Phần II: Bối cảnh quốc tế và Việt Nam

  • Bởi Admin
    06/05/2010
    0 phản hồi

    Chúng ta đang đứng trước một thế giới đầy hy vọng và thử thách. Các chế độ độc tài đang theo nhau sụp đổ. Làn sóng dân chủ đang trỗi dậy mạnh mẽ trên khắp thế giới. Số lượng các nước dân chủ tiếp tục gia tăng nhanh chóng. Các dân tộc vừa được giải tỏa khỏi ám ảnh thế chiến vừa được một cơ hội vô cùng thuận lợi để loại bỏ những tập đoàn chuyên chính và tổ chức lại xã hội của mình một cách hợp lý hơn. Nhưng mặt khác họ cũng bị đặt trước một thế giới tranh đua gay gắt hơn, với các thông số đã đổi mới.

    1. Những nét đậm của thế giới hôm nay

    1.1. Sự ra đời của một kỷ nguyên mới

    Thế giới đang trải qua một cuộc chuyển hóa trọng đại.

    Các tiến bộ khoa học kỹ thuật dồn dập tới hằng ngày làm thay đổi hẳn bản chất của hoạt động kinh tế và những trao đổi giữa các quốc gia, đẩy các quốc gia vào một cuộc cạnh tranh dữ dội. Vận tốc thay đổi quá mau trong khi chưa ai biết chắc kết quả sẽ như thế nào. Một trật tự mới chưa hình thành trong khi nhiều dấu hiệu đáng ngại đã xuất hiện. Sự tranh đua tìm kiếm hiệu năng tối đa, phẩm chất cao nhất và giá thành thấp nhất không những buộc mọi xí nghiệp xét lại phương thức sản xuất và quản trị mà còn buộc nhiều quốc gia xét lại mô hình xã hội của mình. Mô thức Tây êu từ trước tới nay vẫn được coi, và xứng đáng được coi, là lý tưởng nhất vì dung hòa được một mức độ phát triển cao với một liên đới xã hội lớn đang gặp khó khăn trước sự cạnh tranh của những nền kinh tế duy hiệu năng và thuần túy thị trường. Đối với các nước chưa phát triển và cần được trợ giúp, các định chế tài chánh quốc tế không ngừng khuyến cáo và áp đặt những biện pháp ổn định tiền tệ mà hậu quả rõ nét nhất là chiết giảm những chi phí xã hội cần thiết để duy trì liên đới quốc gia.

    Tuy vậy xu hướng căn bản toàn cầu vẫn là sự ra đời của một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên đặt nền tảng trên những giá trị đã tạo ra sức mạnh của các nước tiên tiến : hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, môi trường và liên đới. Những thành tựu khoa học, kỹ thuật và kinh tế quyết định chỗ đứng của các dân tộc. Trong nhất thời, vai trò lãnh đạo thế giới thuộc về Hoa Kỳ và Tây êu. Trong vài thập niên nữa, một phần quan trọng của vai trò lãnh đạo sẽ chuyển sang khu vực Thái Bình Dương. Sau đó Trung Quốc và Nga, một khi đã chuyển hóa thành công về dân chủ, cũng sẽ vươn lên giành một vai trò quan trọng hơn. Ngôi vị có thể thay đổi, các liên minh cũng sẽ thay đổi, nhưng luật chơi sẽ không thay đổi vì các giá trị nền tảng sẽ không thay đổi. Các quốc gia không hiểu luật chơi này, hoặc còn do dự không chịu mau chóng thích nghi với các giá trị mới phải chờ đón một tương lai rất đen tối.

    1.2. Hoa Kỳ và Trung Quốc

    Nét đậm nổi bật hiện nay là vai trò áp đảo của Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ vừa là cường quốc vượt trội về mọi mặt, vừa là cường quốc có nhiều tiềm năng tiến lên nhất, do đó thế thượng phong của Hoa Kỳ sẽ còn kéo dài trong thế kỷ tới. Trong vài thập niên nữa sẽ khó có vấn đề quốc tế quan trọng nào có thể giải quyết được nếu không có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vì vậy trở thành một vấn đề thế giới, và quốc gia nào dù muốn hay không cũng có vấn đề Hoa Kỳ của mình. Điều đáng mừng là cùng với sức mạnh vô địch đó Hoa Kỳ đồng thời cũng tỏ ra là cường quốc tích cực đem các vấn đề dân chủ và nhân quyền vào chính sách đối ngoại.

