Quán nước Dân Luận

  • Bởi tqvn2004
    01/02/2009
    1.995 phản hồi

    Vào đây đọc tin không chắc các bác cũng buồn, vì hiện giờ không nhiều tin tức, và nếu có thì tin cũng không cập nhật nhanh được như diễn đàn. Dân Luận đáng lẽ phải có một khu để tán dóc, khổ nỗi tôi chưa kiếm được plugin để làm shoutbox cho hợp lý.

    Vì vậy, tôi lập ra mục này để mọi người cùng tán chuyện cho vui. Không giới hạn chủ đề, miễn là lịch sự và tôn trọng lẫn nhau là được :)

    Nào, hãy cùng khởi động quán nước Dân Luận, ngồi lê đôi mách nào!

    _____________________________

    Chú ý các liên kết hay được sử dụng trên Dân Luận:

    Chủ đề: Thư giãn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1995 phản hồi

    Gửi bác Hồ Gươm bản dịch này:

    Tự do ngôn luận: Tại sao Hoa kỳ lại bảo vệ những kẻ phủ nhận sự kiện thảm sát người Do thái (Holocaust)
    http://usaerklaert.wordpress.com/2006/11/22/free-speech-teil-1-warum-die-usa-holocaust-leugner-schutzen/

    Đã đến lúc chúng ta nói về sự khác biệt quan trọng nhất giữa Hoa kỳ và Đức trong quan điểm về tự do ngôn luận. Đây là một trong những chủ đề gây tranh cãi lớn nhất trong mối quan hệ Hoa kỳ - Đức và cho dù không đưa lại sự thay đổi nào thì ít nhất chúng ta cũng sẽ làm cho mọi người biết rằng tại sao họ lại nổi xung lên như thế.

    Do vậy chúng tôi sẽ từng bước một trình bày quan điểm của người Mỹ về tự do ngôn luận, freedom of speech. Chúng tôi sẽ chỉ ra những giới hạn hay đúng hơn là những khiếm khuyết của nó và cũng sẽ trình bày những gì được hy sinh cho nó và tại sao. Điều này không phải là không nguy hiểm: kinh nghiệm cho thấy người châu Âu đã từng bực tức nổ đầu khi biết được tất cả những gì ở Hoa kỳ được phép cho làm.
    Chính vì thế chúng tôi bắt đầu một cách thận trọng với những điểm giống nhau.

    Cả Hoa kỳ và Đức đều là những nền Dân chủ chính vì thế cả hai nhà nước về cơ bản đều cho rằng việc kiểm duyệt là không hay. Người ta cũng nhất trí rằng, tự do ngôn luận không thể không có giới hạn: trong một rạp chiếu film chật ních những người không thể có ai đó vô cớ lại hô to "Cháy, cháy!", nếu thật vậy thì ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương mọi người đều sẽ nổi giận. Tuy nhiên dù thế cũng vẫn có những điều ngoại lệ. Và điểm khác biệt nằm ở chỗ ở Đức có nhiều điều ngoại lệ hơn là ở Hoa kỳ.

    Nguyên nhân nằm ở chỗ, cái gì trong mỗi Hiến pháp của mỗi nước được coi là cao quý nhất. Ở Đức điều 1 của Luật cơ bản ghi rằng:

    Trích dẫn:
    Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen ist Verpflichtung aller staatlichen Gewalt.

    [Phẩm giá của con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nghĩa vụ của mọi quyền lực nhà nước.]

    Về giá trị, tương đương với điều trên trong Hiến Pháp Hoa kỳ đó là First Amendment:

    Trích dẫn:
    Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the Government for a redress of grievances.

    [Quốc hội sẽ không đưa ra các điều luật về việc thành lập tôn giáo, hoặc [về việc] ngăn cấm tự do hoạt động tín ngưỡng; hoặc [về việc] hạn chế tự do ngôn luận, hoặc [về]tự do báo chí hoặc [về] quyền của mọi người được tự do hội họp một cách ôn hòa, và kháng nghị chính phủ giải quyết việc khiếu nại]

    Một câu văn dài thảm hại đề cập cùng một lúc nhiều việc khác nhau: tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí (những cái này sau đây chúng tôi sẽ bàn luận từng phần riêng biệt), tự do hội họp và quyền được chọc giận những vị đại diện dân chúng bằng những cú rắm đánh ngang mặt. Và ngay trong các mục này quyền tự do ngôn luận một lần nữa lại nằm ở vị trí đặc biệt.

    Bởi theo quan điểm của người Mỹ, một sự tự do ngôn luận sâu rộng về lâu dài đó là khả năng duy nhất để bảo vệ quyền công dân. Lúc mà, ở đó nhà nước được phép giới hạn một phần tự do ngôn luận cũng là lúc chính nó đã lẩn tránh được phần nào sự kiểm soát của dân chúng, và nó có thể che dấu những vi phạm khác trước người dân. Nền Dân chủ từ đó bị đục khoét dần dần như bởi một khối u. Không có tự do ngôn luận coi như không có Tự do.

    Chính vì thế mà người Mỹ bảo vệ phần này của First Amendments với tất cả sự cuồng nhiệt: Đó là trái tim của nền Dân chủ. Hơn thế nữa, theo họ đó là trái tim của mọi nền Dân chủ. Do đó người Mỹ phản ứng một cách bất bình, không thể hiểu được với một số các hiện tượng ở những quốc gia khác, trong đó tự do ngôn luận chỉ được coi là một quyền như những quyền khác, nó cũng quan trọng nhưng không phải quan trọng nhất.

    Đức là một nước như vậy. Điều này cũng có logic của nó: nếu như người ta đặt Nhân phẩm của con người vào vị trí hàng đầu, thì dĩ nhiên việc giới hạn tự do ngôn luận là điều cần thiết, bởi vì nhiều cái được viết hoặc được nói ra sẽ xâm phạm nó [nhân phẩm]. Mặc dù Luật cơ bản đảm bảo việc tự do ngôn luận ở điều 5 (thứ tự này đối với người Mỹ cũng đáng để nghi ngờ). Thế nhưng ngay trong đó lập tức cũng được viết:

    Các quyền này tìm thấy giới hạn của chúng trong các quy định của các điều luật chung [điều luật chung là điều luật giành cho tất cả mọi đối tượng-ND], trong các quy định nhằm bảo vệ thanh thiếu niên và trong quyền được đảm bảo danh dự cá nhân.

    Đây là những điểm ngoại lệ mà chúng tôi đã nhắc đến.

    Mặc dù Hiến pháp Hoa kỳ cũng biết đến cái tiểu xảo "cụ thể sẽ được quy định bởi một điều luật", như người ta thấy trong third Amendment, tại đó đề cập tới việc đồn trú của binh lính, một vấn đề quan trọng ở Bắc Hoa kỳ hồi thế kỷ 18. Tuy nhiên kiểu như vậy hoàn toàn không có trong first amendment. Tại đó được viết rõ ràng, không thể nhầm lẫn: Congress shall make no law [Quốc hội sẽ không ra luật].

    Mặc dù vậy từ 200 năm nay Liên bang và các Bang luôn tìm cách để cấm đoán những vụ việc nào đó, dĩ nhiên cũng chỉ vì quyền lợi của người dân. Hiện nay (11.2006) tòa án đang xem xét tới cố gắng gần đây nhất của Quốc hội nhằm tiến hành việc kiểm duyệt đối với Internet. Tuy nhiên phán quyết của tòa tối cao đối với vấn đề này cuối cùng về phần cốt lõi bao giờ cũng vậy:

    Trích dẫn:
    Censorship is the deadly enemy of freedom and progress. The plain language of the Constitution forbids it.

    [Kiểm duyệt là kẻ thù chết người của tự do và tiến bộ. Ngôn từ rõ ràng và đơn giản trong Hiến pháp là cấm điều này]

    Hay diễn giải cách khác: make no law đâu có gì phức tạp mà không hiểu được? Trong những bài viết tới chúng ta sẽ được biết những điều kiện nào các điều luật phải thỏa mãn để được phép chỉ động chạm chút xíu thôi đến tự do ngôn luận.

    Có một loạt các ngoại lệ thuộc vào đặc thù của Đức chúng ta cần phải đề cập tới. Từ kinh nghiệm của nền Cộng Hòa Weimar CHLB Đức đã được thiết kế sao cho trở thành một "nền Dân chủ đủ sức tự vệ", với hàng loạt chức năng tự bảo vệ. Người Mỹ cảm thấy nguyên tắc kiểu này rất khó nhằn. Theo quan điểm của họ, Hiến pháp sinh ra để nhằm bảo vệ dân chúng trước nhà nước - việc nhà nước bảo vệ Hiến pháp trước dân chúng, người Mỹ cho rằng kỳ quái. Thuật ngữ "Bảo Hiến" (Verfassungsschutz) không hề có một thuật ngữ đúng nghĩa trong tiếng anh, chứ chưa nói tới một thiết chế tương tự. Hiến pháp Hoa kỳ không phải không có khẳ năng tự vệ, thế nhưng một cơ chế bảo vệ như Hiến pháp Đức sẽ không thể tìm thấy ở đó.

    Chỉ với sự quan sát thoáng qua này chúng ta đã có thể đề cập tới một trong những tranh cãi lớn nhất, thể hiện một cách rất rõ ràng sự khác nhau giữa Hoa kỳ và Đức trong cách thức giải quyết vấn đề: Ở Hoa kỳ, ngược lại với ở Đức, việc phủ nhận sự kiện Holocaust không bị pháp luật trừng trị. Đơn giản là chẳng hề có một ngoại lệ nào đối với tự do ngôn luận để cho phép một kiểu cấm đoán như vậy.

    Nhìn một cách khác: Hiến pháp Hoa kỳ không cho Nhà nước quyền quyết định cái gì là sự thật và cái gì không phải là sự thật. Ngược lại trong first amendment rõ ràng đã cấm nó làm điều đó, make no law. Điều này được vận dụng ngay cả đối với sự kiện Nazi giết hại hàng triệu người Do thái: kiểu cấm như vậy là một mối nguy cơ quá lớn để có thể được sử dụng làm tiền lệ cho những cấm đoán tiếp theo - và là nguy cơ của sự đục khoét dần quyền công dân như đã nói ở trên.

