhân dân và mỗi phần của nó sẽ được trình lên các đại biểu để phê chuẩn.

    Đại hội Nhân dân được tổ chức trong hai ngày 25 và 26 tháng Sáu, 1955 ở Kliptown, một ngôi làng đa chủng tộc. Trên ba ngàn đại biểu đủ các màu da đến từ khắp nơi đã bất chấp sự đe dọa của cảnh sát, họ tụ họp để cùng nhau phê chuẩn phiên bản sau cùng của văn kiện. Tôi lái xe cùng với Walter đến Kliptown. Cả hai người vẫn còn bị lệnh cấm, vì thế chúng tôi tìm một chỗ bên rìa của đám đông để quan sát mà không trộn lẫn vào họ và cũng tránh bị bắt gặp [theo wiki, Mandela đã giả dạng làm một người bán sữa để tránh con mắt của cảnh sát]. Đám đông đã gây ấn tuợng về cả số người lẫn kỷ luật. Những người "tình nguyện cho tự do" mang băng với các màu đen, xanh cây và vàng kim [các màu cờ của ANC] trên cánh tay đi hướng dẫn các đại biểu và sắp xếp chỗ ngồi cho họ đối diện với một hình bánh xe có bốn nan tượng trưng cho bốn tổ chức của liên minh. Cảnh sát và nhân viên của Ban Đặc nhiệm đi chung quanh, chụp hình, ghi chú, và tìm cách đe dọa các đại biểu.

    Có cả chục bài hát và diễn văn. Rồi ăn uống. Không khí vừa nghiêm trang, vừa như lễ hội. Vào buổi chiều của ngày thứ nhất, bản hiến chương được đọc lớn từng đoạn một cho khán giả. Sau mỗi đoạn, đám đông vang lên lời đồng ý bằng tiếng hô "Afrika!" và "Mayibuye!" [trở thành màu đen]. Ngày đầu tiên của đại hội rất thành công.

    Ngày thứ nhì cũng tương tự như thế. Mỗi đoạn của bản hiến chương được chấp nhận bằng tiếng hoan hô và đến 3 giờ rưỡi chiều khi sự phê chuẩn sau cùng bằng phiếu bầu sắp diễn ra thì một đoàn cảnh sát và trinh sát của Ban Đặc nhiệm mang súng tiểu liên nhảy lên khán đài. Viên chỉ huy giành lấy máy vi âm, và loan báo với giọng cộc lốc rằng họ đang nghi ngờ một âm mưu phản quốc và không ai được rời khỏi hiện trường nếu không được cảnh sát cho phép. Họ bắt đầu xô đẩy người trên khán đài xuống và tịch thu các tài liệu, hình ảnh. Một đoàn khác trang bị súng trường dàn ra thành hàng rào an ninh bao quanh đám đông. Người ta phản ứng tuyệt diệu bằng cách hát to bài "Chúa ban phước lành cho Afrika". Rồi các đại biểu được phép rời khỏi từng người một sau khi bị cảnh sát tra vấn và ghi chép danh tánh. Tôi đã có mặt ở vùng rìa của đám đông khi cảnh sát khởi sự cuộc càn quét, và trong khi bản năng bảo tôi phải ở lại để trợ giúp thì lý trí có vẻ thắng thế, bởi vì nếu làm như vậy tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc và bị ném vào tù. Khi trở về đến Johannesburg, tôi được biết rằng cuộc càn quét ấy báo hiệu cho một khúc quanh thô bạo mới từ phía chính quyền.

    Mặc dù Đại hội Nhân dân bị phá tan nhưng bản hiến chương đó đã trở thành một ngọn đèn dẫn đường cho cuộc đấu tranh giải phóng. Cũng giống những văn kiện chính trị trường tồn khác như Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp, Bản Tuyên ngôn Cộng sản, thì Bản Tuyên ngôn Tự do [của Nam Phi] là một hỗn hợp của các mục tiêu thực tiễn và ngôn ngữ của thi ca. Nó kêu gọi hủy bỏ sự kỳ thị chủng tộc và mang đến những quyền bình đẳng cho mọi người. Nó mời gọi những ai trân trọng sự tự do hãy tham gia thành lập một Nam Phi dân chủ và phi chủng tộc. Nó thu tóm những hy vọng và mơ ước của dân chúng và tạo tác dụng như một bản vẽ cho cuộc đấu tranh giải phóng và cho tương lai của đất nước. Thật ra bản hiến chương ấy là một văn kiện cách mạng, bởi vì những sự thay đổi mà nó hình dung ra không thể nào đạt được nếu không sửa chữa lại tận gốc cấu trúc kinh tế và chính trị của Nam Phi. Lời mở đầu của nó được viết:

    Chúng tôi, nhân dân của Nam Phi, tuyên bố cho toàn đất nước chúng tôi và cả thế giới cùng biết:

    Rằng Nam Phi thuộc về tất cả mọi người sinh sống ở đây, Đen và Trắng, và rằng không một chính quyền nào có thể xác nhận một cách chính đáng quyền lực cho mình trừ khi nó được dựa vào ý nguyện của nhân dân;

    Rằng nhân dân của chúng tôi đã bị cướp đi quyền thừa kế đất đai, tự do và hòa bình bởi một dạng chính quyền vốn được thành lập dựa vào bất công và bất bình đẳng;

    Rằng đất nước của chúng tôi sẽ không bao giờ thịnh vượng hay tự do cho đến khi tất cả nhân dân của chúng tôi sinh sống trong tình huynh đệ, cùng hưởng quyền bình đẳng và cơ hội;

    Rằng chỉ một quốc gia dân chủ, dựa vào ý nguyện của nhân dân, mới có thể bảo đảm cho mọi người về quyền thừa kế của họ mà không phân biệt màu da, chủng tộc, giới tính hay tín ngưỡng;

    Và bởi vậy, chúng tôi, nhân dân Nam Phi, Đen và Trắng, bình đẳng, đồng hương và huynh đệ đã thông qua bản HIẾN CHƯƠNG TỰ DO này. Và chúng tôi tự cam kết sẽ cùng nhau phấn đấu, không hề tiết kiệm sức mạnh và can đảm của mình, cho đến khi những thay đổi cho dân chủ ở đây đạt chiến thắng.

    Rồi bản hiến chương dàn ra những điều kiện cho một nước Nam Phi tự do và dân chủ, gồm có các điểm chính:
    - Nhân dân nhất định sẽ nắm quyền!
    - Tác cả các nhóm chủng tộc nhất định sẽ có các quyền bình đẳng!
    - Nhân dân nhất định sẽ dự phần vào tài sản quốc gia!
    - Đất đai nhất định sẽ phân chia cho những người dùng nó làm công cụ!
    . . . . [Tác giả không liệt kê hết sáu điểm chính nữa. Xin tham khảo toàn văn Bản Hiến chương Tụ do ở đây http://www.nelsonmandela.org/omalley/index.php/site/q/03lv01538/04lv01600/05lv01611/06lv01612.htm]

    (còn tiếp)

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    PHẦN IV. ĐẤU TRANH LÀ ĐỜI SỐNG CỦA TÔI (đoạn 4)

    [Đoạn này nói về cuộc đấu tranh trong ngành giáo dục, cho nên cần phải giới thiệu đôi chút về bối cảnh của nó]

    Từ đầu thế kỷ, người Phi được hưởng học vấn chủ yếu nhờ các tổ chức tôn giáo vốn thiết lập và bảo trợ các trường học. Vào thời của Đảng Đoàn kết, chương trình giảng dạy cho học sinh Da Trắng và Da Đen đều giống nhau ở bậc trung học. Người Phi chúng tôi bị giới hạn bởi phương tiện trường ốc kém cỏi chứ không bởi những gì có thể đọc, suy nghĩ, hay mơ tưởng. Dù thế, sự cách biệt trong chi phí cho giáo dục đủ nói lên tính kỳ thị chủng tộc. Chính quyền tiêu tốn gấp gần sáu lần cho mỗi học sinh Da Trắng so với học sinh Da Đen. Giáo dục không có tính bắt buộc cho người Phi và chỉ được miễn phí ở cấp tiểu học. Không đến một nửa tổng số trẻ em Phi có đủ điều kiện để đến trường và chỉ một số nhỏ có thể tốt nghiệp trung học. Thậm chí mức độ giáo dục như thế vẫn làm Đảng Dân tộc khó chịu. Người Âu luôn luôn không hăng hái về giáo dục cho dân Da Đen; đối với họ đấy là điều phí phạm bởi vì dân Da Đen bẩm sinh là dốt nát lẫn lười biếng, và không có giáo dục nào có thể sửa chữa được. Họ cũng chống đối việc người Phi học tiếng Anh, vì đây là ngôn ngữ của họ và cũng là ngôn ngữ của sự giải phóng cho người Da Đen.