    Nhưng nếu cả thế giới có vấn đề Hoa Kỳ thì các nước Đông Nam Á lại có thêm vấn đề Trung Quốc. Trung Quốc đang phát triển về mặt kinh tế và đang gia tăng sức mạnh quân sự. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc cho tới nay một mặt phủ nhận trắng trợn các giá trị dân chủ và nhân quyền, mặt khác tỏ ra muốn sử dụng sức mạnh quân sự của mình cho một chính sách bá quyền khu vực. Châu Á cũng là khu vực có nhiều hiểm họa chiến tranh nhất trên thế giới hiện nay. Sự kiện Trung Quốc vừa gia tăng sức mạnh quân sự vừa để lộ một số tham vọng bá quyền đã làm mọi nước trong vùng lo ngại. Mối quan tâm đối với Trung Quốc đã là nguyên nhân cho một cuộc chạy đua võ trang nguy hiểm trong vùng, làm cho tình hình căng thẳng thêm. Trong tình huống đó, Việt Nam là nước có nhiều tranh tụng nhất với Trung Quốc lại cũng là nước không có khả năng tài chánh để tân trang vũ khí và tăng cường quân lực. Sức mạnh quân sự của nước ta sút kém một cách báo động trong khi áp lực gia tăng.

    1.3. Một sự thật đã rõ ràng: các chế độ cộng sản cáo chung trong hòa bình

    Một yếu tố đầy ý nghĩa là sự thích nghi với dân chủ của các đảng phái kết hợp những người cộng sản cũ tại Đông êu và Liên Xô cũ. Tại các nước này, các đảng cộng sản đã từ bỏ độc quyền chính trị và chấp nhận luật chơi dân chủ. Trong nhiều trường hợp họ đã mất chính quyền nhưng nhờ biết thích nghi với tình hình mới họ đã trở thành những chính đảng có trọng lượng trong sinh hoạt_ chính trị và đã giành lại được chính quyền một cách hợp pháp tại nhiều nước. Nhờ tinh thần hòa giải dân tộc, các quốc gia này đã chuyển hóa thành công về dân chủ trong hòa bình.

    Các nước cộng sản cũ tại Đông Âu và Liên Xô đã gặp rất nhiều khó khăn và xáo trộn về mặt kinh tế và xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, do di sản cực kỳ bi đát của các chế độ cộng sản để lại, nhưng đã vượt qua được hay sắp vượt qua được. Tại các nước này, xã hội dân sự đã thành hình và bắt đầu phát triển ; sinh hoạt kinh tế xã hội đã bắt đầu ổn vững. Nhiều nước đã phát triển mạnh, nhiều nước đang bắt đầu phát triển, các quốc gia còn lại đang trên đường ra khỏi giai đoạn khó khăn. Quan trọng hơn cả là xã hội, dù còn nhiều mặt yếu kém, nói chung đã được đặt trên một nền tảng lành mạnh. Các nước cộng sản đã chấp nhận dân chủ hóa giờ đây có thể hướng về tương lai với niềm tin và hy vọng. Trái lại, bốn chế độ cộng sản ngoan cố - Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba - vẫn còn là những bệnh nhân chưa được giải phẫu với một ngày mai đầy bất trắc.

    Điều cần được đặc biệt nhấn mạnh là tất cả các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và dân chủ hóa một cách rất nhanh chóng đều đã không bị rơi vào hỗn loạn.

    1.4. Dân chủ giành được thắng lợi tại châu Á

    Một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương, nhờ chấp nhận sớm kinh tế thị trường và nới rộng một số quyền tự do căn bản đã đạt được những thành quả ngoạn mục.

    Sự thành công ngoài mức độ chờ đợi trong một giai đoạn đã cho họ ảo tưởng rằng có thể phát triển kinh tế mà không cần dân chủ hóa theo cùng một nhịp độ. Cuộc khủng hoảng tài chính mùa hè 1997 đã gọi họ về với sự thực là dân chủ phải đi trước và mở đường cho phát triển. Họ đã phải trả giá rất đắt, thành quả của nhiều năm cố gắng đã tiêu tan, kéo theo vô số thảm kịch xã hội. Nhưng họ đã hiểu và đã trở thành những nước dân chủ. Họ đã tìm lại được đà phát triển và lần này họ sẽ phát triển một cách lành mạnh và bền vững. Sự chuyển hóa thẳng thắn của các nước Đông Á về dân chủ đã là biến cố quan trọng nhất trong ba năm cuối cùng của thế kỷ 20 và sẽ làm thay đổi hẳn bối cảnh chính trị trong vùng Đông Nam châu Á. Chế độ độc tài cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn bị cô lập và sự thua kém của Việt Nam so với các nước lân cận sẽ ngày một bi đát hơn nếu đất nước không kịp thời thay đổi định hướng.