    Thái độ này, người Mỹ cảm thấy được xác nhận khi thấy quốc hội Pháp ngày 13.10.2006 đã quyết định thêm việc phủ nhận sự kiện thảm sát người Armenien là phạm pháp. Nếu như dự thảo luật này được Thượng viện thông qua, như vậy ở Pháp sẽ có hai cuộc diệt chủng mà người ta không được phép đặt ngược vấn đề. Trong con mắt người Mỹ, đất nước anh em trước đây này đã đặt chân vào bàn trượt để trượt dài trên con đường trên đó tự do sẽ bị mất dần từng phần từng phần một. Quốc hội tới đây sẽ đề cập tới cuộc diệt chủng nào nữa đây?

    Phương cách để chống lại những quan điểm kiểu đó ở Hoa kỳ được tiến hành về căn bẳn hoàn toàn khác. Điều này được trình bày tóm tắt một cách ngắn gọn trên "Diễn đàn tự do không phụ thuộc đảng phái" như sau:

    Trích dẫn:
    The antidote to distasteful or hateful speech is not censorship, but more speech.

    [Thuốc giải độc cho những lời nói khó chịu hay hận thù không phải là kiểm duyệt, mà là tiếp tục nói nhiều hơn nữa.]

    Cấm đoán không phải là phương cách tốt nhất, tốt nhất là sự tranh luận một cách công khai với các tác giả của những tư tưởng đó. Sự tranh cãi hoàn toàn có thể to tiếng, độc địa và tàn bạo. Như chúng ta sẽ thấy, luật pháp Hoa kỳ đã tạo nên cho trường hợp này những không gian tự do đặc biệt, ví dụ như qua đó những người của công chúng - đặc biệt không chỉ các chính trị gia - thực thế không có quyền kiện tụng sự phỉ báng. "Quyền danh dự cá nhân" được pháp luật của Đức bảo vệ ở đây đã bị hy sinh cho quyền tự do ngôn luận.

    Liệu cách làm này tốt hơn hoặc tồi hơn và liệu nó trong trường hợp đặc biệt như của Đức và vụ Holocaust có thể được xét tới hay không, không phải là chủ đề của blog này. Chúng ta kết thúc việc quan sát của chúng ta với nhận thức, rằng tự do ngôn luận mặc cho có chung những tín điều căn bản thì ở Đức và ở Hoa kỳ nó mang mức độ giá trị khác nhau. Chúng ta cũng nhận thấy, cả hai nhà nước ở điểm này sẽ luôn có những quan điểm khác nhau, bởi vì nền Dân chủ của chúng dựa trên nền tảng có đôi chút khác biệt. Đảm bảo rằng sẽ tiếp tục có những tranh cãi.

    Trong những bài tới chúng ta sẽ xem xét, bao giờ, cái gì ở Hoa kỳ sẽ bị giới hạn và bị giới hạn như thế nào.

    Gửi bác Hồ Gươm bản dịch này:

    Police Officer, Sheriff, Trooper: Cấu trúc của hệ thống Cảnh sát Hoa kỳ
    http://usaerklaert.wordpress.com/2007/03/26/police-officer-sheriff-trooper-der-aufbau-der-us-polizei/

    Trong blog này chúng ta đã tới nhiều vấn đề đơn giản, bây giờ chúng ta đã đến điểm phải vật lộn với những vấn đề phức tạp hơn. Một trong những vấn đề đó chính là cấu trúc của hệ thống Cảnh sát Hoa kỳ.

    Vấn đề không chỉ ở chỗ bản thân nó quả thực là phức tạp. Mà còn ở chỗ, chúng ta ở đây rất tiếc là không có một hệ thống nào được biết, không có một nhà nước nào khác tương tự để có thể đưa ra tham khảo làm ví dụ. Cộng đồng châu Âu EU là mô hình đến nay chúng ta vẫn tạm chấp nhận làm ví dụ so sánh không còn thích hợp nữa và sự so sánh với cấu trúc của hệ thống tại nước mẹ [nước Anh] chỉ dẫn đến sự hiểu lầm bởi vì chẳng có mấy sự giống nhau giữa một sheriff ở Anh với một sheriff ở Hoa kỳ. Bởi vậy phải chấp nhận một cuộc hành trình tìm hiểu khó nhọc.

    Thêm vào đó là việc luôn nhìn thấy cảnh sát Hoa kỳ và sheriff xuất hiện trên mà ảnh đã làm cho nhiều người Đức bắt buộc phải tự lập nên cho mình một lý thuyết để giải thích cho sự hoạt động của hệ thống cảnh sát Hoa kỳ. Khi một viên sheriff chuyên ăn hối lộ, đút lót của các bang miền Nam rượt đuổi những người hùng dọc ngang Hoa kỳ, khán giả Đức coi đó là một hành động hợp pháp mà không thấy rằng những nhân viên cảnh sát đó hoàn toàn là một lũ mất trí. Ở Đức, những khái niệm ví dụ như FBI vẫn thường được mọi người hiểu là "cảnh sát liên bang", điều này chí ít cũng đã gây nên một sự hiểu lầm: Federal Bureau of Investication (FBI) thực ra có nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhưng như tên của nó cho thấy nhiệm vụ chính của nó là một cơ quan điều tra. Ở Hoa kỳ không hề có một cơ quan tương tự như cơ quan "Cảnh sát liên bang Đức" (deutsche Bundespolizei - hoặc như bộ CA VN -ND).

    Trong bài này chúng ta sẽ đưa ra cái nhìn bao quát về cấu trúc của hệ thống cảnh sát Hoa kỳ. Những điều chi tiết như kiểu: FBI chính xác ra nhiệm vụ của nó là gì hoặc tại sao cảnh sát Hoa kỳ lại đeo biển họ tên... sẽ được bàn trong các bài viết khác. Chúng ta cũng sẽ không bàn đến những điều thực sự lạ ví dụ như quy chế đặc biệt của các trường đại học dành cho Cảnh sát học đường (Campus) hoặc tình trạng của các bộc lạc da đỏ, là những điều chỉ còn có thể miêu tả được nhờ cách sử dụng các biểu mẫu.

    Chúng ta bắt đầu với một nguyên tắc rất chung, điều làm nên sự khác biệt lớn nhất: ở Hoa kỳ cảnh sát được tổ chức ở cấp địa phương, không ở cấp quốc gia hoặc cấp liên bang.

    Điều này có nghĩa là: mỗi một thành phố, bất kể lớn nhỏ, có bộ phận cảnh sát độc lập, riêng biệt. Bộ phận này được thành phố trang bị, trả lương và điều hành. Phạm vi trách nhiệm của chúng giới hạn trong biên giới thành phố. Cả thống đốc bang cũng như Tổng thống không có quyền hành điều khiển gì đối với các quan chức này. Cảnh sát trưởng là viên chức của thành phố.

    Hãy thử tưởng tượng điều kinh khủng sau, rằng giả như Đức là một bang của Hoa kỳ. Lúc này thành phố Essen sẽ có một bộ phận cảnh sát độc lập, riêng biệt và thành phố Bochum cũng vậy. Bộ phận cảnh sát của Essen (Essen police Department-EDP) nhận được nhiều tiền từ thành phố của mình. Do vậy cảnh sát ở đây đi xe BMW đeo súng Magnum 45; lực lượng tổng cộng gồm 2500 người hay là khoảng 50 cảnh sát cho 10000 dân; lương khởi điểm là 5000 euro/tháng. Biệt thự Hügel được sửa sang lại thành trụ sở chính của cảnh sát và tất cả mọi đồn cảnh sát đều được lát đá hoa cương.

    Trong khi đó hội đồng thành phố Bochum cho rằng như vậy là không cần thiết. Bộ phận cảnh sát Bochum (Bochum police department-BPD) sử dụng lại xe Trabi [xe có vỏ bằng bìa carton ép của Đông Đức cũ - ND]đã bị loại bỏ và được trang bị súng ngắn Mauser. Cứ mỗi 10000 dân thì có 15 cảnh sát phục vụ; lương khởi điểm là 1500 euro/tháng. Trụ sở chính là một góc của bảo tàng hầm mỏ được trang sửa lại - dĩ nhiên là nằm ở phần ngầm.

    Như vậy trong phần khái quát [trong bài dịch trước-ND]chúng ta đã nói về sức mạnh quyền lực của chính quyền địa phương ra sao và sự quan trọng của các chính sách của địa phương - bây giờ ta hiểu tại sao lại thế. Chúng ta cũng đã từng giải thích, rằng địa phương có quyền tự quyết định một phần của thuế thu nhập gia tăng - và bây giờ ta thấy họ đã sử dụng số tiền thu được đó như thế nào.

    Các vấn đề khác nữa cũng đều do địa phương quyết định, ví dụ quyết định về vũ khí, trang bị cho cảnh sát. Ở những bang với mức độ dân chủ trực tiếp mạnh người dân sẽ quyết định mức lương của cảnh sát là bao nhiêu, như ví dụ sau tại West Linn thuộc vùng Oregon hoặc ở Lawrence thuộc Kansas, một thành phố với 80000 dân:

    viết:
    In August of 1990, Lawrence voters approved a second half-cent sales tax for hiring new police officers, fire fighters and reducing property tax in the city. As a result of that vote, the department hired 27 new officers (…).

    [Vào tháng 8 năm 1990, các cử tri đã bỏ phiếu phê duyệt nửa xu thứ 2 cho thuế bán hàng để thuê thêm các nhân viên cảnh sát mới, nhân viên cứu hỏa và để giảm thuế bất động sản của thành phố. Kết quả cuộc bỏ phiếu đã đem lại việc thuê thêm được 27 nhân viên cảnh sát mới]

    (Trong việc này cũng có sự tài trợ từ phía liên bang, bởi vậy vấn đề tiền nong cho cảnh sát không chỉ quan trọng đối với địa phương mà cũng có vai trò quan trọng trong tranh cử ở cấp liên bang. Nguồn thu tài chính cho toàn bộ hệ thống cảnh sát và tư pháp Hoa kỳ, ở cả ba cấp cộng lại vào năm 2001 được phân bố theo sau: 50% từ địa phương, 35% từ bang và 15% từ liên bang)

    Sự việc dễ hiểu hơn nếu chúng ta quan sát những gì xảy ra ở những địa phương nhỏ. Chính vì thế chúng ta hãy đến Minnesota gần biên giới Canada, nơi mà mùa đông có khi lạnh tới -50 độ - sâu trong vùng đất "Fargo". Nơi đây có một làng tên là Tower (479 dân) và một làng bên cạnh tên là Breitung, cả hai chung nhau lập nên một trụ sở cảnh sát.