    Năm 1953, Nghị viện thông qua "Đạo luật Giáo dục cho Dân Phi" nhằm áp đặt apartheid vào lãnh vực giáo dục của người Da Đen. Theo luật này, các trường tiểu và trung học do các tổ chức tôn giáo điều hành được chọn một trong hai: hoặc chuyển giao trường cho chính quyền, hoặc chỉ nhận được tài trợ bị cắt giảm dần dần. Một viên chức cao cấp nói rằng giáo dục "phải dạy và huấn luyện con người tùy theo cơ hội của họ trong đời sống"; ý của ông ta là người Phi đã và sẽ không có cơ hội nào, thế thì tại sao cần giáo dục họ? Và rằng "Không có chỗ cho dân Da Đen trong cộng đồng người Âu cao hơn tầm mức của những dạng lao động nhất định"; có nghĩa người Phi nên được huấn luyện trở thành công nhân thấp kém và mãi mãi ở vị thế lệ thuộc vào người Da Trắng.

    Đối với ANC, đó mà một biện pháp cực kỳ nham hiểm được đề ra nhằm trì hoãn sự tiến bộ của văn hóa người Phi, và khi được ban hành sẽ đẩy lùi cuộc tranh đấu của người Phi cho tự do. Như Giáo sư Matthews đã viết vào thời ấy, "Giáo dục của chính quyền nhằm gây sự dốt nát và thấp kém thì còn tệ hơn là chẳng có giáo dục gì cả".

    Đạo luật này gây căm phẫn rộng khắp trong cộng đồng các màu da; ngoại trừ một số ít, tất cả các nhà thờ đạo Ki tô đều phản đối biện pháp mới về giáo dục. Nhưng sự đoàn kết của việc phản đối chỉ hạn chế trong vòng lên án chính sách, chứ không phản kháng chống lại. Giáo hội Anglicans, vốn luôn chỉ trích đạo luật một cách mạnh mẽ, không thể thống nhất về phản ứng: Giám mục Reeves của vùng Johannesburg hành động cực đoan bằng cách đóng cửa các trường học của ông với khoảng 10 ngàn học sinh; trong khi vị Tổng Giám mục của toàn Nam Phi lo lắng không muốn để trẻ em chạy rông, nên giao những trường còn lại cho chính quyền. Đa số những nhà thờ khác, dù phản đối nhưng vẫn giao chuyển các trường học của họ theo cùng một cách thức. Một số ít nhà thờ vẫn kiên trì công tác giáo dục mà không nhờ vả vào phụ cấp của chính quyền. Nếu tất cả các nhà thờ khác đều đã theo gương phản kháng thì có lẽ chính quyền phải đối diện với thế bí và phải đi đến thỏa hiệp. Thay vì vậy, nhà nước đã qua mặt chúng tôi.

    ANC khởi sự bàn luận trong bí mật về các kế hoạch tẩy chay ở trường học dự tính sẽ bắt đầu vào ngày luật mới được áp dụng. Chúng tôi bàn cãi hai hướng đi: hoặc kêu gọi dân chúng tham gia phản kháng trong một thời gian giới hạn, hoặc tuyên bố tẩy chay vô thời hạn nhằm phá hủy đạo luật mới trước khi nó bắt rễ. Cuộc tranh luận thật dữ dội, và cả hai phía đều có những người chủ trương đầy thuyết phục. Lý lẽ cho hướng tẩy chay vô thời hạn nhấn mạnh rằng đạo luật mới là một liều thuốc độc không thể uống vào thậm chí khi sắp phải chết khát; chấp nhận nó sẽ gây nên tai hại không thể sửa chữa được. Họ cho rằng đất nước đang như một thùng thuốc nổ và dân chúng lại thèm khát một điều gì còn ngoạn mục hơn việc phản kháng.