    Điều cũng cần được nhấn mạnh tại đây là tất cả các nước châu Á đã trở thành ổn định hơn sau khi dân chủ hóa một cách nhanh chóng, trái hẳn với lập luận của các tập đoàn cầm quyền trước đây cho rằng dân chủ có thể đưa đến hỗn loạn.

    1.5. Phong trào toàn cầu hóa đe dọa mọi quốc gia

    Hiện tượng rất mới và cần được ý thức đúng mức là sự xuống cấp toàn cầu của ý niệm quốc gia. Nhiều quốc gia tan vỡ mà không hề bị ngoại xâm, tan vỡ trong hỗn loạn, như tại nhiều nước châu Phi, hay tan vỡ thành những quốc gia nhỏ, như Tiệp Khắc, Nam Tư và Ethiopia. Sự toàn vẹn của nước Canada, dân chủ và phồn vinh, đã chỉ được duy trì sau một cuộc trưng cầu dân ý rất khít khao, nhưng nguy cơ ly khai vẫn còn nguyên vẹn.

    Ý niệm quốc gia dân tộc đang bị công phá từ mọi phía. Từ bên ngoài do những kết hợp khu vực hứa hẹn một không gian hoạt động lớn hơn không gian quốc gia, từ bên trong do các cộng đồng sắc tộc đòi tự trị, và từ cả trong lẫn ngoài do những công ty đa quốc gia và những trao đổi dồn dập và ngày càng gia tăng vận tốc. Các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại cũng đã làm cho trái đất nhỏ lại và đem con người tới gần nhau.

    Khuynh hướng áp đảo hiện nay là khuynh hướng toàn cầu hóa. Tư bản không còn tổ quốc. Các công ty lớn tìm cơ hội đầu tư trên khắp thế giới và lập các kế hoạch sản xuất, tiếp thị, phân phối trên qui mô toàn cầu. Trong cố gắng tìm trọng lượng và địa bàn hoạt động lớn hơn, các công ty ngày càng sát nhập với nhau tạo ra những tổ hợp với tầm vóc vĩ đại. Nhiều tổ hợp có tích sản lớn hơn tổng sản lượng của nhiều quốc gia cộng lại ; đã có một số công ty có trị giá tích sản lớn hơn hay tương đương với tổng sản lượng của cả khối ASEAN với trên 500 triệu người. Trong một thế giới hòa bình, quyền lực kinh tế tự nó đã là quyền lực quan trọng nhất, nhưng nó cũng có thể xâm lấn quyền lực chính trị. Sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia khổng lồ là một thách đố ngày càng lớn cho các quốc gia và cho chính ý niệm quốc gia. Các qui luật thương mại đang nhanh chóng được hình thành và áp dụng cho cả thế giới. Các quyền con người ngày càng được nhìn nhận là phổ cập, được coi như bước đầu của luật pháp quốc tế và được đặt lên trên luật pháp của các quốc gia. Các mạng lưới truyền thông, đặc biệt là mạng lưới Internet cho phép những con người ở rất xa nhau trao đổi và làm việc trực tiếp với nhau. Một người có thể làm việc cho một cơ quan cách nửa vòng trái đất nơi mình cư trú. Khoảng cách đang biến mất. Sự hiện diện ảo đang trở thành thực và có tác dụng không kém sự hiện diện thân xác. Một công dân có thể thường trú ở nước ngoài mà vẫn phục vụ được đất nước mình một cách thường trực và đều đặn như một người trong nước. Cả một "thế giới ảo" đang hình thành với tầm quan trọng gia tăng nhanh chóng. Ngay lùúc này những trao đổi văn hóa, khoa học, kỹ thuật tài chính và thương mại trong thế giới ảo này, qua mạng lưới Internet, đã rất quan trọng. Trong một tương lai không xa thế giới ảo này sẽ lấn át thế giới thực, biến thế giới thực thành một trong những biểu hiện của nó.