    Hội đồng làng Tower muốn biết: tại sao chi tiêu cho cảnh sát trong năm lại tăng vọt lên tới 23000 dollar? Quả rõ ràng rằng ngoài chi phí bảo hiểm y tế cho hai (viết bằng số: 2) cảnh sát viên làm việc toàn bộ thời gian thì chi phí cho hai [viết bằng số: 2]ô tô cảnh sát của họ cũng tăng lên. Việc giá xăng tăng cũng đã góp phần không nhỏ vào đó. Tìm hiểu vấn đề qua công an trưởng (vâng ở đây cũng vẫn phải có thứ bậc) Jim Hill chúng tôi được biết vấn đề tài chính mới minh bạch ra sao:

    viết:
    Hill estimated the costs for running the police department in 2007 at a total of $252,932, with $151,532 in salary costs and $101,400 in other costs including $44,000 for benefit costs for health, dental and life insurance for the full-time officers. The department does receive $7,000 in state police aid and $2,000 in training reimbursement.

    [Hill ước tính chi phí cho cảnh sát hoạt động trong năm 2007 tổng cộng là 252932 dollar, trong đó tiền lương là 151532 dollar, các chi phí khác tổng cộng là 101400 dollar gồm có 44000 dollar cho bảo vệ sức khỏe, răng và bảo hiểm nhân thọ cho cảnh sát viên làm việc toàn bộ thời gian. Bộ phận cảnh sát nhận được 7000 dollar phụ trợ từ cảnh sát bang và 2000 dollar tiền thù lao luyện tập.]

    Ví dụ trên cho chúng ta thấy rằng địa phương có thể cùng nhau quyết định việc thành lập và nuôi dưỡng một bộ phận cảnh sát chung. Thay vì Essen và Bochum [hai thành phố thuộc vùng Ruhr của Đức]mỗi nơi có một bộ phận cảnh sát riêng, ở vùng Đức thuộc Mỹ này có lẽ tốt hơn là nên lập một bộ phận cảnh sát chung cho cả hai thành phố vùng Ruhr, Ruhr Metropolitan Department (RMPD).

    Ở các thành phố lớn tầm cỡ sẽ khác. Chẳng gì thì lực lượng cảnh sát với 37000 người của New York Police Department (NYPD) cũng phải được điều hành khác so với việc điều hành hai viên chức (sắp tới là ba) ở hai làng Tower và Breitung. Tuy nhiên về nguyên tắc thì vẫn thế: thành phố lớn cũng tự quyết định lấy số lượng cảnh sát tuyển dụng, quyết định về trang thiết bị, quyết định về quyền hạn của họ.

    Và như vậy có nghĩa là ngay cả ở trong cùng một bang thì điều kiện cũng sẽ rất khác nhau. San Diego có 17 cảnh sát cho mỗi một 10000 dân, Los Angeles 24 và San Francisco 30 (ở Washington lên tới 65). Tại San Francisco Police Department (SFPD) lương khởi điểm vào khoảng 65000 dollar/năm và thành phố quảng cáo tuyển dụng cả những người đồng tính.

    Việc tự do tuyển dụng và xây dựng lực lượng cảnh sát tùy theo nhu cầu và ý tưởng của địa phương là một trong những nền tảng cấu trúc của địa phương: một mặt có sự chuyên môn hóa dịch vụ, mặt khác việc phục vụ sẽ tốt hơn. Cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ địa phương - đi tuần, săn bắt tội phạm, cứu mèo mắc kẹt trên cây - chứ không thể bị bắt phải tham gia vào những việc như bảo vệ đoàn vận chuyển chất thải hạt nhân chẳng han.

    Trong chủ trương tổng thể thì lực lượng cảnh sát do địa phương thiết lập cũng là một bức tường thành vững chắc ngăn cản sự hình thành một nhà nước độc tài toàn trị. Tổng thống điều hành quân đội, thống đốc bang điều hành quân đội của bang [national guard] và chính quyền địa phương điều hành lực lượng cảnh sát. Điều này phù hợp với nguyên tắc của Federalist Papers đã chỉ rõ, rằng để bảo vệ người dân quyền lực nhà nước nên tách ra thành nhiều yếu tố riêng lẻ có thể.

    Với hiểu biết này bây giời chúng ta có thể xem xét vấn để tại vùng nông thôn.

    Trước hết ở phạm vi huyện về nguyên tắc cũng như vậy quyền lực của các cơ quan bảo vệ luật pháp được giới hạn trong phạm vi địa phương của mình. Ở đây cũng có cùng một quá trình quyết định về số lượng viên chức cảnh sát, về việc họ được đi loại xe nào, được trả lương ra sao v.v...

    Tuy nhiên có một điểm khác biệt quan trọng , là xếp ảnh sát ( nhưng không phải lúc nào cũng vậy) được bầu chọn và thường (nhưng không phải lúc nào cũng vậy) được gọi là "sheriff". Đừng có để bị ảnh hưởng của phim Western rồi tưởng tượng rằng có một văn phòng bụi bặm trong đó có một cảnh sát say bét nhè cùng với hai nhân viên miệng ngậm cọng cỏ đang ngồi chờ rình tụi trộm bò. Đồn sheriff ở Los Angles County (LASD) có 16000 nhân viên và được trang bị như những đồn cảnh sát khác.

    Bắt đầu từ đây vấn đề mới trở nên thực sự phức tạp . Chính xác một sheriff phải làm gì phụ thuộc và các điều luật của bang. Vâng đây cũng chính là câu mà độc giả có kinh nghiệm của blog này chỉ trông mong nó xuất hiện.

    Trên thực tế đối với mỗi một bang người ta phải đề ra một mục riêng giống như trong Wiki tiếng Anh đã thử làm. Có trụ sở sheriff có nhà giam trong đó, lại có những trụ sở khác thì không, có những trụ sở sheriff có quyền hạn cả trong thành phố giống như bên cảnh sát (concurrent jurisdiction), nhưng những trụ sở khác thì không. Ở Connecticut thậm chí sheriff không còn tồn tại.

    Và bây giờ sự việc lại phức tạp thêm một bước nữa, bởi tại các bang ở đó người ta có thể lập nên những cấu trúc mà ở Đức thực sự không có kiểu tương tự, và chính vì thế mà giới báo chí thường hay giọi đại là "dân vệ" hoặc "dân quân".

    Ví dụ như ở Arizona có một vùng gọi là Sun City West, được lập nên cho người hưu trí. Chính thức nó không phải là một thành phố, mà chỉ là một phần của Maricopa County. Và như vậy nó nằm trong phạm vi trách nhiệm của sheriff vùng Maricopa County. Nếu vậy sự việc cũng bình thường, không có gì.

    Tuy nhiên dân chúng ở Sun City West lại tuyển dụng thêm một đội sheriff' posse, ,mà các thành viên của nó được phân thành hai nhóm tóc trắng và tóc ngả bạc. Những thành viên tình nguyện này sau một kỳ huấn luyện sẽ tham gia vào công việc tuần tra trên những xe chuyên dụng, trả lời các cuộc gọi cấp cứu hoặc canh chừng nhà cho những người đi vắng xa. Các thành viên đều mặc đồng phục và có thể được phép mang theo vũ khí nếu học qua một khóa học để trở thành người được đào tạo về quân sự (qualified armed person). Chi phí toàn bộ cho nó chủ yếu từ nguồn đóng góp của cộng đồng địa phương chứ không từ tiền thuế.

    Nhiệm vụ của sheriff' posse không chỉ để giảm bớt gánh nặng cho sheriff. Khác với những người ở độ tuổi 25 các thành viên của nó hiểu rõ những vấn đề và quan điểm của những người đồng tuổi hơn hết. Ngoài ra posse còn cung cấp những dịch vụ đặc biệt: một trong những nhiệm vụ của nó đó là chương trình WAY (where are you) chuyên tìm kiếm những người mắc bệnh mất trí đi lạc.

    Tuy nhiên bây giờ một cảnh sát không thể chỉ có hoạt động trong nội bộ địa phương. Cuối cùng phải có ai đó trông coi việc đảm bảo an ninh cho các tuyến đường liên tỉnh, không lẽ mỗi một đoạn lại do một bộ phận cảnh sát của địa phương nó chạy qua cai quản.

    Chính vì thế các bang đều có một lực lượng giữ gìn trật tự: gọi là cảnh sát bang (state police). Đôi khi lực lượng cảnh sát bang này còn được gọi là trooper hoặc như ở california từ lý do lịch sử người ta lại gọi nó là highway patrol. Điều này dĩ nhiên đối với những người làm việc dịch thuật quả là cơn ác mộng, khi thì "cảnh sát bang", khi thì "cảnh sát xa lộ", khi thì "cảnh sát liên bang"... thật rắc rối.

    Bây giờ chúng ta quan sát lực lượng 7000 nhân viên của California Highway Patrol (CHP) ta thấy ngay rằng Thống đôc bang Arnold Schwarzenegger trong tay chỉ có số nhân viên bằng nửa so với lượng nhân viên dưới quyền Sheriff vùng Los Angeles County. Chỉ riêng con số này đã chỉ ra một cách rõ ràng ở đâu là trọng điểm. Nếu như vậy chưa đủ thuyết phục thì nên nhớ rằng thống đôc bang trong trường hợp khẩn cấp có thể trao thêm nhiệm vụ cảnh sát cho quân đội của bang (national guard) - california có khoảng 20000 binh lính.

    CHP có tránh nhiệm bảo vệ đường liên tỉnh, đào tạo cảnh sát và bảo vệ các tòa nhà và viên chức của bang, như người ta vẫn trông đợi. Ngoài ra nó còn trợ giúp cho những trường hợp vượt quá sức của cảnh sát địa phương, bởi vì phạm vi trách nhiệm hoạt động của nó là toàn bộ bang. Hai cảnh sát của chúng ta ở Tower và Breitung có lẽ là những cảnh sát dũng cảm, tuy nhiên công việc điều tra tội phạm giết người sẽ quá sức của họ. Ngay cả ở Wien trong những trường hợp nhưng vậy ai cũng biết rằng ít ra cũng phải điều đến thêm một chú chó nghiệp vụ.

    Cảnh sát địa phương có thể kêu gọi lập tức sự trợ giúp của liên bang, nơi nguồn nhân lực của nó lớn hơn nhiều lần. Và như vậy chúng ta lại trở lại chỗ mà ta bắt đầu, đó là sở điều tra liên bang FBI.
    Tuy nhiên việc này ta sẽ bàn đến sau. Số người mà ta chỉ trong một ngày đã lấy đi niềm tận hưởng thú vui điện ảnh của họ đã trở nên quá nhiều rồi.