    Mặc dù nổi danh là tay gây rối, tôi luôn cảm thấy rằng một tổ chức không nên bao giờ hứa làm những gì mình không thể, vì như thế sẽ đánh mất lòng tin tưởng của quần chúng. Lập trường của tôi là sự quyết định cho hướng hành động không nên được dựa vào những suy nghĩ lý tưởng, mà nên dựa vào tình hình thực tế. Cuộc tẩy chay vô thời hạn sẽ đòi hỏi một bộ máy khổng lồ và tài nguyên rộng rãi mà chúng tôi không có, và các chiến dịch của ANC trong quá khứ đã không cho thấy chúng tôi mang quyết tâm như vậy. Thật đơn giản, không thể nào chúng tôi thiết lập kịp các nhà trường của riêng mình để thu nhận hàng trăm ngàn học sinh, và nếu không đưa ra cho dân chúng một chọn lựa tốt thì chúng tôi hầu như chẳng cung ứng điều gì cả. [đây cũng là bài học Mandela rút ra từ chiến dịch chống di dời Sophiatown, một trong những lý do thất bại là ANC không thể nào tạo ra nhà cửa cho cư dân trong vùng]. Vì thế, cùng với những người khác, tôi hô hào cho một cuộc tẩy chay ngắn hạn.

    Ủy ban Điều hành Toàn quốc ra nghị quyết đồng ý chỉ nên tẩy chay trong một tuần lễ; nhưng trong hội nghị ANC tiếp theo, các đại biểu bác bỏ đề nghị ấy và bầu cho một cuộc tẩy chay vô hạn định. Cùng lúc đó chính quyền loan báo họ sẽ đóng cửa vĩnh viễn những trường nào tẩy chay và các trẻ em không đến trường sẽ không được nhập học trở lại.

    Để cuộc tấy chay có thể tiến hành, các phụ huynh và cộng đồng sẽ phải nhập cuộc để thay thế cho trường học. Tôi nói với phụ huynh và các thành viên ANC rằng mỗi ngôi nhà, mỗi căn lều, mỗi phòng họp cộng đồng phải trở thành một trung tâm học tập cho con em của chúng tôi. Cuộc tẩy chay đã bắt đầu và đem lại những kết quả lẫn lộn; nó thường là rời rạc, kém tổ chức, và thiếu hiệu quả. Ở phía Đông của vùng Rand, nó tác động đến khoảng 7 ngàn học sinh; những cuộc tuần hành vào sáng sớm thúc giục phụ huynh giữ con cái lại ở nhà; các phụ nữ đứng cản ở trường học và dẫn về những trẻ em nào đi lang thang vào đó.

    Joshua Makue, chủ tịch chi bộ ANC ở Germinston, đã điều hành một trường học trong 3 năm cho 8 trăm học sinh đang tham gia tẩy chay. Barrett Tyesi, một giáo viên ở Port Elizabeth, đã từ chức để thành lập một trường riêng; đến năm 1956 anh ta cho 70 học sinh của mình đi thi, trong đó chỉ có 3 học sinh bị đánh rớt. Ở nhiều nơi, những trường học tài tử được mọc ra, thường gọi là "câu lạc bộ văn hóa" để tránh sự dòm ngó của nhà chức trách. Vì thế chính quyền ra luật cấm đoán việc dạy và học không có giấy phép, kẻ vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc tù. Cảnh sát quấy rối những câu lạc bộ này, nhưng chúng vẫn tiếp tục hoạt động kín. Sau cùng, phong trào các trường học cộng đồng trở nên héo tàn, và rồi phụ huynh chọn giáo dục tồi của chính quyền còn hơn chẳng học hành gì cả.

    Chiến dịch này nên được đánh giá ở hai mức độ: mục tiêu trước mắt có đạt được không, và dân chúng có được chính trị hóa, được lôi kéo vào cuộc tranh đấu không. Ở mức độ một, rõ ràng chiến dịch đã thất bại; chúng tôi đã không đóng cửa các trường học [của chính quyền] dành cho người Phi mà cũng không tự giải thoát khỏi đạo luật giáo dục. Tuy nhiên sự phản kháng của chúng tôi đã làm chính quyền lo lắng đến nỗi phải sửa lại luật, và bắt buộc phải tuyên bố rằng giáo dục nên được bình đẳng cho mọi người. Nhưng hệ lụy của đạo luật giáo dục về sau quay trở lại ám ảnh chính quyền theo một cách không thể thấy trước. Chính do đạo luật ấy mà thập niên 1970 đã sinh ra một thế hệ tuổi 20 gồm những thanh niên Da Đen giận dữ nhất, nổi loạn nhất trong lịch sử Nam Phi. [Không thấy tác giả đánh giá cho mức độ hai]