    Cuộc chuyển hóa vĩ đại chỉ mới bắt đầu này ngày càng biến mỗi người thành một con người của thế giới trước khi là công dân của một nước. Ý niệm quốc gia dân tộc bị tương đối hóa. Quốc gia không còn là một cứu cánh thiêng liêng mà phải là một phương tiện để xây dựng hạnh phúc cho dân tộc. Trong bối cảnh thế giới hiện nay và sắp tới, một quốc gia không được quan niệm như một tình cảm, một đồng thuận, một dự án tương lai và một không gian liên đới sẽ không thể tồn tại lâu dài. Một quốc gia không đảm bảo an ninh và nhân phẩm, không đem lại phúc lợi thực tiễn và niềm tự hào cho người dân - hơn nữa nếu biên giới quốc gia được coi như tường thành ngăn cản các giá trị tiến bộ và qui định một vùng lộng hành an toàn của các tập đoàn bạo ngược - lại càng tan vỡ nhanh hơn và bi đát hơn. Trong thời đại mới này, chúng ta cần ý thức rằng các tập đoàn cầm quyền thiếu văn hóa và thiếu tầm nhìn là những tai họa cho sự tồn vong của các quốc gia. Các chế độ độc tài bạo ngược giết chết các quốc gia, càng tồi dở và độc ác bao nhiêu chúng càng giết chết nhanh chóng các quốc gia bấy nhiêu.

    1.6. Những liên minh ý thức hệ nhường chỗ cho những hợp tác phát triển

    Sự sụp đổ của khối cộng sản đã chấm dứt tranh chấp tư bản - cộng sản và làm mất vai trò của các liên minh ý thức hệ. Thay vào đó đã xuất hiện những liên minh có mục đích kinh tế, nổi bật nhất là các kết hợp khu vực. Thế giới đang dần dần được phân chia thành một số tập hợp địa lý lớn trong đó các quốc gia vừa cạnh tranh với nhau vừa nương tựa lẫn nhau trong cuộc thi đua với phần còn lại của thế giới. Trong lòng các tập hợp này các biên giới quốc gia, các hàng rào quan thuế càng ngày càng mờ nhạt đi, sự di chuyển của người, hàng hóa và tư tưởng càng ngày càng dễ dàng. Biên giới giữa ngoại giao và ngoại thương càng ngày càng khó xác định. Các quốc gia tìm mọi cơ hội, dựa vào mọi lý do - tôn giáo, ngôn ngữ, đồng dạng về sản xuất, v.v. - để thắt những mối bang giao, tạo những liên hệ hợp tác, thành lập các liên minh. Trong thế giới ngày nay cô lập là chết. Các quốc gia không muốn hay không có phương tiện để tham gia và vận dụng những liên hệ hợp tác này kể như tuyệt vọng, vì bị gạt ra ngoài lề sinh hoạt của một thế giới liên lập.

    2. Các nước chưa phát triển và bối cảnh thế giới mới

    2.1. Hai bất lợi lớn

    Bối cảnh thế giới hiện nay chứa đựng hai bất lợi lớn cho các nước chưa phát triển như Việt Nam.

    Một là, sự giải thể của phong trào cộng sản thế giới tuy là điều rất đáng mừng, nhưng cũng đặt ra những vấn đề nghiêm trọng cho các nước chậm chân lỡ bước. Phong trào cộng sản thế giới đã là thảm kịch cho nhiều dân tộc nhưng cũng đã có tác dụng răn đe các cường quốc tư bản trong cách đối xử với các nước chậm tiến. Với sự biến mất của khối cộng sản, thế giới ngày nay gần giống như một quốc gia không có đối lập. Các nước kém mở mang sẽ gặp nhiều khó khăn mới. Chúng ta sẽ không còn phải lo ngại tệ chiếm đóng, thống trị và vơ vét tài nguyên của những thế kỷ trước nữa, nhưng cảnh lớn nuốt bé, mạnh hiếp yếu là điều chắc chắn vẫn có và còn có cơ nguy gia tăng. Những dân tộc phân hóa, chia rẽ, thiếu sáng kiến, chậm thích nghi sẽ là nạn nhân của trận đấu mới. Lần này sự chèn ép sẽ không trắng trợn và dã man mà diễn ra theo những qui luật hợp pháp.