    Nếu được hỏi ông thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thì tôi hỏi mấy câu sau:

    - Thưa thượng tướng, trước đây không lâu, có lần thượng tướng đã hứa với Trung quốc là không để biểu tình (chống Trung quốc) tiếp diễn, sau đó thì nhà nước ta đàn áp rất dã man và bỏ tù những người biểu tình chống Trung quốc. Nay thượng tướng nghĩ thế nào về việc này? Thượng tướng có hối hận không?

    - Có tin đồn là Trung quốc đã mua nhiều tướng lĩnh từ cấp sư đoàn trở lên của ta cũng như nhiều quan chức khác. Vậy xin thượng tướng cho biết rõ về sự việc này?

    - Thượng tướng có biết rõ sự thật về Hội nghị Thành Đô như thế nào? Cũng có ý kiến là Đảng ta thực sự là một chi bộ của Đảng CS Trung quốc, vậy ý kiến của thượng tướng về sự việc này như thế nào?

    - Ta đã đấu tranh bằng biện pháp hòa bình và ngoại giao với Trung quốc trên một tháng nay, nhưng Trung quốc vẫn không rút giàn khoan HD981 ra khỏi hải phận nước ta mà còn tăng cường các biện pháp quân sự xua đuổi tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư của ta, lại còn đâm chìm tàu cá của ngư dân ta. Vậy thời gian tới, ta sẽ đấu tranh bằng biện pháp gì để Trung quốc rút giàn khoan và các tàu ra khỏi hải phận nước ta?

    Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã chảy nước mắt khi trả lời phỏng vấn của người Việt tại Cộng Hòa Séc về quan hệ Việt - Trung và Biển Đông ngày 11/06/2014

    TƯỚNG Nguyễn Chí Vịnh xúc động (chảy nước mắt! - DL) khi trả lời nhiều câu hỏi về tình hình Biển Đông.

    - "Xin Thượng Tướng cho biết hiện nay quan hệ giữa Việt Nam và TQ là mối quan hệ anh em, quan hệ bạn bè - hay quan hệ đồng chí?" - Một kiều bào hỏi.

    - "Tôi xin trả lời anh luôn: quan hệ của chúng ta hiện nay với TQ là quan hệ láng giềng!" - Tướng Vịnh trả lời.

    (Ảnh Dương Minh Long chụp lúc 18g25, ngày 11.6.2014/ giờ Praha / Sứ quán Việt Nam tại Cộng Hoà Sec)

    Nguồn: FB Dương Minh Long

    Ngày mai 12/6/2014 đá trận mở màn của World cup football, Brazil - Croatie lúc 20h00 GMT.

    Trận mở màn giữa đội chủ nhà và đội khách, thường ít có nhiều bàn thắng.
    Tôi đoán tỉ số 0-0 hoặc 1-0.

    Phải qua vòng bảng, mới có thể dự đoán chính xác hơn một chút, ai có khả năng vào bán kết

    Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang, yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi.

    fppndmdh.jpg

    Gửi bác Hồ Gươm bản dịch này:

    Những nét chính của cấu trúc xã hội Hoa kỳ (hay là: nơi mà ở đấy người ta thấy an toàn nhất trước Bush)
    25.06.2006
    http://usaerklaert.wordpress.com/2006/06/25/die-grobstruktur-der-usa-oder-wo-man-vor-bush-am-sichersten-ist/

    Nhiều năm nay tác giả bài viết này đã phải nghe không ít những lời phân trần của các đồng bào của mình, rằng không thể đi du lịch hoặc chuyển sang sinh sống ở Hoa Kỳ bởi vì nơi đó Bush đang nắm quyền. Riêng cái chính cái điều ngược lại, rằng không nơi đâu trên thế giới này người ta lại thấy an toàn trước một ngài tổng thống như ở Hoa kỳ đã đủ nói lên tất cả. Những người chỉ trích Bush ít nhất cũng thừa biết, ảnh hưởng của Bush cũng như toàn bộ bộ sậu của ông ta đến chính sách đối nội của Hoa kỳ ít ỏi ra sao.

    Để lấp đẩy lỗ hổng hiểu biết này, hôm nay chúng ta sẽ bàn về cấu trúc cơ bản, có nghĩa là cấu trúc thô của xã hội Hoa kỳ. Chí ít thì ngành công nghiệp du lịch có lẽ cũng sẽ phấn khởi về việc này.

    Chỉ cái tên "Hợp chúng quốc Hoa kỳ" cũng đã nói lên được nội dung của nó: Đấy là những nhà nước độc lập, tự chủ chỉ chuyển nhượng một số ít nhiệm vụ cho cấu trúc thượng tầng. Số nhiệm vụ này ít ỏi đến nỗi Hoa kỳ chẳng có lấy một bộ trưởng nội vụ (thực tế cũng có một Secretary of the Interior, nhưng ông ta chủ yếu chỉ chịu trách nhiệm về các vườn quốc gia và về các mối quan hệ đối với người da đỏ). Nói một cách nôm na có nghĩa là Liên bang chuyên lo về đối ngoại và một vài việc có liên đới tới các Bang, phần còn lại là công việc của các Bang, đặc biệt là những sự vụ có liên quan đến đời sống thường nhật của người dân.

    Và đó cũng chỉ là một cách diễn tả sơ lược, bởi vì trong 220 năm qua ranh giới trách nhiệm tại nhiều điểm đã không còn rõ nét. Đặc biệt là kể từ khi cuộc nội chiến xảy ra ảnh hưởng của Liên bang ngày càng lớn lên- nhưng điều này ta sẽ nói về sau, cũng như về những thay đổi trong bối cảnh của New Deal. Tuy nhiên hiểu một cách nôm na, như vậy cũng tạm đủ tại đây.

    Mỗi một trong số 50 bang đều có "quyền tự chủ về những điều còn lại". Chúng có riêng lục quân và không quân (đội cận vệ quốc gia), có hệ thống tư pháp riêng biệt hoàn chỉnh, có chính sách thuế riêng không liên quan tới Liên bang, có quyền tự định đoạt, ai được phép uống rượu và ai được phép cưới xin. Chúng chịu trách nhiệm đối với công việc giáo dục đào tạo và y tế- chẳng hạn như Massachusett vừa mới đưa ra luật bảo hiểm y tế bắt buộc. Ngay cả đối với bảo hiểm y tế trong phạm vị Liên bang cho những người nghèo, Medicaid, các Bang cũng tự quyết định lấy ai là người được hưởng bảo hiểm này. Ngược lại, chuyện chăm lo về già, an sinh xã hội là công việc của Liên bang.

    Thậm chí việc đổi giờ mùa hè cũng là việc của các Bang. Arizona chẳng hạn, tại đó không có chuyện đổi giờ với lý do, rằng mọi người ở đây ai cũng đã hưởng thừa thãi ánh sáng mặt trời. Điều thú vị là người Navajo, lãnh thổ của họ phần lớn thuộc vào Arizona thế nhưng lại không theo quy định này, bởi vậy có một phần của Arizona đổi giờ vào mùa hè. Thế nhưng cũng không phải toàn bộ phần đó là như vậy: trong lãnh thổ của người Navajo có bộ tộc Hopi, và vùng của họ không đổi giờ vào mùa hè. Chỉ chuyện này cũng cho thấy hai bộ lạc đó chẳng thích gì nhau, nhưng đấy lại là đề tài cho một bài viết khác.

    Chúng ta có thể tìm hiều vấn đề chủ quyền từ một hướng khác. Ở Hoa kỳ không có cơ quan trình báo cứ trú, không có thẻ căn cước có giá trị cho toàn bộ hợp chúng quốc [HCQ], không có bằng lái xe có giá trị cho toàn bộ HCQ và cũng không có bộ luật Liên bang giống như chúng ta ở Đức thường biết tới. Hệ thống luật pháp của HCQ tách rời với hệ thống luật pháp của từng Bang. Thuế xăng dầu, thuốc lá, rượu bia khác nhau tùy thuộc các Bang, thậm chí trong một Bang địa phương này khác với địa phương kia. Chính quyền Liên bang không thể tăng mức thuế giá trị gia tăng, bởi vì sales tax cũng giống như các loại thuế khác được hình thành từ phần của Liên bang và phần của địa phương.

    Như vậy Hoa kỳ giống như vị thần hai mặt Janus: Liên bang là bộ mặt ngoảnh ra phía ngoài, còn các Bang là bộ mặt ngoảnh về bên trong. Hai bộ mặt này kiểm soát lẫn nhau: Liên bang có trách nhiệm chăm lo sao cho không có Bang nào bị Bang khác tấn công hoặc không có Bang nào tự nhiên tuyên bố thành lập chính thể độc tài. Các Bang cùng nhau có trách nhiệm giữ sao cho Liên bang không trở nên thái quá. Bởi vậy trong Federalist Papers, Hoa Kỳ được gọi là một nền Cộng hòa hợp thành (compound republic).

    Và như thế luật của Bang và của địa phương ở Hoa kỳ không giống và chúng quan trọng hơn là ở Đức, nơi tại đó phần lớn các vấn đề chủ chốt đều được quyết định ở cấp Liên bang. Đối với người Châu Âu để hình dung được vấn đề có lẽ đơn giản nhất là không nên coi Hoa kỳ tương đương với Đức mà coi nó giống như là Liên Hiệp Châu Âu, chỉ có điều khác là Brussel can thiệp ngày càng nhiều vào đời sống thường nhật của người dân hơn là Washington. Cách nhìn này cũng đúng với quan niệm của người Mỹ về chính quyền Liên bang của họ: Đó là nơi phung phí tiền bạc, ăn bám, là cội nguồn của quan liêu, nơi các thành viên của nó chỉ chăm lo cho túi của riêng mình.

    Một khi ta hiểu được, chính phủ Mỹ không có mấy quyền hạn đối với chính đất nước của mình khi đó nhiều vấn đề khác sẽ trở nên dễ hiểu hơn:
    Nếu một khi Bush nói sẽ giảm thuế, điều đó có nghĩa là chỉ áp dụng cho thuế của Liên bang, chứ không phải toàn bộ thuế. Điều này gần giống như việc EU giải thích rằng nó không sử dụng hết được lượng tiền lớn nên sẽ trả lại cho các quốc gia thành viên. Mặc dù vậy Bang và địa phương vẫn tiếp tục đánh thuế vào những thứ mà họ nghĩ rằng họ cần. Những ai ngạc nhiên rằng tại sao nhiều công dân Hoa kỳ không mấy tin tưởng vào bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc gia cũng nên tự hỏi, cái gì sẽ xảy ra nếu như EU muốn thay thế toàn bộ các loại bảo hiểm của các quốc gia bởi các bảo hiểm được chỉ đạo tập trung bởi Brussel.