    (còn tiếp)

    BƯỚC ĐƯỜNG DÀI ĐẾN TỰ DO ("Long Walk To Freedom", tự truyện của Nelson Mandela)
    http://archive.org/stream/LongWalkToFreedom/PBI3231_djvu.txt

    PHẦN IV. ĐẤU TRANH LÀ ĐỜI SỐNG CỦA TÔI (đoạn 3)

    [Một đoạn kể chuyện Mandela sau khi lệnh cấm di chuyển khỏi thành phố vừa hết hạn, ông ta muốn về thăm quê nhà nên nhận biện hộ cho một thân chủ ở trong vùng]

    Nhưng khi tôi vừa bước vào tòa án thì một tốp cảnh sát đang chờ sẵn, không nói một lời, họ đưa ra án lệnh dựa vào luật Cấm chỉ Cộng sản, buộc tôi phải từ chức khỏi ANC, hạn chế di chuyển trong vùng Johannesburg, và cấm tôi hai năm không được tham dự bất cứ cuộc mit tinh hay họp mặt nào. Tôi biết những biện pháp như thế rồi cũng đến nhưng không ngờ mình phải nhận lệnh cấm nơi một ngôi làng hẻo lánh.

    Tôi đã được 35 tuổi và những lệnh cấm mới nặng nề hơn như thế này đã chấm dứt thời kỳ gần một thập niên hoạt động với ANC, những năm ấy chính là thời gian cho tôi giác ngộ và trưởng thành về chính trị, và cho sự tận tâm ngày càng tăng với cuộc tranh đấu vốn trở thành đời sống của tôi. Từ nay trở đi, mọi hành động và kế hoạch của tôi nhân danh ANC và cuộc đấu tranh giải phóng sẽ trở thành bí mật và bất hợp pháp. [Trong suốt 9 năm, Mandela trải qua những khoảng thời gian bị cấm và tự do xen kẻ nhau, có khi ông bị cấm 6 tháng, có khi 5 năm dài]

    Những lệnh cấm tôi hoạt động chính trị đã kéo tôi từ trung tâm của cuộc đấu tranh ra vùng bìa, từ vai trò chủ yếu trở thành vị thế ngoại vi. Tuy tôi thường được tham khảo và có khả năng gây ảnh hưởng đến phương hướng của các biến cố, nhưng tôi làm như thế từ một khoảng cách xa và chỉ khi nào có ai hỏi đến rõ ràng. Tôi không còn cảm thấy như một cơ quan sinh tử của thân thể, mà chỉ còn là một cánh tay bị cắt rời.

    Ngay cả các chiến sĩ cho tự do, ít nhất trong trường hợp này, cũng phải tuân hành luật lệ, và vào thời gian ấy, đi tù do vi phạm lệnh cấm của tôi sẽ là vô dụng cho ANC và cả cho tôi. Chúng tôi chưa đạt đến tình thế cách mạng mở rộng, công khai chiến đấu chống lại thể chế với bất cứ giá nào. Chúng tôi tin rằng tổ chức kín vẫn tốt hơn là đi tù. Khi tôi bị cưỡng ép từ chức khỏi ANC, chức vụ của tôi phải được người khác thay thế, và tôi không còn có thể sử dụng quyền hạn mà tôi đã từng có.

    Tôi nhận lệnh cấm một tháng trước khi hội nghị ANC vùng Transvaal [chi bộ này do Mandela làm chủ tịch] được tổ chức, và tôi đã hoàn tất bản thảo của bài diễn văn vốn được Andrew Kunene (một thành viên của Ủy ban Điều hành) đọc trước cử tọa hội nghị. Bài ấy về sau được gọi là bài diễn văn "Không dễ dàng cho bước chân đến tự do", có một câu trích của Jawaharlal Nehru [đồng chí của Mahatma Gandhi, và làm Thủ tướng đầu tiên của Ấn độ sau khi giành được độc lập], tôi nói rằng giờ đây dân chúng phải chuẩn bị cho những dạng mới cho đấu tranh chính trị. Các luật lệ và chiến thuật mới của chính quyền đã khiến những dạng cũ cho phản kháng quần chúng trở thành cực kỳ nguy hiểm và tự hủy diệt. Báo chí không đăng những gì chúng ta tuyên bố; nhà in từ chối in truyền đơn của chúng ta, tất cả chỉ vì sợ bị ghép tội qua Đạo luật Cấm chỉ Cộng sản.