    Hai là, những tiến bộ dồn dập và trọng đại trong ngành vi điện tử và ngành tin học đang đưa tới một trào lưu tự động hóa càng ngày càng cao khiến cho nhân công rẻ không còn là một yếu tố tự nó đủ sức thuyết phục để lôi kéo đầu tư nữa, các nước kém mở mang đang mất dần đi một vũ khí chiến lược. Chính trị ổn vững, trật tự bảo đảm, luật pháp giản dị, thuế khóa nhẹ nhàng, điều kiện địa lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ lớn, nguồn nhân lực có kỹ năng và hiệu năng là những vũ khí chiến lược phải có để tranh thủ đầu tư quốc tế. Đó lại thường là những yếu tố mà các nước kém mở mang khó hội đủ.

    2.2. Bốn thuận lợi

    Ngược lại, bối cảnh thế giới mới cũng có những lợi điểm mà các nước kém mở mang có thể vận dụng.

    Một là, các chế độ độc tài sẽ không còn được dung dưỡng vì những liên minh ý thức hệ nữa và dần dần bị đào thải. Các dân tộc sẽ được cởi trói, nhiều sinh lực sẽ được giải tỏa, các quốc gia sẽ được quản trị một cách hợp lý hơn, dù là sau một thời gian dọ dẫm. Sự đào thải của các chế độ độc tài là may mắn rất lớn cho các nước chậm tiến. Kinh nghiệm đã cho thấy mọi chế độ độc tài đều độc hại. Dưới chiêu bài duy trì kỷ luật và trật tự, các chế độ độc tài chỉ là những sào huyệt tham nhũng và lạm quyền, cho phép những tập đoàn lưu manh, thoái hóa kềm kẹp nhân dân và ngăn cản mọi tiến bộ.

    Hai là, kinh tế trở thành mối ưu tư hàng đầu của mọi quốc gia. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước giàu mạnh với nhau trong một thế giới mà ngôi vị thay đổi không ngừng cũng khiến các công ty lớn và các nước đã mở mang luôn luôn phải tìm những thị trường mới, những vận hội đầu tư mới. Các nước kém mở mang nếu biết tạo một bối cảnh xã hội ổn vững, những điều kiện kinh tế thuận lợi, nếu không bị lên án và cô lập sẽ có khả năng tìm được những nguồn hợp tác rất có lợi.

    Ba là, do những tiến bộ về truyền thông và giao thông vận tải, cũng như do dân số trên trái đất càng ngày càng đông, thế giới đã nhỏ lại và các quốc gia đều trở thành liên thuộc với nhau và lệ thuộc lẫn nhau. Một ý thức mới đã ra đời theo đó trái đất là quê hương chung của cả nhân loại. Mọi quốc gia đều cảm thấy nhu cầu được sống trong một thế giới không bị đe dọa. Càng giàu có và phát triển các dân tộc càng thấy cần phải đảm bảo những thành tựu của mình bằng cách đóng góp cho một thế giới an bình và ổn vững. Do đó dù muốn dù không, các nước giàu mạnh cũng không thể để mặc các quốc gia khác sống trong sự bần cùng. Đây không phải là một bắt buộc do lòng nhân đạo, mà do thế liên thuộc mật thiết. Một thí dụ cụ thể là vấn đề môi sinh. Chernobyl không phải đã chỉ là một tai họa của riêng Ukraine. Các ống thoát khói tại ‰ên Độ không phải chỉ ô nhiễm không gian của ‰ên Độ, do đó không phải chỉ là vấn đề của ‰ên Độ mà là vấn đề của cả thế giới. Sự phá hủy rừng Amazon không phải là vấn đề riêng của nước Brazil. Những ô nhiễm của vùng biển Việt Nam là vấn đề của cả Đông Nam Á. Một thí dụ khác là phong trào di dân từ các nước nghèo sang các nước giàu, đặt cho các nước giàu mạnh hàng loạt những vấn đề nan giải. Thế liên thuộc bắt buộc các nước mở mang tạo điều kiện giúp các nước chậm tiến có cơ hội để phát triển. Sự tương trợ này, dù chỉ xuất phát từ nguyện vọng của các nước phát triển là khỏi phải sống trong một thế giới quá nhiều hiểm họa, cũng là cơ may mà các nước thua kém có thể lợi dụng để vươn lên.