    Sự phân công trách nhiệm giữa Liên bang và các Bang luôn là sự tranh cãi lớn giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Đảng Dân chủ muốn nhiều trách nhiệm - đặc biệt là thuộc về lĩnh vực xã hội - nên giao cho Liên bang, trong khi đó đảng Cộng hòa muốn để chúng lại cho các Bang. Tiếp tục với ví dụ về EU, ta có thể coi như đảng Dân chủ muốn các quyết định được tiến hành ở Brussel chứ không phải ở Berlin còn đảng Cộng hòa thì bảo vệ quyền tự chủ của các nước thành viên. Đó cũng chính là lý do tại sao nhiều người Mỹ bầu cho đảng Cộng hòa: Có thể coi họ như là những thành phần của Hoa kỳ hoài nghi đồng Euro.

    Do bởi phần lớn giới báo chí Đức không hiểu sự phân công trách nhiệm giứa Liên bang và Bang ở Hoa kỳ, cho nên họ đã hiểu sai và coi những người của đảng Cộng hòa là những tên tư bản cực đoan tàn nhẫn, tìm mọi cách để xóa bỏ mọi thành quả về mặt xã hội. Thực ra phần lớn sự việc chỉ xoay quanh vấn đề, liệu các nhiệm vụ nào đó nên để cho Liên bang làm hay tốt hơn là nên để lại cho các Bang. Sự tranh cãi diễn ra quyết liệt dưới nhiều hình thức khác nhau đã có ngay từ khi Hoa kỳ được thành lập, như trong Federalist Papers đã cho thấy. Đó là vấn đề của mọi chính thể liên bang: tương tự như các vấn đề nước Đức hiện nay phải giải quyết trong việc cải cách chính thể liên bang.

    Vấn đề giải thích đến đây như vậy là tạm ổn. Tuy nhiên đáng tiếc rằng tình cảnh ở Hoa kỳ thực ra còn phức tạp hơn nhiều.

    Các chính quyền địa phương tại các Bang đều có một mức độ tự chủ nhất định, điều mà ở Châu Âu kể từ khi có nhà nước thành phố tại Hy lạp đến giờ không còn thấy nữa. Các chính quyền địa phương này cũng tự định các loại thuế, họ có thể thay đổi luật giao thông, thậm chí có quyền ra luật về mã hóa đối với WiFi. Như thế nào là Pornographie cộng đồng sẽ phán xét dựa theo "Miller Test" [phép thử Miller]. Một cơ quan kiểm duyệt trung ương - xin lỗi, cục thẩm định - giống như cơ quan thẩm định liên bang của Đức không hề có. Cảnh sát [Sheriff] của các quận, huyện, thành do dân chúng lựa chọn trực tiếp. Mỗi một thành phố thành lập riêng cho mình một cơ quan cảnh sát, quyền hạn của nó được kết thúc tại biên giới của thành phố và chỉ chịu sự điều khiển của chính quyền thành phố. Ở Hoa kỳ có tới hàng trăm đạo luật về vũ khí, bởi chính quyền liên bang theo như Second Amendment không được phép tham gia vào lĩnh vực này.

    Việc coi Hoa kỳ chỉ là một nhà nước như vậy thực ra đã là sai. Đất nước này thực tế không phải là tập hợp của 50 bang, mà là tập hợp của 3600 huyện, thành [đơn vị hành chính]. Ngoài ra còn có hơn 560 vùng tự quản của người da đỏ gọi là sovereign dometic nations. Nếu tỉ mỉ hơn người ta còn phải tính đến các khu vực hành chính đặc biệt như các khu trường học và các đại học, tất cả chúng đều có một mức độ tự chủ nhất định. Như vậy cuối cùng ta sẽ có khoảng 85000 đơn vị hành chính - chúng ít nhiều đều độc lập, đối với bên ngoài là một khối khép kín. Người Mỹ bình thường sẽ đặc biệt được lưu ý tới một tính chất của các khối này: tất cả chúng đều muốn lấy tiền của anh ta. Phần lớn thuế của chúng đặt ra là thuế trực tiếp và cho một mục đích cụ thể.

    Còn một điều đặc biệt nữa, đó là: Ở Hoa kỳ một nền Dân chủ đại diện chỉ có ở cấp bậc cao nhất.

    Càng đi xuống phía dưới sẽ càng thấy xuất hiện những yếu tố của nền Dân chủ trực tiếp - ví dụ như việc trưng cầu dân ý, giống như ở Thụy sĩ. Ở đây ngay cả những vấn đề như xóa bỏ thuế thu nhập của một Bang hoặc việc hoàn thiện hệ thống giao thông địa phương cũng rất thích được đem ra trưng cầu dân ý. Do bởi các chức vụ chính quyền ỏ Hoa kỳ hầu như luôn được quyết định qua việc bỏ phiếu trực tiếp - trường hợp ngoại lệ lớn nhất là việc bầu cử tổng thống - cho nên người dân có tác động rất lớn vào những việc liên quan trực tiếp tới cuộc sống của họ.

    Bây giờ đã đến lúc ta có thể trả lời được câu hỏi mà người dân châu Âu cứ bốn năm một lần lại trăn trở: Tại sao có nhiều công dân Hoa kỳ dường như chẳng quan tâm gì tới việc ai là Tổng thống. Số lượng tham gia bầu cử Tổng thống quả thật thường rất thấp so với các cuộc bầu cử khác. Lý do không phải người Mỹ không quan tâm tới chính trị mà chỉ đơn giản là Liên bang hầu như chẳng có vai trò gì trong cuộc sống thường nhật của người dân. Đối với họ điều đặc biệt quan trọng hơn đó là những chính sách của địa phương,cuả quận, huyện, thành, nơi mà anh ta có thể có tác động lớn và trực tiếp vào chúng. Ngược lại về phía người Mỹ, họ phẫn nộ khi thấy người Đức chẳng mấy quan tâm tới các chính sách của địa phương đưa ra. Rất nhiều người hầu như chẳng biết ông sép cảnh sát của thành phố của mình tên là gì.
    Cả hai thái độ đều phù hợp với hệ thống chính trị của chúng - người Đức đặt nặng vào cấp Liên bang, người Mỹ chú trọng vào cấp địa phương. Cũng may rằng người dân chẳng ai ngu cả, ở cả hai quốc gia và đối với nền Dân chủ.

    Và như vậy chúng ta lại quay lại với những địch thủ của Bush. Ý nghĩ, không đi du lịch Hoa kỳ, bởi Bush đang nắm quyền, cũng tương tự như việc trả lại vé đi du lịch Đức vì Manuel Barroso đang giữ chức chủ tịch hội đồng EU. Những người chỉ trích Bush biết điều này và cho dù thể hiện sự chống chọi sống còn họ đã không rời bỏ đất nước. Dưới thời Bush không hề có làn sóng từ bỏ đất nước nào. Ngay cả Michael Moore cũng vẫn tiếp tục sống tại New York.

    Vì vậy: những ai tối không ngủ được, bởi thấy cuộc sống và thân thể mình bị Bush đe dọa, đối với những người này chỉ có một lối thoát duy nhất: Hãy sang Hoa kỳ! Tác giả bài viết này khuyên nên đến Arizona, ít nhất cũng vì nơi đây luôn tràn đầy ánh sáng mặt trời. Chỉ có điều phải chú ý chỉnh đồng hồ cho đúng, nếu đến thăm người da đỏ.

    Mặt trận phía Tây, Thế Chiến thứ Nhất:

    ww1.jpg

    Một nhóm tù binh phe Đồng Minh bao gồm 8 binh lính có quốc tịch khác nhau, trong đó phân nửa là lính thuộc địa.

    Từ trái sang:

    - Ananmite (Việt Nam)
    - Tunisie
    - Senegal
    - Sudan
    - Nga
    - Mỹ
    - Bồ Đào Nha
    - Anh

    Nguồn: The Atlantic

    Trích:“Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng”

    Thầy thuốc mà còn nói ngu thế này, thì chắc còn lâu mới có người bỏ công ra khai dân trí cho :-)

    -Dạy trẻ rửa tay thì không cần đến "thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác", mà cô giáo, bảo mẫu dạy cũng đủ rồi, và không phải cả trường rửa chung một thau nước đen thui nhá! khẻo các cháu lại theo Bác sớm đấy!

    http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/12-000-hoc-sinh-tim-hieu-cach-doi-pho-benh-chan-tay-mieng-2994635.html

    NGT viết:
    Chẳng biết tin này chính xác hay không ??

    Bác nào liên hệ đại sứ hay lãnh sự Mỹ ở VN và bộ y tế VN để xác nhận, trước khi thực hiện thủ tục giấy tờ

    http://khoahoc-kythuat.blogspot.be/2014/05/thong-bao-ve-viec-oan-bac-sy-hoa-ky-se.html

    THÔNG BÁO VỀ VIỆC ĐOÀN BÁC SỸ HOA KỲ SẼ ĐẾN SÀI GÒN, VIỆT NAM LÀM CHÂN, TAY GIẢ MIỄN PHÍ CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI CÓ NHU CẦU
    Kính thưa quý vị
    Trong tháng 6 năm 2014 có một đoàn bác sĩ từ thiện từ Mỹ về Sài Gòn làm chân tay giả miễn phí cho tất cả mpij người Việt Nam có nhu cầu:
    Lưu ý: chương trình hoàn toàn miễn phí (CÓ THỂ hổ trợ tiền xe, sắp xếp chỗ ở cho một số người không có đủ chi phí để đến được Sài Gòn làm chân tay giả)
    Tháng 6/2014 có một đoàn bác sĩ từ thiện từ Mỹ về SG. Với chương trình làm chi giả cho những người nghèo không đủ điều kiện tự làm.
    Bệnh nhân cần nộp hồ sơ trước ngày 30/5/2014. Hồ Sơ gồm:
    - 1 ảnh chụp thẳng nguyên người, thể hiện rõ tay hoặc chân nào bị mất.
    - 1 sơ yếu lý lịch
    - 1 photo chứng minh nhân dân và hộ khẩu.
    Không giới hạn số lượng.
    Tất cả người nào muốn làm đều được đăng ký. (Trừ bệnh nhân tiểu đường)
    Nếu có biết ai cần xin cố gắng giới thiệu giúp họ nhé.
    Đ/c liên lạc: 283/26-28 CMT8, F.12;Q10.
    ĐT: 0918 321 888 (gặp cô Ngân)
    Hãy giúp ước mơ của những người không có cơ hội thành có thể.
    Đã có gọi chị Ngân và xác nhận thông tin này xác thực.
    Không giới hạn số lượng, tuổi tác, thành phần tham gia ghép tay chân giả.