    Vào tháng 4/1954, Hội Luật pháp đệ đơn kiện lên Tòa Thượng thẩm đòi rút tên tôi ra khỏi danh sách các luật sư được phép hành nghề; họ dựa vào việc tôi đã bị lãnh án qua các hoạt động chính trị trong Chiến dịch Bất tuân; như thế hạnh kiểm của tôi trở nên đồi bại và không chuyên nghiệp. Một số người ủng hộ tôi và muốn giúp đỡ miễn phí trong vụ kiện, trong đó gồm cả những luật sư người Âu vốn theo đường lối của Đảng Dân tộc nhưng họ tin rằng đơn kiện ấy lệch lạc và bất công. Hai luật sư nổi tiếng Walter Pollak và William Aronsohn chính thức biện hộ cho tôi.

    Chúng tôi biện luận rằng đơn kiện ấy là sự lăng mạ cho ý tưởng về công lý và rằng tôi có một quyền cố hữu được tranh đấu cho những niềm tin chính trị của mình; đó chính là quyền của mọi người trong một nhà nước pháp quyền. Nhưng Pollak đưa ra một luận cứ nặng cân bằng cách dùng án lệ của một người tên Strijdom vốn bị bắt giữ trong Thế chiến II vì thân Đức Quốc xã nhưng rồi anh ta bị kết tội ăn trộm xe hơi. Về sau anh ta được tự do và nộp đơn xin vào Luật sư đoàn. Mặc dù anh ta có tiền án và Luật sư đoàn phản đối, tòa án quyết định cho anh gia nhập vì cho rằng bản án ấy mang tính chính trị và một người không thể bị cấm hành nghề luật sư vì những niềm tin chính trị của mình. Pollak còn nói thêm "Dĩ nhiên Strijdom và Mandela rất khác nhau. Mandela không thuộc Đảng Dân tộc và Mandela không là người Da Trắng".

    Thẩm phán Ramsbottom chủ tọa phiên xử, là một điển hình của một số các quan tòa hành xử nhằm bảo vệ sự độc lập của ngành Tư pháp và từ chối làm cái loa cho Đảng Dân tộc. Sự phán xét của ông ta trong trường hợp này là tán thành yêu sách của chúng tôi rằng tôi có quyền tham gia chiến dịch cho những niềm tin chính trị của mình mặc dù như thế là chống lại chính quyền, và ông ta bãi bỏ đơn kiện của Hội Luật pháp.

    Trở lại Chiến dịch Chống di dời ở Sophiatown, đó là một cuộc chiến kéo dài; cả chúng tôi lẫn nhà nước đều cố thủ chiến tuyến của bên mình. Suốt năm 1954 rồi qua 1955, mỗi tuần đều có hai buổi mit tinh, và các diễn giả thay nhau chỉ trích kế hoạch của chính quyền. Chúng tôi vận hành chiến dịch qua khẩu hiệu "Bước qua xác chết của chúng tôi" vốn được hô to trong các cuộc biểu dương.

    Chính quyền lên lịch sẽ bắt đầu cuộc di dời vào ngày 9/2/1955. Những ngày cận kề, Oliver Tambo và tôi có mặt ở thị trấn hàng ngày, họp với các lãnh đạo địa phương, bàn thảo các kế hoạch, và giúp trong khả năng nghề luật những ai bị truy tố hoặc bị cưỡng bách rời khỏi khu vực. Chúng tôi tìm cách chứng minh với tòa án rằng văn bản của chính quyền thường sai phạm và do đó nhiều lệnh trục xuất là bất hợp pháp. Nhưng đây chỉ là biện pháp tạm thời; chính quyền sẽ không để cho một vài tiểu tiết cản trở con đường của họ.