    Bốn là, những đòi hỏi về hạnh phúc và tiện nghi của các dân tộc đã mở mang tăng lên mau chóng, có phần nhanh hơn cả đà phát triển kinh tế của họ. Số giờ làm việc ngày càng giảm đi, lương bổng ngày càng tăng thêm, các chi tiêu công cộng về xã hội, văn hóa, nghệ thuật, tiện nghi sẽ tăng cao kéo theo sự gia tăng về thuế khóa. Dĩ nhiên những phát minh mới sẽ không ngừng xuất hiện để hạ giá thành xuống và nâng phẩm chất lên, nhưng trong thế giới truyền thông hiện nay các phát minh này nếu xuất hiện ở các nước đã phát triển cũng sẽ mau chóng được phổ biến sang các nước khác. Cuối cùng khuynh hướng chung tại các nước có mức sống cao vẫn là giá thành, tỷ lệ lợi nhuận và phần tái đầu tư của tổng sản lượng quốc gia chênh lệch một cách bất lợi so với các nước đang phát triển. Trong tình trạng này, nhân dân các nước kém mở mang, vì ít đòi hỏi về tiện nghi và tiêu thụ hơn, sẽ có khả năng chấp nhận những hy sinh và cố gắng hơn hẳn, do đó có triển vọng cạnh tranh hữu hiệu với các nước mở mang. Chúng ta có thể tiên liệu rằng, trước khi đi tới cạnh tranh về mọi mặt, thế giới sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp khá dài trong đó, nói chung, các nước vừa mới mở mang sẽ sản xuất phần lớn hàng hóa và vật dụng trong khi các nước đã đạt tới mức phát triển cao cung cấp phần lớn tư bản, dịch vụ, hàng hóa phẩm chất cao và thiết bị sản xuất. Cho nên đối với những quốc gia kém mở mang, từ nay cho tới một vài thập niên nữa, sự cạnh tranh gay go nhất sẽ là sự tranh đua giữa chính họ với nhau. Sự tranh đua này sẽ rất khó khăn đối với các nước hoặc kém mở mang nhất, hoặc không thích nghi thật nhanh với tình thế.

    3. Việt Nam trong bối cảnh thế giới mới

    3.1. Nguy cơ

    Trong một bối cảnh quốc tế như vậy, tương lai của Việt Nam rất bấp bênh.

    Mặc dầu trên nguyên tắc nước ta đã có quan hệ bình thường với mọi quốc gia và đã là thành viên của ASEAN, nhưng sự theo đuổi một cách ngoan cố chủ nghĩa Mác-Lênin, những vi phạm trắng trợn về nhân quyền và dân quyền, tệ quan liêu và tham nhũng, sự do dự trước những cải tổ cần thiết và cách cư xử thô vụng trong những giao thiệp quốc tế đã khiến Việt Nam lâm vào một thế cô lập lớn trên thực tế. Việt Nam vắng mặt trong hầu hết mọi chương trình hợp tác và cũng vắng mặt trên mọi thị trường quốc tế quan trọng.

    Chính sách mở cửa về kinh tế thị trường được thực hiện từ 1987 đã cải thiện một cách đáng kể mức sống của nhân dân nhưng đã mau chóng đạt tới giới hạn của nó. Từ 1996 trở đi đà tăng trưởng đã khựng lại sau quyết định xiết lại của đại hội 8 của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Dưới áp lực của những khó khăn ngày càng gia tăng, đảng cộng sản gần đây đã phải chấp nhận một số biện pháp cải tổ kinh tế, nhưng sự ngoan cố từ chối cải tổ chính trị vẫn không cho phép Việt Nam ra khỏi trì trệ.

    Ngoại thương của Việt Nam, dù đã phần nào gia tăng, vẫn không đáng kể, đầu tư đã thấp lại sút giảm trong những năm gần đây trong khi các quốc gia khác không ngừng vận dụng mọi sáng kiến để thu hút tư bản quốc tế dựa trên ưu thế sẵn có. Lợi tức quốc gia quá thấp đã khiến chính quyền bỏ rơi giáo dục, cơ sở hạ tầng, thiết bị sản xuất và ngay cả những ưu tư tối thiểu về lương thực và sức khỏe cho dân chúng.