    Tôi cho là tin này có thật. Tôi được biết tin này cách đây hơn một tuần từ một blogger khá quen biết. Việc từ thiện này do tổ chức Give Hope - Give a Hand ở Hoa Kỳ thực hiện.
    http://www.ln-4.org/index.lasso

    Tuy nhiên hạn chót nộp đơn là ngày 30 Tháng Năm, 2014

    Chẳng biết tin này chính xác hay không ??

    Bác nào liên hệ đại sứ hay lãnh sự Mỹ ở VN và bộ y tế VN để xác nhận, trước khi thực hiện thủ tục giấy tờ

    http://khoahoc-kythuat.blogspot.be/2014/05/thong-bao-ve-viec-oan-bac-sy-hoa-ky-se.html

    THÔNG BÁO VỀ VIỆC ĐOÀN BÁC SỸ HOA KỲ SẼ ĐẾN SÀI GÒN, VIỆT NAM LÀM CHÂN, TAY GIẢ MIỄN PHÍ CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI CÓ NHU CẦU
    Kính thưa quý vị
    Trong tháng 6 năm 2014 có một đoàn bác sĩ từ thiện từ Mỹ về Sài Gòn làm chân tay giả miễn phí cho tất cả mpij người Việt Nam có nhu cầu:
    Lưu ý: chương trình hoàn toàn miễn phí (CÓ THỂ hổ trợ tiền xe, sắp xếp chỗ ở cho một số người không có đủ chi phí để đến được Sài Gòn làm chân tay giả)
    Tháng 6/2014 có một đoàn bác sĩ từ thiện từ Mỹ về SG. Với chương trình làm chi giả cho những người nghèo không đủ điều kiện tự làm.
    Bệnh nhân cần nộp hồ sơ trước ngày 30/5/2014. Hồ Sơ gồm:
    - 1 ảnh chụp thẳng nguyên người, thể hiện rõ tay hoặc chân nào bị mất.
    - 1 sơ yếu lý lịch
    - 1 photo chứng minh nhân dân và hộ khẩu.
    Không giới hạn số lượng.
    Tất cả người nào muốn làm đều được đăng ký. (Trừ bệnh nhân tiểu đường)
    Nếu có biết ai cần xin cố gắng giới thiệu giúp họ nhé.
    Đ/c liên lạc: 283/26-28 CMT8, F.12;Q10.
    ĐT: 0918 321 888 (gặp cô Ngân)
    Hãy giúp ước mơ của những người không có cơ hội thành có thể.
    Đã có gọi chị Ngân và xác nhận thông tin này xác thực.
    Không giới hạn số lượng, tuổi tác, thành phần tham gia ghép tay chân giả.

    híc, mình có viết gửi 2 bài rồi, 1 là : làm gì cho khổ thân, 2 là : nhục_hèn: việt nam tôi, mà không thấy admin cho đăng, không biết ban biên tập có nhận được không nữa, xin cho biết tin nhé, thanks

    Admin viết:

    Chào bác,

    Dân Luận vừa bị tấn công từ chối dịch vụ nên phải chuyển sang dùng một cơ chế bảo vệ mới. Do sự thay đổi này thì truy cập Dân Luận dễ hơn trong tuần vừa rồi, nhưng icon của Dân Luận bị thay đổi một chút, chúng tôi hy vọng sẽ sửa được vấn đề này trong một thời gian tới.

    Mến,
    Huân

    Cảm ơn bác Huân đã giải thích.

    Tran Thi Ngự viết:
    Kính các bác trong ban Biên Tập,

    Trong vòng hơn một tuần nay, tôi có gặp khó khăn trong một số ngày khi vào Dân Luận. Từ hai ngày nay, việc vào Dân Luận đã bình thường, nhưng cái icon của trang Dân Luận không còn là hai chữ DL màu xanh lá cây lồng vào nhau như trước (bên Quê Choa vẫn là icon này). Thay vào đó là một hình tròn nhỏ màu xanh da trời bên trong có vài đốm trắng. Như vậy có bình thường không? Xin cảm ơn.

    Chào bác,

    Dân Luận vừa bị tấn công từ chối dịch vụ nên phải chuyển sang dùng một cơ chế bảo vệ mới. Do sự thay đổi này thì truy cập Dân Luận dễ hơn trong tuần vừa rồi, nhưng icon của Dân Luận bị thay đổi một chút, chúng tôi hy vọng sẽ sửa được vấn đề này trong một thời gian tới.

    Mến,
    Huân

    xin chào anh admin, hôm 11/5 rồi mình có gửi bài lên các anh chủ đề là :nhục_hèn việt nam tôi, không biết các anh có nhận được không hay là thất lạc rồi,mong anh cho biết tin, thanks

    Kính các bác trong ban Biên Tập,

    Trong vòng hơn một tuần nay, tôi có gặp khó khăn trong một số ngày khi vào Dân Luận. Từ hai ngày nay, việc vào Dân Luận đã bình thường, nhưng cái icon của trang Dân Luận không còn là hai chữ DL màu xanh lá cây lồng vào nhau như trước (bên Quê Choa vẫn là icon này). Thay vào đó là một hình tròn nhỏ màu xanh da trời bên trong có vài đốm trắng. Như vậy có bình thường không? Xin cảm ơn.

    Cảm ơn bác Kiếm Khách, tôi sẽ hiệu đính lại và cho đăng phần thứ nhất này sớm. Nhờ bác dịch tiếp giúp phần sau ạ!

    Mến,
    Huân



    Tôi mới dịch được một nửa bài, xin BBT xem có đạt hay không rồi sẽ tiếp tục. Cám ơn.




    Các chế độ độc tài sụp đổ như thế nào

    (bài của Andrea Kendall-Taylor & Erica Frantz, báo The Washington Quarterly)
    http://twq.elliott.gwu.edu/how-autocracies-fall

    Rất hiếm khi các nhà độc tài có thể bị tiến trình bầu cử truất quyền, cho nên phần lớn họ rời ngôi vị theo những cách khác xa với thường lệ. Kể từ thập niên 1950, đảo chánh (hay sự thoán đoạt quyền lực bằng cách bất hợp pháp do giới quân sự thực hiện) là đường lối thông dụng vào bậc nhất. Chẳng hạn trong các thập niên 1960 và 1970, khoảng một nửa các nhà độc tài đã bị mất quyền lực vì đảo chánh. Nhưng lướt nhanh đến thập niên 2010, một bức tranh khác hẳn đang xuất hiện. Một chuỗi những cuộc phản kháng trải suốt cuộc biến chuyển Thức tỉnh Á Rập, vốn lật đổ bốn trong các nhà cai trị lâu dài nhất thế giới (Zine al-Abidine Ben Ali ở Tunisia, Hosni Mubarak ở Egypt, Muammar Qaddafi ở Libya, và Ali Abdullah Saleh ở Yemen) đã khiến nhiều quan sát viên chính trị lạc quan về khả năng của quần chúng có thể truất phế những nhà độc tài đầy quyền uy. Nhưng phải chăng những cuộc nổi dậy này là bằng chứng các nhà độc tài đang ngày càng trở nên dễ bị quần chúng tấn công? Hay đó chỉ là những ngoại lệ trong ngắn hạn cho một quy luật đã có từ lâu về sự truất phế các nhà độc tài?

    Sự hiểu biết về những phương thức qua đó các nhà độc tài có xu hướng rời bỏ ngôi vị là quan trọng vì hai lý do. Thứ nhất, bằng cách tập chú đến những phương cách có khả năng cao khiến các nhà độc tài phải đánh mất quyền lực (thứ mà họ chắc chắn mê mải) các quan sát viên chính trị có thể thấy trước tốt hơn về những chiến thuật sẽ chắc được các nhà độc tài và giới yếu nhân bao quanh áp dụng nhằm kéo dài sự thống trị của họ. Điều đó cũng khiến các chuyên viên phân tích có thể dự báo những hệ quả của chiến thuật về chính sách này. Như thế, sự hiểu biết các thể động ấy là rất giá trị cho những ai dính dáng đến chính sách đối ngoại, vì hiện nay có chừng 65 chế độ độc đoán đang nắm quyền và cai trị gần 40 phần trăm dân số thế giới.

    Thứ nhì, cách thức các nhà lãnh đạo rời bỏ quyền lực sẽ ảnh hưởng đến con đường chính trị của quốc gia sở tại một khi họ bị truất phế. Trong giới quan sát chính trị, có sự mặc định chung rằng khi một nhà độc tài đổ xuống sau thời gian cai trị lâu dài, một nền dân chủ sẽ xuất hiện. Sự mặc định này chắc hẳn đã củng cố phần lớn những lạc quan ban đầu theo sau biến cố Mùa Xuân Á Rập. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ hơn vào các dữ liệu sẽ thấy rằng khi các nhà độc tài đổ xuống thì thông thường nhất là họ được thay thế bằng những nhà độc tài mới. Chỉ có 20 phần trăm những trường hợp độc tài sụp đổ trong những năm từ 1950 đến 2012 là dẫn đến chế độ dân chủ. Hơn nữa, cách thức họ ra đi (ví dụ như do quần chúng nổi dậy, hay do sự kết đoàn bên trong hệ thống cai trị) có thể cho biết rất nhiều về những triển vọng của sự dân chủ hóa sau cuộc lật đổ.

    Trong bài này, chúng tôi dùng các dữ liệu cập nhật về các nhà lãnh đạo độc tài để đúc kết rằng điều này là một xu hướng mới trong chính trị độc đoán - các nhà độc tài ngày càng bị hở sườn hơn đối với sự nổi dậy quần chúng và càng ít nhạy cảm hơn vói đảo chánh. Mặc dù một số ít khảo cứu đã chỉ ra rằng đảo chánh trở nên ít thường xuyên hơn kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, nhất là ở Châu Phi, nhưng cho đến nay chưa có khảo cứu xác định những cách thức lật đổ nào thế chỗ cho đảo chánh. Chúng tôi tìm ra rằng trong khi đa số các nhà độc tài vẫn rời bỏ ngôi vị do hành động hay quyết định từ nội bộ của hệ thống cai trị (kể cả đảo chánh, giới hạn của nhiệm kỳ, từ chức, hoặc sự nhất trí nội bộ của bộ chính trị hay hội đồng quân sự) thì ngày nay các cuộc nổi dậy dẫn đến lật đổ các nhà độc tài xảy ra theo tỉ lệ lớn hơn so với đảo chánh, và như thế đánh dấu sự tăng cao rõ ràng về tầm quan trọng của chính trị quần chúng cho sự sống còn của các nhà độc tài.