    Ngay trước ngày ấy, một cuộc biểu dương quần chúng đặc biệt được hoạch định sẽ diễn ra ở Quảng trường Tự do với 10 ngàn người tham dự để nghe Chủ tịch Luthuli diễn thuyết. Nhưng khi vừa đến Johannesburg, ông ta nhận được lệnh cấm và bắt buộc phải quay trở về Natal.

    Vào đêm trước ngày di dời, Joe Modise, một trong những lãnh đạo tận tâm của ANC địa phương, nói chuyện trước một cuộc mit tinh căng thẳng gồm hơn 500 thanh niên hoạt động. Họ trông chờ ANC ra lệnh cho họ chiến đấu chống lại cảnh sát và quân đội. Qua đêm họ đã chuẩn bị dựng lên các rào cản và hôm sau với vũ khí cũng như bất kỳ thứ gì lọt vào tay, họ sẽ giao chiến cùng cảnh sát. Họ đinh ninh rằng khẩu hiệu của chúng tôi phải được chứng tỏ bằng sự thật, nghĩa là Sophiatown sẽ được di dời chỉ sau khi cảnh sát bước qua xác chết của chúng tôi.

    Tuy nhiên sau khi bàn thảo với lãnh đạo ANC kể cả tôi, Joe bảo đám thanh niên hãy nguội lại. Họ trở nên giận dữ và cảm thấy bị phản bội. Nhưng chúng tôi tin bạo động sẽ là một thảm họa. Chúng tôi chỉ ra rằng một cuộc nổi dậy cần phải được hoạch định cẩn thận, nếu không đó chỉ là một hành động tự sát. Chúng tôi chưa sẵn sàng chiến đấu chống lại kẻ thù vốn có nhiều lợi thế hơn.

    Vào sáng tinh sương ngày 9/2, bốn ngàn cảnh sát và binh lính giăng rào quanh thị trấn trong khi công nhân san bằng những căn nhà trống và xe tải bắt đầu chở các gia đình đến vùng định cư mới. Đêm hôm trước, chúng tôi đã cho di tản nhiều gia đình về cư ngụ chung với những người thân ANC ở trung tâm thị trấn; những cố gắng này quá ít và quá trễ, và chúng chỉ là biện pháp lấp chỗ trống. Quân đội và cảnh sát làm việc hiệu quả một cách tàn nhẫn; và chỉ sau vài tuần lễ, cuộc phản kháng của chúng tôi sụp đổ. Hầu hết các lãnh đạo ANC địa phương đều bị lệnh cấm hoặc bị bắt giữ. Sau cùng, Sophiatown bị bức tử không do tiếng súng nổ mà chỉ do tiếng ầm ầm của xe tải và búa tạ.

    Bạn có thể luôn luôn đúng về một hành động chính trị mà bạn đọc từ báo chí ngày hôm sau, nhưng khi bạn đang ở trung tâm của một cuộc đấu chính trị nóng bỏng thì bạn có rất ít thời gian để suy ngẫm. Chúng tôi đã phạm nhiều lầm lỗi trong chiến dịch chống di dời khỏi Khu vực Tây và rút ra được một số bài học. Khẩu hiệu "Bước qua xác chết của chúng tôi" thật là sống động, nhưng nó chứng tỏ là một trở lực cũng ngang bằng với lợi ích. Khẩu hiệu là một cầu nối sinh tử giữa tổ chức và quần chúng mà nó lãnh đạo; khẩu hiệu nên tổng hợp một mối bất bình cụ thể vào một cụm từ ngắn gọn và mạnh mẽ, đồng thời vận động quần chúng chiến đấu chống lại mối bất bình ấy. Khẩu hiệu của chúng tôi nắm bắt được trí tưởng tượng của đám đông, nhưng nó khiến người ta tưởng rằng chúng tôi sẽ chiến đấu đến chết để chống sự di dời. Thật ra, ANC đã chưa chuẩn bị chút nào cả cho việc đó!

    Bài học tôi rút ra từ chiến dịch này là sau cùng, chúng tôi không có chọn lựa nào nữa ngoài phương cách phản kháng vũ trang và bạo động. Hết lần này sang lần khác, chúng tôi đã dùng tất cả mọi vũ khí bất bạo động lấy từ trong kho: diễn văn, đại biểu, đe dọa, tuần hành, đình công, bất hợp tác, tự nguyện vào tù - tất cả đều vô ích, bởi những gì chúng tôi làm đều được đáp trả bởi bàn tay sắt. Một chiến sĩ cho tự do học từ kinh nghiệm cay đắng rằng chính kẻ áp bức xác định con đường đấu tranh, và người bị áp bức thường không còn sự nhờ cậy nào khác ngoài việc dùng đến những cách thức phản chiếu lại biện pháp của kẻ áp bức. Ở một thòi điểm nào đó, bạn chỉ có thể dùng hoả lực để chống lại hỏa lực.

    (còn tiếp)

    Lực lượng CA nhân dân dưới mắt nhìn một phóng viên báo Thanh Niên.

    Phóng sự báo Thanh Niên viết:
    Về đồn. Hôm đó bắt được khá nhiều nhưng tôi nhớ nhất một em khai 16 tuổi, phổng phao, xinh đẹp, quê ở Đồng Nai, trốn nhà đi bụi và một thiếu phụ khoảng 45 tuổi, người đầy đặn, nét mặt hiền hậu. Đó cũng là lần đầu tiên tôi tận mắt chứng kiến một buổi lấy cung trong nhục hình của công an phường X.

    Các công an lấy cung bắt em gái chụm tay đặt phần ngón lên bàn. Rút thắt lưng, chập đôi lại, vừa hỏi gằn từng câu vừa quật thẳng cánh xuống các đầu móng tay sơn đỏ. Chỉ chốc lát, nước mắt cô gái giàn giụa lem luốc hết khuôn mặt phấn son, tóc rũ ra, người giật lên sau mỗi lần chiếc thắt lưng quật xuống.

    Còn thiếu phụ nọ không ngồi trên ghế mà ôm đầu ngồi dí xuống sàn. Người hỏi cung rất thành thạo túm từng nhúm tóc bên thái dương chị ta giật mạnh. Không khai. Anh ta thẳng chân đá mạnh vào hạ bộ chị nọ. Hết cú này đến cú khác. Mỗi cú đá, chị ta gập mình lại rên rỉ, nước mắt lấp lánh trên mặt.

    Tôi run hết cả người, quên hết mình đang ở đâu, quên hết mình đang làm gì. Đang đứng trong một nhóm công an bên ngoài, tôi nhao lên. Thì người đồng nghiệp tôi giữ chặt lại và nói thầm: "Đừng". Tôi cảm thấy ruột gan trào ra ngoài. Tôi cảm thấy muốn nôn ọe.

    Lát sau, anh đội trưởng mời tôi ra uống trà. Anh xin lỗi tôi, hỏi tôi có làm sao không, rồi giải thích: "Không làm thế, những người này không khai ra bọn tú bà. Họ bị bắt rất nhiều lần rồi, đưa lên trại hết thời hạn lại quay về, ra đường đứng tiếp. Nhiều khi cứ vài tháng lại bắt lên trại một lần. Công an đi bắt quá nhiều lần, quen mặt hết trơn, biết cả gia cảnh. Nhưng nếu không khui ra được đường dây (đường dây tổ chức bán dâm - NV) thì dù biết rõ ràng (họ được chăn dắt) cũng không thể làm gì hơn. Bắt vô trung tâm một tuần, có người lên bảo lãnh là nó được ra. Như con nhỏ này. Đi đứng đường tiếp, có lúc thấy anh em còn cười. Anh em cảm thấy công việc của mình như bắt cóc bỏ dĩa, hết sức mệt mỏi. Nhưng không làm thì không được".

    Đọc toàn bài ở đây

    Khoai to bồn thì tốt cộ
    Đậu ba lá thì vừa un
    Gà mất mẹ thì lâu khun.
    Gái thiếu trai thì thậm khổ.
    Trai thiếu gái cũng thậm khổ !
    Trời sinh voi thì sinh cỏ
    Trời sinh giếng thì sinh mo
    Trời sinh sông thì sinh đò.
    Trời sinh O thì sinh tui.
    O một mình cũng khôn đặng
    Tui một mình cũng khôn đặng.
    Gió ngoài biển hắn dồn vô
    Mây trên trời hắn cuốn lại.
    O với tui cùng cuốn lại.
    (Dân ca- Ca dao Quãng Bình)

    Pages