    Chất liệu nhân xã của chúng ta đã bị rách nát do những cuộc tương tàn kéo dài và thảm khốc, do tinh thần bất dung và thù hận mà những cuộc chiến này đẻ ra, do chính sách phân biệt đối xử mà đảng cộng sản thi hành trong suốt thời gian qua, do chênh lệch giàu nghèo quá lộ liễu và do sự nghi hoặc toàn diện của dân chúng đối với các giá trị cơ bản của mọi xã hội.

    Công nghiệp đã bị quản lý một cách thô vụng lại còn phải chịu sự cạnh tranh bất chính của hàng nhập cảng lậu thuế. Nhiều thiết bị sản xuất đã cũ và lỗi thời nhưng vẫn chưa thay thế được. Nhiều cơ sở hạ tầng hư hao mà không được tu bổ.

    Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến một thảm kịch mới : đó là sự hao mòn ngay ở nền tảng của đất nước. Cây rừng bị chặt phá để xuất khẩu tống tháo lấy ngoại tệ, bờ biển bị ô nhi%ễm, đất nước trở thành cằn cỗi, lụt lội và hạn hán kế tiếp nhau hàng năm. Đất nước không những chỉ bị hủy hoại mà còn bị đem bán, rất nhiều vùng đất có giá trị kinh tế chiến lược đã bị người ngoại quốc mua mất.

    Đồng thời tài nguyên quí nhất của quốc gia là con người cũng bị xuống cấp một cách thê thảm. Sức khỏe của nhân dân suy nhược vì thiếu dinh dưỡng, thuốc men và chăm sóc. Các chứng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lan tràn một cách báo động mà không có biện pháp ngăn chặn. Thanh thiếu niên bỏ học hàng loạt. Trí tuệ dân tộc suy giảm nặng với sự xuống cấp bi đát của hệ thống giáo dục. Tệ nghiện ma túy ngày càng gia tăng. Cuộc sống khó khăn làm con người càng ngày càng rời xa các giá trị căn bản của mọi xã hội : đạo đức, lương thiện, thật thà, cần cù, kỷ luật, v.v...

    Giềng mối của xã hội cũng bị tan rã : bất công lộ liễu và thách đố, trộm cướp hoành hành công khai, buôn lậu trở thành một phong trào quốc gia, tham nhũng trở thành một thông lệ, sự dối trá, giật giọc trở thành một nếp sống.

    Trước thực trạng nguy ngập đó, nhà cầm quyền thay vì dồn mọi cố gắng để cứu nước lại áp đặt làm mục tiêu hàng đầu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa đã bị cả thế giới, kể cả các nước đã khai sinh ra nó, từ bỏ và đã bị nhân dân Việt Nam coi là nguyên nhân của tình trạng bi đát hiện nay. Nhà nước cộng sản đã thất bại trên mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, nhưng vẫn tiếp tục cầm quyền như một thách đố với nhân dân và không những thế, còn khẳng định quyết tâm giữ độc quyền chính trị vô hạn định. Nhà nước cộng sản vì vậy là một khiêu khích hàng ngày đối với nhân dân và một tai họa. Tai họa đó kéo dài quá lâu đã khiến người dân, bất lực và chán chường, không những chỉ ghét chính quyền mà còn dần dần mất cả lòng tin vào đất nước. Mỗi người tự luồn lách để tìm những giải đáp cá nhân cho những vấn đề cá nhân. Mộng ước của rất nhiều người Việt Nam ngày hôm nay là được rời khỏi Việt Nam và làm công dân của một nước khác. Nhà nước mất dần độc quyền bạo lực về tay các băng đảng trộm cướp và xã hội đen, và ngày càng mất quyền thu thuế do tình trạng buôn lậu và tham nhũng. Chúng ta đang tiến dần tới sự giải thể quốc gia. Chúng ta phải thét lên tiếng thét báo động. Nếu đà này tiếp tục, ý niệm quốc gia có lúc sẽ mất hết nội dung, các ý đồ ly khai, tự trị sẽ xuất hiện và tăng trưởng, các thế lực ngoại bang sẽ ngày càng có điều kiện khuynh loát chúng ta, trong một thế giới mà ý niệm quốc gia dân tộc đang bị chất vấn. Sự tồn vong của chính đất nước ngày càng không chắc chắn.

    3.2. Triển vọng

    Ngược lại, chúng ta cũng có những căn bản tốt có thể và cần được sử dụng triệt để cho cố gắng phục hưng.