    Hơn nữa, mặc dù lật đổ do quần chúng xảy ra ít thường xuyên hơn truất phế do nội bộ, nhưng lật đổ do quần chúng có xu hướng dẫn đến những hệ quả sâu xa khi nó thật sự thành công. Nổi dậy là một trong những cách thức lật đổ có khả năng cao nhất loại bỏ không những nhà độc tài mà luôn cả toàn bộ thể chế chính trị (nghĩa là nhóm lãnh đạo và hệ thống luật lệ do họ áp đặt) cũng như có khả năng cao hơn trong việc dẫn đến dân chủ hóa. Giả sử những xu hướng này cứ tiếp tục, dữ liệu cho thấy sự sống còn của độc tài trở nên ngày càng phức tạp vì họ phải chống trả với những mối đe dọa không chỉ phát xuất từ giới yếu nhân, mà ngày càng tăng cao từ quần chúng do họ cai trị.

    Sự Suy tàn và Lớn mạnh của Đảo chánh và Nổi dậy

    Có ba cách tổng quát các nhà độc tài rời bỏ quyền lực. Thứ nhất, họ có thể bị truất phế do hành động và quyết định từ nội bộ của hệ thống cai trị, kể cả đảo chánh. Thứ nhì, các nhà độc tài có thể bị ép buộc phải rời bỏ ngôi vị trong tình thế quần chúng được huy động, kể cả nổi dậy và nội chiến. Và sau cùng, các nhà độc tài không còn nắm quyền khi qua đời vì nguyên nhân tự nhiên.



    XIN GIÚP CHÈN BIỂU ĐỒ VÀO ĐÂY (thiết nghĩ nên dùng các màu khác nhau thay vì chỉ có một màu xám vói độ đậm lợt thay đổi)


    Biểu đồ minh họa số 1
    [Cách đọc biểu đồ số 1:
    Trục thẳng đứng chỉ tỉ lệ phần trăm các vụ chế độ độc tài bị thay đổi.
    Trục nằm ngang chỉ thời gian và được chia thành các thập niên từ 1950 đến 2010.
    Mỗi đoạn cho một thập niên có ba cột:

    * Cột bên phải ghi tỉ lệ của các nhà độc tài qua đời cách tự nhiên.
    Trị số không khác nhau qua các thập niên.

    * Cột ở giữa ghi tỉ lệ của gồm chung các cuộc nổi đậy và nội chiến.
    Trị số của nguyên cột tăng trong các thập niên gần đây 1990 - 2010.
    (cột này gồm có phần dưới cho nổi dậy và phần trên cho nội chiến)

    * Cột bên trái ghi tỉ lệ của gồm chung các cuộc đảo chánh và các cách khác)
    Trị số của nguyên cột giảm trong các thập niên gần đây 1990 - 2010.
    (cột này gồm có phần dưới cho đảo chánh, và phần trên cho các cách khác hay "hợp thức")
    ]

    Từ năm 1950 đến 2012, đã có 473 nhà lãnh đạo độc tài đánh mất quyền lực. Biểu đồ 1 cho thấy xu hướng toàn cảnh theo từng thập niên và từng loại truất phế, được phân ra thành ba nhóm:
    a. do nội bộ (gồm đảo chánh, và những cách khác hay "hợp thức"),
    b. do áp lực quần chúng (gồm nổi dậy và nội chiến),
    c. do qua đời cách tự nhiên trong lúc cầm quyền.

    Như thông tin cho thấy, phần lớn những sự thay đổi này thuộc nhóm a. "do nội bộ" với đảo chánh là một trong những cách truất quyền phổ biến nhất (153 vụ), bao gồm khoảng 1/3 tất cả các vụ kể từ năm 1950. Đảo chánh thường xuyên được tiến hành bởi các sĩ quan cấp cao vốn là thành phần của nội bộ hay bởi các sĩ quan cấp thấp vốn đang bất bình vốn liên hệ với chế độ qua bộ máy quân sự. Chẳng hạn ở nước Mali [vùng Tây Bắc Châu Phi], Tổng thống Traore nắm quyền lãnh đạo trong 23 năm, và bị lật đổ vào năm 1991 qua vụ đảo chánh do người chỉ huy đội quân cận vệ của ông ta cầm đầu. Còn ở nước Benin [vùng Tây Châu Phi], Tướng Soglo bị truất quyền năm 1967 qua vụ đảo chánh do một viên sĩ quan cấp thấp thực hiện [Maurice Kouandété khi ấy mới 35 tuổi].

    Các phần tử bên trong một chế độ cũng có thể liên kết để bắt buộc nhà lãnh đạo độc tài phải ra đi mà không cần hăm dọa hay dùng đến vũ lực. Những sự thất bại "hợp thức" của lãnh đạo này gồm có bầu cử qua đó nhân vật đương quyền bị đánh bại, bị cưỡng chế giới hạn về nhiệm kỳ, bị buộc phải từ chức, hay bởi quyết định nhất trí do các yếu nhân của chế độ như bộ chính trị hay hội đồng quân sự. Mỗi cách thức này đòi hỏi giới yếu nhân phải có khả năng chế ngự những quyết định và cách ứng xử của nhà lãnh đạo. Chẳng hạn, để nhà độc tài rút lui khỏi ngôi vị qua bầu cử, các phần tử bên trong chế độ phải đồng ý tổ chức bầu cử tự do và công bình đủ để người đương quyền thật sự bị đánh bại. Sự thất bại hợp thức của lãnh đạo chiếm khoảng 1/3 tất cả các vụ chuyển đổi lãnh đạo độc tài và mức thường xuyên của nó ngày càng tăng từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Độ tăng cao
    của phương cách ra đi hợp thức này biểu hiện rõ nhất từ các chế độ do "đảng nắm ưu thế" - nghĩa là các chế độ có đảng chính trị nắm quyền kiểm soát rộng rãi các chính sách, sự chọn lựa cấp lãnh đạo, và bộ máy an ninh (như các chế độ Cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam, hay những nơi như Mexico với Đảng Cách mạng Định chế).

    Mức độ thường xuyên của đảo chánh thành công và của thoái vị hợp thức đã khiến nhiều học giả đúc kết rằng mối đe dọa chủ yếu vào sự sống còn của một nhà độc tài không đến từ quần chúng mà từ nhóm các yếu nhân ủng hộ nhà độc tài ấy. Nhận thức này tỏ ra nổi trội trong thập niên trước và dẫn đến nhiều cuộc nghiên cứu về tầm quan trọng của giới yếu nhân khi tìm hiểu về sự sống còn của độc tài. Người ta tìm ra kết quả áp đảo rằng việc quan sát bản chất của mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo và nội bộ của giới cầm quyền là cốt yếu để hiểu nhà độc tài sẽ ứng xử cách nào và theo đuổi các loại chính sách nào, kể cả do sự cưỡng ép lẫn khi có nhiều thời gian bình thường.

    Chẳng hạn, hãy thử xem xét sự có mặt của lập pháp và bầu cử trong chế độ độc tài. Các học giả đã thừa nhận rằng trong khi các định chế này có thể nâng cao tính hợp pháp về mặt quốc nội cũng như quốc tế của một chế độ, lý do chủ yếu khiến nhà độc tài dựng nên ngành lập pháp và tổ chức bầu cử đa đảng là để duy trì lòng trung thành và kết nạp sự ủng hộ trong nội bộ của nhà cầm quyền. Chẳng hạn, các học giả luận rằng một cách nhà độc tài sử dụng lập pháp là để sát nhập các đối thủ vào chế độ bằng cách cho họ một phần thưởng trong việc kéo dài tuổi thọ của chế độ. Ngành lập pháp cũng có khả năng hình thành một đấu trường qua đó nhà độc tài có thể đưa lời dạm hỏi về các nhượng bộ chính sách đến các phần tử có tiềm năng là đối thủ, và có thể thương lượng về những điều kiện cho các thỏa thuận ấy. Thông qua ngành lập pháp, nhà độc tài có thể hứa hẹn với các yếu nhân trong nước về sự chia sẻ quyền lợi qua chức vụ để đổi lấy lòng trung thành của họ. Trong khi đó các yếu nhân có thể dùng lập pháp như một phương tiện để dò xét nhà độc tài, và bảo đảm ông ta tiếp tục giữ lời hứa trong cuộc dàn xếp về chia sẻ quyền lực. Nói khác đi, mục tiêu chính của các định chế này, như dự tính, không nhắm vào quần chúng hay cộng đồng quốc tế, mà là những yếu nhân trong nội bộ của giới cầm quyền.

    Trong khi tài liệu về sự sống còn của độc tài nhấn mạnh những phương cách các nhà độc tài mặc cả với giới yếu nhân trong nội bộ của giới cầm quyền để giảm thiểu mối rủi ro bị truất phế, thì cách thức mà mối đe dọa do sự nổi dậy quần chúng ảnh hưởng đến quyết định và chính sách của các nhà độc tài lại ít được chú ý hơn. Một phần của lý do là mức độ ít thường xuyên mà sự bất bình của quần chúng đã chuyển hóa một cách lịch sử thành khả năng của công dân để truất quyền các nhà độc tài. Trong khoảng thời gian 1950-2012, chỉ có 7 phần trăm các nhà lãnh đạo độc tài bị lật đổ do quần chúng nổi dậy. Ví dụ cho các vụ truất quyền như thế gồm có Triều Vua Shah ở Iran vào năm 1979, Tổng thống Ratsiraka ở Madagascar năm 1993, Tổng thống Suharto ở Indonesia năm 1998, và Tổng thống Bakiyev ở Kyrgyzstan năm 2010.

    Nhưng như biểu đồ 1 cho thấy, tính vượt trội tương đối của việc truất quyền lãnh đạo do quần chúng thúc đẩy đã gia tăng kể từ thập niên 1990. Trong các thập niên 1960-1970 (theo biểu đồ 1), gần 50 phần trăm tất cả các nhà độc tài đánh mất quyền lực qua đảo chánh. Con số này giảm xuống còn dưới 10 phần trăm trong thập kỷ vừa qua [2000]. Cùng những khoảng thời gian ấy, các cuộc nổi dậy chiếm dưới 5 phần trăm tất cả các vụ truất quyền độc tài trong các thập niên 1960-1970, và sau đó đã tăng lên hơn gấp đôi. Thật ra, từ 2010-2012, có 1/4 tất cả các nhà độc tài đã bị lật đổ do quần chúng nổi dậy. Nhưng điều này không có nghĩa rằng mọi cuộc phản kháng đại trà luôn dẫn đến việc truất quyền độc tài. Chẳng hạn, các cuộc phản kháng như vụ xảy ra sau bầu cử ở Belarus năm 2010, vụ ở Nga sau bầu cử Quốc hội năm 2011, và các vụ ở Algeria và Jordan trong biến cố Mùa Xuân Á Rập, chứng tỏ rằng những nhà độc tài thường có thể thoát hiểm khỏi các phong trào như thế. Tuy nhiên, như dữ liệu cho thấy, các cuộc nổi dậy phổ biến đang đặt ra những mối đe dọa ngày càng cao cho những nhà lãnh đạo độc tài.

    Sự thay đổi trong cách thức các nhà độc tài rời bỏ quyền lực làm cho các học giả cũng như quan sát viên chính trị phải đặt câu hỏi: Phải chăng các thể chế độc tài đang ở trong thời kỳ chuyển đổi sang một cách thức vận hành mới? Phải chăng quần chúng đang ngày càng có khả năng hơn, khiến các nhà độc tài dễ bị sự đòi hỏi của quần chúng tấn công hơn và do đó bị quy nhiều trách nhiệm hơn.

    Vì sao có sự thay đổi?

    Vài cách giải thích khá hợp lý có thể cho thấy nguyên do của sự giảm bớt theo tỉ lệ các trường hợp lãnh đạo bị đảo chánh truất quyền so với sự tăng lên đồng thời của các vụ truất quyền do quần chúng nổi dậy. Thứ nhất, những thay đổi trong lịch trình địa chính trị của các cường quốc Phương Tây theo sau hồi kết của Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến sự sụt giảm số lượng các thể chế độc tài quân sự trên toàn cầu, phần lớn do những cắt giảm sâu đậm về trợ giúp kinh tế và chính trị cho nhiều nước như thế (nhất là ở Châu Mỹ La tinh). Độc tài quân sự chiếm 38 phần trăm của tất cả các chế độ độc tài giữa các năm từ 1940 đến 1990, nhưng hiện thời chỉ còn dưới 10 phần trăm của các nền độc tài đang hiện hữu. Sự giảm sút ấy ảnh hưởng đến mức độ thường xuyên của đảo chánh vì cách này là phương tiện chủ yếu cho việc thay đổi lãnh đạo trong các thể chế độc tài quân sự. Những khảo cứu trước đây đã cho thấy rằng so với các loại nhà cai trị độc đoán khác (như độc tài cá nhân hay độc tài đảng trị), các nhà độc tài quân sự phải đối diện với rủi ro lớn hơn rất nhiều có thể bị lật đổ do đảo chánh. Trong các chế độ độc tài quân sự, tư cách thành viên được san sẻ trong quân đội tạo sự dễ dàng hơn cho các yếu nhân của chế độ cộng tác cùng nhau, điều này là cần thiết để bố trí một nổ lực đầy rủi ro như vậy. Hơn nữa, khả năng cao hơn trong việc tiếp cận và kiểm soát bộ máy an ninh khiến việc tiến hành đảo chánh được dễ dàng hơn.

    Khảo cứu vừa qua cũng cho thấy rằng hồi cuối của Chiến tranh Lạnh đã gia tăng sự cam kết của Phương Tây để bảo vệ các nền dân chủ, chẳng hạn như bằng cách trừng phạt những ai cố sức hạ bệ những nhà lãnh đạo do dân bầu lên. Từ năm 1997, một đạo luật do Quốc Hội Mỹ đòi hỏi Tổng Thống phải ngưng ngoại viện cho một quốc gia nếu ở đó xảy ra cuộc đảo chánh. Khối Liên Âu đã đưa ra một cam kết tương tự vào năm 1991. Khảo cứu luận rằng những chính sách hậu Chiến tranh Lạnh ấy đã dẫn đến sự sụt giảm mức độ thường xuyên của đảo chánh bằng cách hạ thấp lợi lộc mà những người định âm mưu đảo chánh nghĩ rằng họ sẽ nhận được một khi đoạt xong quyền lực.

    Tuy nhiên nói như vậy cũng còn thiếu sự thảo luận về các lý do vì sao những hành động quần chúng, nghĩa là nổi dậy, lại đang trở nên cách thức nổi bật hơn trong truất quyền các nhà độc tài. Giống như thời hậu Chiến tranh Lạnh làm tăng áp lực quốc tế hướng về dân chủ hóa và đánh dấu sự thoái trào của độc tài quân sự, thì cũng áp lực đó tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công cuộc vận động quần chúng trong các chế dộ độc tài. Hồi cuối của Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến một số những thể chế mới vốn kết hợp sự cạnh tranh qua bầu cử với sự độc đoán ở những mức độ khác nhau. Được gọi như "thể chế lai chủng", "thể chế bán dân chủ", "thể chế độc đoán có cạnh tranh", những quốc gia đó dù dung thứ sự cạnh tranh chính trị, nhưng vẫn làm nghiêng hẳn sân chơi về phía nhà cầm quyền. Tuy vậy, so với các chế độ độc tài khác, những thể chế mới này cho phép nhiều tự do chính trị và dân sự hơn, vốn cải thiện khả năng của công dân được huy động và điều hợp. Từ lâu các học giả công nhận rằng những nơi ấy, vốn trộn lẫn những yếu tố của độc đoán với các đặc trưng của dân chủ, là bất ổn định. Và quả thật, sự cởi mở khiêm tốn ở một số chế độ độc tài thời hậu Chiến tranh Lạnh đã khiến các công dân và giới đối lập chính trị có thể truất phế một tỉ lệ đang gia tăng các nhà độc tài ở những nơi như Georgia vào năm 2003 và Ukraine năm 2004.

    Sau cùng, sự lớn mạnh của truyền thông xã hội (một yếu tố liên hệ gần gủi với sự cởi mở của chế độ) đã khiến công chúng có thể quy trách nhiệm cho giới lãnh đạo, nhất là từ năm 2000 về sau. Các cuộc nổi dậy, vốn có khả năng lật đổ nhà độc tài, được nổi tiếng là rất khó được tiến hành đồng loạt. Trong khi đảo chánh đòi hỏi chỉ một số nhỏ vài cá nhân thì nổi dậy thường bắt buộc phải huy động hàng ngàn công dân. Các kỹ thuật truyền thông xã hội làm giảm công của trong điều hợp, khiến nhiều công dân hơn có thể bày tỏ khuynh hướng của mình chống lại chế độ, và công bố rộng rãi những lạm dụng của chế độ vốn có thể trở thành những sự kiện kích động sự phản kháng rộng khắp. Điều này không có nghĩa rằng tiếp cận với truyền thông xã hội sẽ tạo ra nổi dậy. Quả thật, những kỹ thuật đó cũng có thể là một công cụ được các nhà độc tài dùng để duy trì quyền lực - như cho phép họ theo dõi và xác định những cá nhân đối lập đang gây đe dọa. Đúng hơn, tiếp cận với truyền thông xã hội giúp mở rộng khả năng của dân chúng trong biểu lộ sự bất mãn, gia tăng cơ hội cho các cá nhân tham gia vào mục tiêu của mình, và, khi kết hợp với cách phương cách khác như đài phát thanh và truyền miệng, làm dễ dàng và gia tăng cơ hội thành công trong tổ chức các hoạt động tập thể cho phong trào phản kháng.

    NGT viết:
    Nhà hàng đứng đầu thế giới

    Hạng 1 : Noma - Copenhague - Denmark
    Hạng 42 : Geranium - Copenhague - Denmark

    http://www.theworlds50best.com/list/1-50-winners

    Bác nào ở Denmark mô tả món ăn ở đó có gì đặc biệt mà lại có hai restaurant trong top 50 thế giới mà Noma là number one.

    Có món ... den lille havfrue, siren ??

    Bác làm tôi tò mò,, nhờ anh "gú gồ chấm" noma tìm dùm đây:

    Trang này được khách hàng đánh giá:

    http://www.tripadvisor.de/Restaurant_Review-g189541-d694971-Reviews-Noma-Copenhagen_Zealand.html

    Có cả wiki nữa:

    http://en.wikipedia.org/wiki/Noma_(restaurant)

    Xem video, hhm, nước miếng đang chảy trong miệng tôi.
    Cỡ nhà hàng này chỉ có quan chức Việt Nam mới có dư tiền ghé ăn, chứ như tôi, nghèo đừng có ham.:)

    http://video.denmark.dk/video/1615447/noma-one-of-the-worlds-best-restaurants

    Nguyễn Jung

    Thủ tướng Hàn Quốc từ chức vì vụ chìm phà

    Theo hãng tin AFP, ông Chung tuyên bố: “Tôi xin lỗi vì đã không thể ngăn chặn tai nạn này xảy ra và không phản ứng phù hợp sau đó. Tôi tin rằng tôi, với vai trò thủ tướng, phải nhận trách nhiệm và từ chức”.

    Ông Chung nhấn mạnh thảm họa chìm phà Sewol đã khiến toàn bộ người dân Hàn Quốc bị sốc. “Rất nhiều ngày đã trôi qua nhưng những tiếng gào thét của người nhà các hành khách mất tích vẫn khiến tôi mất ngủ hàng đêm” - ông Chung cho biết.

    Thủ tướng Hàn Quốc nhấn mạnh thời điểm này không phải là lúc đổ lỗi cho nhau mà phải nhanh chóng hoàn thành chiến dịch cứu hộ. “Tôi hi vọng rằng người dân Hàn Quốc và gia đình các nạn nhân sẽ tha thứ và thông cảm cho tôi” - ông Chung nói.

    Ông cũng cho biết đã muốn từ chức trước đó nhưng xử lý cuộc tìm kiếm cứu hộ là ưu tiên hàng đầu. “Nhưng giờ tôi quyết định từ chức vì không muốn trở thành gánh nặng cho chính phủ” - ông Chung khẳng định.

    Pages