    Chúng ta có một ngôn ngữ đồng nhất trong cả nước, một ngôn ngữ dễ học và khá đầy đủ để chuyên chở mọi kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật.

    Chúng ta có một dân số khá đông đảo, gần 80 triệu dân, đứng hàng thứ 13 trên thế giới. Dân số đông đảo này tuy là một trở ngại lớn cho cố gắng nâng cao mức sống nhưng cũng là một sức mạnh. Người Việt Nam ta minh mẫn và siêng năng trên mức trung bình. Trong quá khứ chúng ta đã chứng tỏ khả năng tiếp thu mau chóng các khoa học và kỹ thuật mới nhất ; sinh viên Việt Nam đã thành công đông đảo và mỹ mãn trong những cuộc thi tuyển khó khăn tại mọi quốc gia trên thế giới ; thợ Việt Nam học nghề mau chóng và được sự thán phục của mọi người. Những người Việt Nam di tản ra nước ngoài cũng đã chứng tỏ một khả năng thích ứng xuất sắc với điều kiện sinh hoạt hoàn toàn mới. Có thể nói chúng ta là một dân tộc tinh anh. Một vốn liếng như vậy dù có bị soi mòn đến đâu đi nữa cũng không thể mất hẳn trong vòng một hai thế hệ. Nếu tìm ra được tổ chức xã hội hợp lý con người Việt Nam có thể phục hồi được. Và một khi con người Việt Nam đã được phục hồi chúng ta sẽ có một tài nguyên nhân lực rất hùng hậu.

    Trong suốt dòng lịch sử khó khăn nhưng oanh liệt, người Việt Nam đã biểu lộ một nguyện vọng tha thiết muốn giữ nước để sống chung với nhau và xây dựng cùng nhau một tương lai Việt Nam chung. Lòng yêu nước của người Việt dù đã rất suy giảm vì thất vọng và bực bội vẫn còn có thể khôi phục. Dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ một sức sống phi thường, đã thắng được nhiều thử thách vô cùng cam go. Chúng ta vẫn còn đủ sức để vượt qua thử thách hôm nay nếu biết kịp thời trấn tĩnh.

    Chúng ta có một địa lý vô cùng thuận lợi. Đất đai của ta tuy hẹp nhưng phì nhiêu, nông nghiệp của ta nếu hoạt động một cách hợp lý không những có khả năng sản xuất đủ lương thực cho dân chúng mà còn có khả năng xuất cảng. Bờ biển của ta dài và đẹp, nước ta nằm ngay sát nhiều trục giao thông quan trọng và ở ngay giữa một vùng đang phát triển mạnh mẽ có tất cả mọi triển vọng để trở thành một trung tâm kinh tế chiến lược lớn của thế giới. Chúng ta có tiềm năng của một quốc gia rất lớn về du lịch, công nghiệp và thương nghiệp. Sự chuyển hóa về dân chủ gần đây của các nước Đông Nam Á cũng là yếu tố tích cực mới, tạo ra một bối cảnh ngày càng lành mạnh và văn minh, có tác dụng thôi thúc đối với mọi người Việt Nam.

    Chúng ta đang sống một thay đổi tư duy mang rất nhiều hy vọng. Những cuộc chiến khốc liệt tàn phá đất nước đã khiến người Việt Nam ý thức cái tai hại của bạo lực. Chúng ta đã đạt tới đồng thuận rằng hòa bình là giá trị đáng quí nhất trong mọi giá trị. Kinh nghiệm các chế độ độc tài gian trá kế tiếp nhau cũng đã giúp chúng ta tin tưởng một cách thầm kín vào tự do dân chủ. Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng đang giúp chúng ta đoạn tuyệt với tâm lý trông cậy ở các liên minh ý thức hệ để dựa vào chính mình, và do đó đã hiểu rằng cần phải hòa giải với nhau, đoàn kết với nhau để giải quyết những vấn đề chung và xây dựng tương lai chung. Chúng ta cũng đã chấm dứt được những bàn cãi về mô thức kinh tế để nhận định rằng chỉ có một nền kinh tế thị trường lấy cạnh tranh và sáng kiến cá nhân làm nền tảng là có thể thành công. Chúng ta cũng đã thấu hiểu trong óc, trong tim, trong da, trong thịt những hậu quả bi đát của hận thù và chia rẽ. Trên rất nhiều điểm cơ bản, trí tuệ Việt Nam đã được khai thông.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi