Hỏi Đáp về Dự Án Chính Trị Thành Công Thế kỉ 21 và Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

  • Bởi Admin
    06/05/2010
    0 phản hồi

    I.- Nhiệm vụ Lịch sử

    1.1.- Nhiệm vụ lịch sử của người Việt nam hiện nay là gì ?

    Chúng ta còn là một trong những dân tộc nghèo đói, lạc hậu và bế tắc trong một thế giới của trào lưu dân chủ, tiến bộ và phồn thịnh. Sự trì trệ kéo dài có thể làm tan vỡ quốc gia và đẩy dân tộc vào cảnh lầm than khó ngóc đầu lên. Vì vậy nhiệm vụ lịch sử của những người Việt nam hôm nay là cứu dân tộc ra khỏi lầm than và cứu đất nước ra khỏi nguy cơ thua kém vĩnh viễn.

    1.2.- Tại sao Việt Nam còn là một nước nghèo và lạc hậu ?

    Những chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cách tổ chức xã hội.

    Trong những yếu tố đó tổ chức xã hội có tầm quan trọng vượt hẳn. Tổ chức xã hội tốt hay xấu, khéo hay vụng có thể thay đổi hoàn toàn số phận của một dân tộc. Nói cách khác, tổ chức xã hội là chìa khóa của tiến bộ, là yếu tố quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc.

    Với một dân số đông đảo, những con người cần mẫn và một địa lý thuận lợi, Việt Nam có tiềm năng của một nước lớn và giàu mạnh. Nhưng Việt nam vẫn nghèo và lạc hậu. Bởi vì cách tổ chức xã hội của Việt nam chúng ta tồi dở.

    1.3.- Phải làm gì để thay đổi tổ chức xã hội?

    Chúng ta phải đầu tư đủ suy nghĩ để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và để tìm ra hướng giải quyết. Phải xét lại toàn bộ các giá trị và tập quán, phải đổi mới hoàn toàn cách suy nghĩ và tổ chức xã hội.

    Nói khác, chúng ta cần có một Dự Án Chính Trị.

    1.4.- Tại sao cần một Dự Án Chính Trị?

    Bởi vì Dự Án Chính trị chính là những đề nghị thay đổi cách tổ chức xã hội để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng hiện nay.

    Dự Án Chính Trị hình thành sau một quá trình trao đổi, do sự gặp gỡ giữa trí tuệ và những thực tại lịch sử, địa lý, văn hóa, đạo đức của dân tộc. Nó có tham vọng đóng góp vào một ý thức chính trị Việt Nam mới và hi vọng được những người dân chủ Việt Nam đón nhận như một tài liệu để thảo luận.

    Để từ đó đi đến kết hợp giữa những ai theo đuổi một lý tưởng chung là xây dựng một đất nước Việt Nam, mà những con người hôm nay có thể chấp nhận và các thế hệ mai sau có thể tự hào.

    II.- Bối cảnh quốc tế và Việt nam

    2.1.- Nét đậm của thế giới hôm nay là gì ?

    Các chủ nghĩa đã bị đào thải, nhường chỗ cho những giá trị tiến bộ đang trở thành phổ cập: hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, liên đới và môi trường.

    Dân chủ đang thắng lợi, số lượng các quốc gia từ bỏ chế độ độc tài để chuyển sang dân chủ ngày càng đông. Sự chuyển đổi về dân chủ đã không gây ra bạo loạn tại quốc gia nào, trái lại đã đem lại trật tự và ổn vững. Các liên minh ý thức hệ đã chấm dứt, nhường chỗ cho những kết hợp giữa các nước cùng khu vực hoặc văn hóa trong mục đích giúp nhau cùng tiến.

    Chính ý niệm quốc gia dân tộc cũng đang bị xét lại. Ý niệm tổ quốc thiêng liêng phải được phụng thờ vô điều kiện không còn hợp thời nữa. Muốn tồn tại được quốc gia phải cần thiết và có ích cho người dân, phải là một phúc lợi thay vì một gánh nặng.

    2.2.- Đâu là những bất lợi cho các nước chậm phát triển?

    Trong một bối cảnh thế giới tranh đua, các dân tộc chậm tiến như Việt Nam một mặt bị đặt trước nguy cơ bị chèn ép và bóc lột; mặt khác, do xu hướng tự động hóa, dần dần mất đi một vũ khí chiến lược là nhân công rẻ. Về lâu về dài chỗ đứng trên thế giới và chính sự tồn tại cũng bị đe dọa.

    2-3- Các nước chậm phát triển có thuận lợi nào không?

    Bối cảnh thế giới mới cũng đem lại những vận hội rất tốt mà các dân tộc chậm tiến có thể tận dụng để vươn lên :

    - các tập đoàn độc tài không còn được nâng đỡ và che chở nữa, các dân tộc đủ quyết tâm có thể loại bỏ chúng để tiến tới dân chủ và tổ chức lại đất nước một cách hợp lý

    - sự cạnh tranh gắt gao khiến cho việc thu hút tư bản và kỹ thuật trở thành dễ dàng

    - thế liên thuộc tự nhiên trong một thế giới ngày càng nhỏ lại buộc các nước tiên tiến phải tạo điều kiện thuận lợi cho hòa bình và phát triển

    - khả năng chấp nhận những cố gắng và hy sinh lớn hơn cho phép các nước chậm tiến lợi dụng được chính sự phồn vinh tại các nước đã phát triển để tiến nhanh hơn.

    2-4- Trong thế giới mới, Việt nam đang đứng trước nguy cơ nào?

    Chúng ta là một quốc gia rất cô lập do sự ngoan cố duy trì một chế độ độc tài và một chủ nghĩa đã bị thế giới vứt bỏ.

    Cuộc chiến thảm khốc và cách quản lý thô bạo không những đã làm tiêu hao tài nguyên mà còn hủy hoại một cách trầm trọng môi trường và làm xuống cấp con người. Các tệ nạn xã hội gia tăng, các giá trị nền tảng ngày càng phai nhạt. Xã hội ngày một thêm rối loạn do trộm cướp, buôn lậu, tham nhũng, mafia.

    Nguy hiểm hơn nữa là sự chán chường của dân chúng. Đại đa số người Việt Nam hiện nay không những chỉ thù ghét chính quyền mà còn mất cả lòng tin ở đất nước.

    Mối nguy lớn nhất là những người cầm quyền không ý thức được sự thờ ơ báo động của người dân, do đó vẫn tiếp tục cai trị một cách thách đố khiến quần chúng ngày càng lãnh đạm hơn với đất nước.

    Những biện pháp mở cửa mà chính quyền cộng sản bắt buộc phải chấp nhận đã cởi bớt thắt buộc, để nhân dân tự cải tiến đáng kể đời sống hàng ngày. Nhưng sự ngoan cố từ chối cải tổ chính trị vẫn kìm hãm đất nước trong sự trì trệ.

    2.5.- Việt nam có triển vọng gì trong thế giới mới?

    Chúng ta cũng có nhiều triển vọng lớn:

    - một ngôn ngữ thuần nhất, dễ học và đủ để chuyên chở mọi kiến thức

    - một dân tộc đông đảo và cần mẫn, có khả năng học hỏi và thích nghi cao

    - một địa lý khá thuận lợi

    - một lịch sử sống chung dài và một sự gắn bó lớn với quê cha đất tổ.

    Lợi điểm lớn nhất là chúng ta đã có thay đổi tư duy, đã đạt tới đồng thuận trên rất nhiều điểm cơ bản.

    III.- Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới

    3.1 - Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới là những gì?

    - Quốc gia Việt nam phải được quan niệm như là một không gian liên đới và một dự án tương lai chung

    - Thể chế Việt nam phải là thể chế dân chủ đa nguyên.

    - Hoà giải và hoà hợp dân tộc là một bắt buộc.

    - Cố găng phát triển đất nước đặt nền tảng trên kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân.

    3.2 - Về định nghĩa của quốc gia: Thế nào là một không gian liên đới và một dự án tương lai chung?

    Một Quốc gia Viêt nam chỉ có thể tốn tại nếu có khả năng ràng buộc người Việt nam với nhau, đồng thời phải là môi trường thuận lợi cho những hợp tác.

    Đất nước ấy sẽ có lợi cho mọi người bởi vì đó là môi trường phát triển tự nhiên cho mỗi người , là nguồn yểm trợ để chúng ta xây dựng một niềm tự hào chung và tăng cường những quyền lợi chung.

    Quốc gia Việt Nam vì thế phải được quan niệm như là một không gian liên đới và một dự án tương lai chung. Đất nước ấy phải là của mọi người chứ không phải của riêng của một thế lực hay đảng phái nào.

    Trong quan niệm ấy, nhà nước chỉ là công cụ để thực hiện một đồng thuận dân tộc, đúc kết của những nguyện ước cá nhân được phát biểu một cách tự do. Nhà nước ấy phải ở trong và ở dưới quốc gia, và phải xuất phát từ chọn lựa tự do của dân chúng.

    3.3.- Thế nào là dân chủ đa nguyên?

    Thể chế dân chủ đa nguyên là thể chế tôn trọng mọi khác biệt và dành chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người.

    Nhà nước phải thực sự tản quyền, cho phép các địa phương tự tổ chức sinh hoạt của mình theo những điều kiện đặc biệt.

    Nhà nước tự coi như có sứ mệnh phục vụ xã hội dân sự và tạo điều kiện để xã hội dân sự phát triển và đem lại phúc lợi cho đất nước.

    Nhà nước đặt nền tảng trên thỏa hiệp thay vì xung khắc, không áp dụng một cách máy móc nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Nhà nước coi công bằng xã hội là một ưu tư thường trực.

    Nhà nước dân chủ đa nguyên phải là một nhà nước nhẹ, tuyệt đối tôn trọng và thực thi luật pháp, tập trung vào sứ mệnh hòa giải những tranh chấp, trọng tài các quan hệ trong xã hội dân sự và chế tài những vi phạm.

    3.4.- Tại sao phải cần Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc?

    Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một bắt buộc. Hòa giải để xóa bỏ những hận thù và hiềm khích do lịch sử để lại giữa các sắc tộc, giữa các địa phương, giữa các tôn giáo, giữa người dân và chính quyền.

    Quan trọng nhất là hòa giải những hận thù do cuộc chiến và các chính sách phân biệt đối xử mà chế độ cộng sản để lại. Hòa giải để tiến tới hòa hợp trong cố gắng xây dựng một tương lai Việt Nam chung.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định rằng thiếu một chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc thành thực và quả quyết thì Việt Nam sẽ không có tương lai ngay cả nếu chế độ cộng sản chấm dứt.

    3.5.- Làm thế nào để phát triển đất nước trên nền tảng kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân?

    Phát triển đất nước đặt nền tảng trên kinh tế thị trường, lấy ý kiến và sáng kiến cá nhân làm động cơ và lấy lợi nhuận làm chất kích thích là đặc điểm của thể chế dân chủ đa nguyên.

    Phát triển là thành quả của tự do và dân chủ, vì thế cải tổ chính trị phải đi trước cải tổ kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, dân chủ hóa thực sự và toàn diện phải là bước đầu bắt buộc. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên coi ổn định chính trị là cần thiết cho phát triển. Nhưng ổn định không phải là sự lưu giữ dài hạn một tập đoàn cầm quyền mà là hiến pháp dân chủ và ổn vững, luật pháp không thay đổi đột ngột và tùy tiện.

    Sinh hoạt kinh tế thị trường phải đặt nền tảng trên các xí nghiệp tư, nhà nước không có chức năng kinh doanh. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên tin rằng phát triển kinh tế chủ yếu là một vấn đề tâm lý và văn hóa. Vì thế cần phát huy một văn hóa kinh doanh, tôn vinh cố gắng làm giàu chính đáng và gây một tâm lý tin tưởng và lạc quan trong xã hội.

    Niềm tin của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là một nhà nước nhẹ, thực sự dân chủ và không tham nhũng trong một xã hội đề cao kinh doanh, chắc chắn sẽ đưa tới phát triển.

    IV.- Những định hướng lớn

    4.1.- Đâu là những định hướng lớn mà THDCĐN đã nhận diện trong việc xây dựng đất nước?

    Trong việc xây dựng đất nước Tập Hợp Dân chủ đa nguyên đề ra những định hướng lớn như sau:

    - Xây dựng đất nước trên những giá trị tiến bộ thay vì trên một chủ nghĩa.

    - Lấy tự do làm động lực để phát huy óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến.

    - Phát huy lòng yêu nước tự nguyện.

    - Tôn trọng và phát huy xã hội dân sự.

    - Xác định Việt Nam là đất nước của các cộng đồng.

    - Chọn lựa dứt khoát kinh tế thị trường.

    - Không ngừng cảnh giác bảo vệ công bằng xã hội.

    - Tiến tới một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.

    - Theo đuổi một chủ nghĩa nước nhỏ.

    - Thực hiện một chính sách đối ngoại hòa bình và một chính sách láng giềng tốt.

    - Qui hoạch phát triển kinh tế hài hòa, chú ý đến đà gia tăng nhân số còn rất cao và là một vấn nạn chung cho nhiều nước kém mở mang.

    4.2.- Tại sao xây dựng đất nước trên những giá trị tiến bộ thay vì một chủ nghĩa?

    Một xã hội muốn tiến bộ phải được xây dựng trên nền tảng của những giá trị tiến bộ. Những giá trị tiến bộ đó là hòa bình, tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, liên đới và môi trường.

    Các nước phương Tây đã biết đề cao và phát huy triệt để một phần lớn trong số các giá trị này để làm nền tảng cho xã hội. Nhờ vậy họ đã có được sức mạnh và sự phồn vinh.

    4.3.- Tại sao lấy tự do làm động lực để phát huy óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến?

    Lịch sử chống ngoại xâm chật vật của dân tộc ta đã giúp chúng ta có khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh sống nhưng cũng đã làm cho chúng ta dần dần mất đi cái nhìn dài hạn, sáng kiến, óc phát minh và tinh thần mạo hiểm.

    Mất đi óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến đã làm cho chúng ta không phát triển được. Bởi vậy chúng ta phải học và tập quen có óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến. Óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến chỉ được phát huy khi có khuyến khích và tôn vinh tự do suy nghĩ và phát biểu.

    Bởi vậy chúng ta cần nâng lên hàng một nguyên tắc tuyệt đối là trong nước Việt Nam tương lai sẽ không thể có những vấn đề cấm bàn tới và cũng không thể có những ý kiến cấm nêu ra.

    4.4.- Làm sao phát huy được lòng yêu nước tự nguyện?

    Chiến tranh, tang tóc, thất vọng, sự chịu đựng quá lâu một chế độ độc tài vừa tồi dở vừa bạo ngược, mặc cảm thua kém các dân tộc khác làm cho lòng yêu nước của chúng ta bị tổn hại trầm trọng. Chính vì ý chí và lòng yêu nước đã hao mòn mà ngày nay chúng ta đã không phản ứng đủ quyết liệt trước một chế độ độc tài đảng trị coi đất nước là của riêng mình như các vua chúa ngày xưa, trong khi cả nhân loại đang tiến về dân chủ và chính chúng ta cũng biết đất nước rất cần dân chủ.

    Chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là xây dựng một tương lai Việt Nam chung. Và để xây dựng tương lai chung đó, lòng yêu nước vẫn là mẫu số chung không có không xong. Lòng yêu nước là sức mạnh để chinh phục tương lai của dân tộc với điều kiện là phải tự nhiên và tự nguyện.

    Trách nhiệm chính của nhà nước là làm cho đất nước ngày càng cần thiết, đáng yêu và đáng tự hào.

    4.5.- Tôn trọng và phát huy xã hội dân sự đem lại lợi ích nào?

    Xã hội dân sự là toàn bộ những kết hợp của người dân và được coi là nền tảng của đất nước. Xã hội dân sự đảm bảo sự năng động của xã hội và đồng thời cũng bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ độc tài chuyên chính.

    Trong mô hình xã hội của chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một vai trò quan trọng là thực hiện liên đới xã hội, giúp đỡ và bênh vực những người yếu kém và thiếu may mắn.

    Bởi vậy nhà nước tự coi là có vai trò tạo điều kiện để xã hội dân sự tạo phúc lợi cho đất nước chứ không định đoạt và làm thay cho xã hội dân sự.

    4.6.- Tại sao phải xác định Việt Nam là đất nước của các cộng đồng?

    Bởi vì đất nước Việt Nam không phải là của riêng sắc tộc Kinh. Lịch sử và văn hóa Việt Nam phải được coi là lịch sử và văn hóa của mọi sắc tộc đã kết hợp lại để tạo thành đất nước Việt Nam.

    Cộng đồng người Việt hải ngoại phải được coi là thành phần khắng khít của đất nước. Mọi người Việt Nam sinh sống tại hải ngoại phải được coi là những công dân với đầy đủ quyền lợi và nhiệm vụ.

    4.7.- Lý do nào khiến ta dứt khoát chọn lựa kinh tế thị trường?

    Kinh nghiệm thế giới trong nhiều thập niên qua đã chứng tỏ rằng các chính sách kinh tế tập thể, quốc doanh đều dẫn đến thất bại.

    Kinh nghiệm cũng đã cho thấy rằng thị trường tự do là hướng dẫn chính xác nhất cho sản xuất và là bảo đảm chắc chắn nhất cho một sự phân phối hiệu nghiệm.

    Chọn lựa kinh tế phải có cho Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, lấy xí nghiệp tư làm nền tảng, lấy óc kinh doanh và sáng kiến làm sức mạnh, lấy tinh thần cầu tiến và làm giàu làm động cơ, lấy lợi nhuận làm phần thưởng và chất kích thích. Chọn lựa ấy có nghĩa là nhà nước sẽ không làm tất cả những gì mà tư doanh có thể làm được.

    4.8.- Tại sao phải không ngừng cảnh giác bảo vệ công bằng xã hội?

    Trong các nhiệm vụ của nhà nước dân chủ đa nguyên, nhiệm vụ trọng yếu nhất là bảo đảm công bằng xã hội.

    Công bằng xã hội là điều kiện cơ bản để giữ gìn sự bền chắc của nền tảng xã hội, bảo đảm sự tham gia tích cực và phấn khởi của mọi người vào tương lai đất nước, tránh những xung đột có thể làm gãy đổ đà tiến của dân tộc về tương lai và đưa đến bạo loạn.

    Chúng ta hiểu công bằng xã hội là liên đới xã hội. Chúng ta không thể bỏ rơi những người yếu kém, sa cơ lỡ bước. Chúng ta nhìn nhận sự bình đẳng của mỗi con người trong xã hội và chúng ta cần dành những phương tiện để thực hiện sự bình đẳng đó. Bảo vệ những người yếu kém, bảo đảm cơ may thăng tiến đồng đều cho mọi người, trước hết là qua giáo dục và đào tạo.

    4.9.- Lý do nào đưa đến sự chọn lựa nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ?

    Việt Nam không có chức năng lâu dài của một nước nông nghiệp.

    Cố gắng chuyển hóa Việt Nam thành một nước công nghiệp và dịch vụ là cần thiết và cấp bách, bắt đầu từ kỹ nghệ thực phẩm. Một quan tâm đặc biệt sẽ được dành cho ba ngành: tin học, du lịch và hàng hải.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không tán thành việc thiết lập những khu kinh tế đặc biệt mà chủ trương dành tất cả mọi dễ dãi cho kinh doanh trên toàn lãnh thổ.

    4.10.- Theo đuổi một chủ nghĩa nước nhỏ để làm gì?

    Chúng ta hiện nay là một nước rất thua kém. Yêu cầu cấp bách nhất của chúng ta là phát triển, bắt kịp các nước mở mang. Do đó chính sách căn bản của Việt Nam trong giai đoạn này phải là một chủ nghĩa nước nhỏ.

    Chủ nghĩa nước nhỏ, nói một cách giản dị, đó là khiêm tốn và hòa hoãn với mọi quốc gia, nhẫn nhục hôm nay để giàu mạnh ngày mai.

    4.11.- Tại sao cần thực hiện một chính sách đối ngoại hòa bình và một chính sách láng giềng tốt?

    Trong một thế giới đầy tranh đua như hiện nay, các mối bang giao tốt là điều không thể thiếu. Chúng ta sẽ không bỏ lỡ một cơ hội nào để thiết lập và tăng cường mọi liên hệ hợp tác với mọi quốc gia trên thế giới, trước hết là với các quốc gia lân cận.

    Bởi vậy chúng ta cần thực hiện một chính sách đối ngoại hòa bình và một chính sách láng giềng tốt. Tìm mọi cơ hội để thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước đã phát triển mạnh, đặc biệt là Hoa Kỳ. Phát huy mọi sáng kiến để hóa giải những vấn đề còn tồn đọng với Lào, Kampuchea và Trung Quốc, đi đến quan hệ láng giềng tốt.

    4.12.- Vì sao cần ngăn chặn đà gia tăng dân số?

    Một kế hoạch phát triển kinh tế không thể quên lãng yếu tố quan trọng là đà gia tăng nhân số.

    Hiện thời, tỉ lệ gia tăng dân số ở Việt Nam còn ở mức quá cao và là một rào cản cho tiến bộ hài hòa, phù hợp với nhu cầu của mọi lãnh vực liên hệ. Những biện pháp cưỡng chế và hạn định máy móc sinh đẻ hiện tại chẳng những không có hiệu quả, lại vi phạm nghiêm trọng đền nhân phẩm và sự sống.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên kết hợp ước tính gia tăng dân số với mức phát triển và sẻ trình bày những giải pháp cần thiết cho vấn đề trong tài liệu qui hoạch kinh tế sẽ được công bố riêng.

    V.- Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên

    5.1.- Dựa vào những nguyên tắc nào THDCĐN chọn lựa một thể chế chính trị cho Việt nam?

    Chúng ta chọn lựa một chế độ chính trị đáp ứng sáu yêu cầu cơ bản của đất nước:

    - xây dựng dân chủ,

    - thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc,

    - phát triển đất nước,

    - giảm thiểu chênh lệch giữa các vùng,

    - thỏa mãn những khát vọng chính đáng của các cộng đồng sắc tộc và tôn giáo,

    - và thực hiện thống nhất đất nước thực sự.

    5.2.- THDCĐN sẽ tuyển chọn cho Việt nam một thể chế chính trị nào?

    Dưới ánh sáng của sáu yêu cầu cơ bản đó chúng ta chọn một chế độ chính trị dân chủ đại nghị và tản quyền.

    5.3.- Dân chủ đa nguyên có làm mất ổn định chính trị không?

    Có lập luận gợi ra lo âu về một chế độ đa nguyên và đa đảng có thể gây ra tình trạng phân tán đảng phái, trong đó không có đảng nào có được đa số để nắm chính quyền và do đó gây ra tình trạng bất ổn chính trị. Lo âu này không có căn cứ.

    Đa nguyên chính trị không phải là nguyên nhân đưa tới lạm phát chính đảng. Số lượng chính đảng tùy thuộc chủ yếu vào thể thức đầu phiếu, chứ không phải ở mức độ tự do chính trị.

    Tự do và dân chủ cũng không hề tạo ra bất ổn, trái lại còn là điều kiện cần để có ổn định chính trị. Mặt khác, ổn định chính trị không thể đồng nghĩa với sự duy trì dài hạn một đảng cầm quyền.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cực lực bác bỏ như là một sự bịp bợm lập luận theo đó muốn phát triển nhanh phải tạm thời giới hạn tự do, dân chủ và nhân quyền.

    5.4.- Tản quyền có phương hại cho thống nhất không?

    Câu trả lời dứt khoát là KHÔNG.

    Tản quyền không đưa tới nạn sứ quân, trái lại còn đóng góp vào sự thống nhất thực sự của đất nước vì cho phép các địa phương phát triển hài hòa theo điều kiện đặc thù của riêng mình, vì thế mà các địa phương càng thấy ràng buộc với đất nước.

    Tản quyền làm giảm bớt xung đột chính trị bởi vì một đảng có thể thua ở cấp trung ương nhưng vẫn có thể nắm quyền tại một số địa phương, nơi mà họ được tín nhiệm. Xung khắc chính quyền - đối lập vì vậy sẽ bớt gay gắt.

    Trong hoàn cảnh lịch sử hiện nay của Việt Nam, tản quyền vì vậy tránh khỏi tình trạng được thì được hết, thua thì thua luôn. Và như thế đóng góp tích cực cho hòa giải và hòa hợp dân tộc.

    5.5.- Thế nào là chế độ đại nghị?

    Quan tâm lớn nhất của chúng ta là phải thiết lập dân chủ bền vững và loại bỏ mọi cơ nguy có thể đưa tới sự tái lập một chế độ độc tài.

    Chế độ đại nghị là thể chế dân chủ nhất, ổn vững nhất và cũng là thể chế đúng đắn nhất, với điều kiện là không dẫn tới tình trạng lạm phát chính đảng và một quốc hội tê liệt vì bị phân hóa giữa nhiều khuynh hướng đối nghịch.

    Trong một chế độ đại nghị, quyền hành pháp ở trong tay một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Như thế khi bầu ra một quốc hội, một cách gián tiếp, người dân cũng chọn lựa một thủ tướng.

    Ưu điểm của chế độ đại nghị là người dân bầu trước hết cho một dự án chính trị của một đảng thay vì cho một người. Và sau đó chọn lựa một dân biểu trong số những ứng cử viên sinh hoạt gần gũi với họ mà họ có điều kiện để đánh giá. Qua dân biểu của họ, họ cũng có khả năng theo dõi và kiểm soát một cách thường trực hoạt động của chính phủ.

    5.6.- Tổ chức chính quyền trong chế độ đại nghị ra sao?

    Lãnh thổ sẽ được quy định thành từ 10 đến 15 vùng. Mỗi vùng gồm một số tỉnh hiện nay, có nghị viện và chính quyền riêng, được quyền tự quản, được quyền ban hành những đạo luật địa phương không mâu thuẫn với luật pháp quốc gia và được giao phó phần lớn trách nhiệm tư pháp và an ninh trật tự trong vùng.

    Ngoại giao, quốc phòng và tiền tệ hoàn toàn thuộc chính quyền trung ương.

    Cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội mà đại đa số dân biểu được bầu ra theo thể thức bầu cử đơn danh và một vòng.

    Một thượng nghị viện sẽ đại diện cho các vùng, có quyền yêu cầu quốc hội xét lại các đạo luật và có quyền đề nghị và khuyến cáo đối với chính phủ.

    Chính phủ do một thủ tướng đứng đầu. Thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Thủ tướng được quyền chỉ định các bộ trưởng.

    Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, không giữ một quyền hành cụ thể nào. Có vai trò nghi thức, bảo đảm sự liên tục, ổn vững và đoàn kết của quốc gia.

    Pháp viện tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến của các đạo luật, trọng tài những tranh tụng giữa các cơ quan quyền lực, chung thẩm các bản án của mọi tòa án và xét xử những cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước.

    5.7.- Thái độ nào cần có đối với các chính đảng?

    Mọi chế độ dân chủ đích thực đều phải trân trọng sinh hoạt chính đảng. Không thể có sinh hoạt chính trị đứng đắn nếu không có chính đảng.

    Trong hoàn cảnh nước ta, sau bao năm dài dưới các chế độ độc tài trong đó mọi sinh hoạt chính trị bị đàn áp, các chính đảng không những cần thiết mà còn cần được khai sinh, khuyến khích và nuôi dưỡng.

    Các chính đảng là yếu tố không thể thiếu cho đất nước, vì thế quốc gia không những không được cấm cản mà còn phải sẵn sàng trả giá cho sinh hoạt chính đảng. Các chính đảng sẽ được ngân sách quốc gia tài trợ theo trọng lượng chính trị thể hiện qua các cuộc bầu cử. Đổi lại, bị cấm hoạt động kinh tài và nhận trợ giúp của các công ty.

    VI.- Chấm dứt chế độ độc tài và thiết lập nền dân chủ đa nguyên

    6.1.- Để chống chế độ độc tài, THDCĐN áp dụng phương pháp nào hữu hiệu và phù hợp với trào lưu lịch sử?

    Trong thế giới của hòa bình, đối thoại và hợp tác hiện nay, mọi giải pháp dùng tới bạo lực đều không tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới. Đất nước Việt Nam cũng đã chịu quá nhiều đổ vỡ và người Việt Nam cũng đã quá chán chường và mệt mỏi để có thể chấp nhận một cuộc nội chiến mới.

    Những diễn biến gần đây trên thế giới cũng đã chứng tỏ rằng đấu tranh bất bạo động có khả năng đánh đổ các chế độ độc tài, ngay cả các chế độ độc tài cộng sản được tổ chức thật tinh vi. Đấu tranh bất bạo động là giải pháp ngắn nhất và tốt đẹp nhất để đưa tự do dân chủ đến thắng lợi.

    Đó là phương thức mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên chọn lựa.

    6.2.- Chiến lược đấu tranh của THDCĐN như thế nào?

    Chiến lược đấu tranh của Tập hợp gồm những điểm chính sau đây:

    (1) thức tỉnh quần chúng về sự cần thiết của một giải pháp chung cho dân tộc ;

    (2) dành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lí luận ;

    (3) phát động mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi dân chủ ;

    (4) nâng cao tinh thần và hiệu năng của những cố gắng vận động sự yểm trợ của thế giới ;

    (5) xúc tiến sự hình thành một mặt trận dân chủ ;

    (6) đạt được mục tiêu chính : bầu cử tự do.

    6.3.- Làm thế nào để thức tỉnh quần chúng về sự cần thiết của một giải pháp chung cho dân tộc?

    Sự kéo dài thách đố của chế độ độc tài toàn trị có một nguyên nhân chính: đó là tâm lý luồn lách để tìm những giải pháp cá nhân cho những vấn đề cá nhân. Bởi vậy cố gắng đầu tiên, trọng đại và cam go, của những người dân chủ là thức tỉnh dân chúng rằng bắt buộc phải có một giải pháp chung. Nói khác, là một thay đổi chế độ chính trị, chứ mỗi người không thể tiếp tục xé lẻ và luồn lách để tự giải quyết những vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân.

    Đây là một cuộc cách mạng tâm lý rất khó khăn. Nó đòi hỏi cả lý luận lẫn sự kích thích và do đó chỉ có những kết hợp chính trị mới có thể vận động được một cách hữu hiệu.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên hiểu trách nhiệm và vai trò của mình trong cuộc đột phá tâm lý này.

    6.4.- Làm sao để giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý luận?

    Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên này, cùng với những đóng góp của các tổ chức dân chủ khác, sẽ là vũ khí đấu tranh tư tưởng để bẻ gãy những lý luận ngụy biện của đảng cộng sản và giải tỏa những lấn cấn còn tồn tại trong nhân dân.

    Chúng ta phải đập tan lập luận xuyên tạc cho rằng dân chủ sẽ đưa tới hỗn loạn. Chúng ta sẽ chứng minh rằng dân chủ là điều kiện căn bản để bảo đảm không có hỗn loạn, là phương thức sinh hoạt cho phép xã hội tiến hóa và đổi mới không ngừng trong trật tự.

    Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng muốn phát triển cần có kỷ luật và muốn có kỷ luật cần hy sinh dân chủ, giới hạn tự do và nhân quyền.

    Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng xã hội phương Đông khác với xã hội phương Tây, và do đó không thể chấp nhận những giá trị của phương Tây như tự do cá nhân, dân chủ và nhân quyền. Chúng ta cần phơi bày sự sai trái của lập luận cho rằng các giá trị văn hóa châu Á có lợi cho phát triển hơn các giá trị văn hóa phương Tây.

    Chúng ta cũng cần phải cực lực bác bỏ một thứ "chủ nghĩa kinh tế" mà một số chính quyền muốn che dấu quyền lực độc tài, trong đó có Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đang lấy làm lý cớ để phủ nhận hoặc giới hạn tự do, dân chủ và nhân quyền.

    Một cố gắng khác, rất quan trọng, là chứng minh cho những đảng viên cộng sản và cán bộ của nhà nước còn đang phân vân và ngờ vực, rằng họ hoàn toàn không có lý do chính đáng nào để lo ngại sự cáo chung của chế độ độc tài đảng trị cả. Trái lại họ còn có mọi lý do để vui mừng trước những thắng lợi của dân chủ. Danh dự, nhân phẩm và những quyền lợi hợp pháp của họ sẽ được tôn trọng.

    6.5.- Phương thức nào có thể phát động mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi dân chủ?

    Để có thể phát động mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi dân chủ, việc đầu tiên là yểm trợ những người dân chủ trong nước. Yểm trợ những người dân chủ trong nước là một nghĩa vụ đạo đức và tình cảm, nhưng cũng là một bắt buộc chiến lược. Có được yểm trợ thì những người dân chủ trong nước mới cảm thấy phấn khởi và mới có khả năng tiếp tục và tăng cường cuộc chiến đấu gian lao hoàn toàn không cân xứng này.

    Phong trào dân chủ trong nước nhờ đó mới bành trướng được. Thông điệp dân chủ nhờ đó mới tới được với mọi người, cuộc vận động dân chủ mới có thể thành công. Những cố gắng yểm trợ những người dân chủ trong nước tự chúng cũng có tác dụng thúc đẩy dân chủ và cũng là thành phần khắng khít của cuộc vận động dân chủ.

    Hiện nay những thắng lợi đã đạt được đặt ra cho chúng ta một yêu cầu mới : đó là đưa cuộc vận động dân chủ trong nước từ giai đoạn của những phản kháng cá nhân sang giai đoạn của những đấu tranh có phối hợp, có tổ chức và có tiếng nói chung.

    Để đạt mục tiêu này không những phải tăng cường cố gắng yểm trợ mà còn phải đem lại cho anh em dân chủ trong nước niềm tin. Một trong những yếu tố quyết định của niềm tin đó là sự hình thành của một kết hợp dân chủ lớn và đứng đắn tại hải ngoại.

    6.6.- Cách nào nâng cao tinh thần và hiệu năng của những cố gắng vận động sự yểm trợ của thế giới?

    Chúng ta cần cải tiến cả về nội dung, tinh thần và phương pháp vận động sự yểm trợ của thế giới. Chúng ta phải tiếp tục những cố gắng từ trước tới nay là tố giác những vi phạm nhân quyền và đường lối phản dân chủ của chính quyền cộng sản.

    Tuy nhiên, để tranh thủ sự ủng hộ nồng nhiệt hơn nữa của dư luận thế giới, chúng ta còn phải trình bày đường lối của đối lập dân chủ Việt Nam, để đối lập dân chủ Việt Nam xuất hiện dưới mắt thế giới như một giải pháp thay thế đáng tin cậy.

    Phương pháp vận động cũng cần được xét lại. Trước hết là để tập trung cố gắng vào những hoạt động thực sự có lợi cho tiến trình dân chủ hóa, thay vì phí phạm sinh lực cho những hoạt động ồn ào không gây được sự kính trọng của dư luận thế giới và do đó, không đạt được kết quả mong muốn.

    6.7.- Làm sao để xúc tiến sự hình thành một mặt trận dân chủ?

    Bước đầu của cố gắng hình thành mặt trận dân chủ này là đẩy mạnh hơn nữa những tiếp xúc, thảo luận và trao đổi bộc trực trong tinh thần tương kính đã tiến hành từ nhiều năm nay về :

    - bối cảnh quốc tế và hiện tình đất nước

    - những chọn lựa cơ bản cho tương lai

    - những vấn đề cấp bách phải giải quyết

    - và hướng giải quyết cho những vấn đề đó.

    Chính qua những cuộc trao đổi này mà một đồng thuận có thể đạt tới và từ đó tìm ra những người cùng chí hướng để kết hợp hành động.

    Sự kết hợp hành động trong một mặt trận dân chủ phải vượt lên trên mọi ngăn cách do quá khứ để lại, trong tinh thần hòa giải dân tộc thành thực và trọn vẹn, hoàn toàn hướng về tương lai. Chúng ta khẳng định mặt trận dân chủ này là một mặt trận chống tất cả mọi hình thức độc tài trong đó độc tài cộng sản chỉ là một. Chống sự áp bức, chống sự tồi dở và gian trá.

    Mặt trận dân chủ hoàn toàn không phải là sự kéo dài cuộc xung đột trong quá khứ, mà là một kết hợp hướng về tương lai. Mặt trận dân chủ phải mở cửa cho mọi người dân chủ không phân biệt quá khứ chính trị, không phân biệt thành phần. Nhưng ngược lại cũng chỉ mở cửa cho những người dân chủ thực sự. Mặt trận dân chủ sẽ đặc biệt hoan nghênh sự tham gia của những người dân chủ đã hoặc đang hiện diện trong đảng và nhà nước cộng sản.

    Khi chính quyền cộng sản đã nhượng bộ và chấp nhận luật chơi dân chủ, mặt trận sẽ hoạt động công khai và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt ở trong nước. Chừng nào chính quyền cộng sản còn cấm đoán và đàn áp, các hoạt động sẽ kín đáo và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt ở nước ngoài.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ dồn mọi cố gắng để đóng góp tích cực cho việc hình thành và phát triển của Mặt trận dân chủ trong tinh thần khiêm tốn và nhân nhượng.

    6.8.- Làm sao đạt được mục tiêu chính: bầu cử tự do?

    Mặt trận dân chủ sẽ tập trung mọi cố gắng và sáng kiến để vận động áp lực quần chúng trong nước và áp lực quốc tế buộc chính quyền cộng sản phải chấp nhận bầu cử tự do. Và sau đó sẽ phấn đấu để giành thắng lợi trong những cuộc bầu cử tự do đó.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định rằng tình hình Việt Nam đã gần chín muồi cho một chuyển biến hòa bình về dân chủ. Áp lực dân chủ hóa đang gia tăng nhanh chóng, chẳng bao lâu sẽ buộc chính quyền cộng sản phải nhượng bộ để tránh sụp đổ trong hỗn loạn.

    Trong cuộc vận động để gia tăng áp lực dân chủ hóa và để xây dựng mặt trận dân chủ, cộng đồng người Việt hải ngoại có vai trò chiến lược quyết định và cũng có khả năng để đảm nhiệm vai trò đó.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định rằng đấu tranh để buộc chế độ cộng sản phải chấp nhận bầu cử tự do là một cuộc đấu tranh chắc chắn sẽ thắng lợi. Trong đó những người dân chủ Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều có vai trò quan trọng như nhau.

    Cuộc đấu tranh giành dân chủ chắc chắn sẽ phải trải qua nhiều thỏa hiệp. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẵn sàng chấp nhận mọi thỏa hiệp có tác dụng làm gia tăng vận tốc tiến trình dân chủ hóa, nhưng sẽ không thể nhượng bộ trên ba điểm căn bản :

    o lý tưởng dân chủ đa nguyên

    o tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc

    o phương thức đấu tranh bất bạo động.

    VII.- Chuyển tiếp thành công về dân chủ

    7.1.- Chuyển tiếp về dân chủ có những khó khăn gì?

    Sau khi chế độ độc tài đảng trị chấm dứt, chúng ta sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp cực kỳ khó khăn.

    Chúng ta sẽ phải chuyển đổi từ một hệ thống nhất nguyên, tập trung, chuyên quyền, sang một chế độ đa nguyên, tản quyền và phân quyền. Chúng ta sẽ phải thay thế một kinh tế hoạch định đặt nền tảng trên các xí nghiệp quốc doanh, bằng một kinh tế thị trường lấy các xí nghiệp tư làm sức mạnh. Chúng ta sẽ phải biến một guồng máy nhà nước quan liêu, bàn giấy, công cụ của một đảng, thành một nhà nước hữu hiệu, trách nhiệm, lành mạnh, phục vụ cho công ích.

    Chúng ta sẽ phải chấm dứt lối quản lý bằng nghị quyết và chỉ thị để thiết lập một nhà nước pháp trị. Chúng ta sẽ phải thay thế một nền giáo dục tuyên truyền và nhồi sọ bằng một nền giáo dục khách quan và khai phóng.

    Chúng ta sẽ phải biến đất nước hiện thời thành một đất nước có kỷ cương, có chủ quyền, có lòng tin, có liên đới, có sức bật kinh tế và có sức thu hút đầu tư nước ngoài. Chúng ta sẽ phải hàn gắn những đổ vỡ mà không gây ra những đổ vỡ mới.

    Chúng ta sẽ phải phục hồi danh dự cho những người đã bị xúc phạm mà không xúc phạm những người khác. Phải bồi thường thiệt hại cho những nạn nhân mà không tạo ra những nạn nhân mới.

    7.2.- Trong giai đoạn chuyển tiếp, THDCĐN đề xuất và áp dụng những biện pháp chính trị nào?

    Trong giai đoạn chuyển tiếp, Tập hợp Dân chủ Đa nguyên sẽ áp dụng các biện pháp chính trị sau đây:

    (1) trả chính quyền về cho nhân dân;

    (2) thực hiện việc hoà giải và hoà hợp dân tộc;

    (3) ban hành một hiến pháp mới và tu chỉnh luật pháp;

    (4) áp dụng tản quyền.

    7.3.- Trả chính quyền về cho nhân dân bằng cách nào?

    Việc đầu tiên phải làm là phi chính trị hóa guồng máy chính quyền, quân đội và công an. Công chức và quân nhân có quyền tham gia các tổ chức chính trị; nhưng mọi sinh hoạt đảng phái trong mọi cơ quan hành chính và quân sự của nhà nước sẽ bị nghiêm cấm.

    Bộ máy hành chính, quân đội và công an phải là những công cụ phi chính trị, hoàn toàn độc lập với mọi chính đảng, tuyệt đối tôn trọng hiến pháp, tuyệt đối phục tùng mọi chính quyền dân cử. Quân đội và công an sẽ trở lại với sứ mạng cao cả là bảo vệ đất nước, giữ gìn trật tự an ninh, và do đó cần được tách rời hẳn khỏi mọi hoạt động kinh doanh.

    7.4.- Thực thi Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc bằng phương thức nào?

    Trước hết phải đặt hòa giải và hòa hợp dân tộc là một quốc sách trong giai đoạn chuyển tiếp.

    Cấm tuyệt đối mọi hành động trả thù báo oán. Lưu dụng mọi cán bộ công nhân viên và quân đội. Mọi thay đổi nhân sự phải thuần túy do lý do kỹ thuật. Phục hồi danh dự và bồi thường thiệt hại, ít nhất một cách tượng trưng cho nạn nhân của bạo lực và bất công trong quá khứ.

    Soạn thảo và đem biểu quyết qua trưng cầu dân ý một đạo luật về hòa giải và hòa hợp dân tộc.

    7.5.- Thể thức ban hành một hiến pháp mới và tu chỉnh luật pháp như thế nào?

    Bầu cử quốc hội lập hiến và ban hành một hiến pháp dân chủ cho Cộng Hòa Việt Nam.

    Hiến pháp sẽ thể hiện đầy đủ và quả quyết mọi quyền công dân, quy định chế độ dân chủ đại nghị tản quyền. Hiến pháp mới sẽ long trọng xác nhận những quyền tự do căn bản.

    Án tử hình sẽ được bãi bỏ vì nó phản văn minh và thực ra nó cũng không có cái hiệu lực mà sự dã man của nó có thể làm ta lầm tưởng. Các đạo luật sẽ được rà soát lại để tu chính theo tinh thần dân chủ và bổ túc hay điều chỉnh nếu cần. Tinh thần chỉ đạo cho việc soạn thảo các bộ luật căn bản này là giản dị, sáng sủa, dễ hiểu và dễ tôn trọng trong bối cảnh đất nước.

    7.6.- Áp dụng tản quyền ra sao?

    Ngay khi tình hình tạm ổn vững, một đạo luật về tản quyền sẽ được đưa ra để quốc hội thảo luận và biểu quyết.

    Nguyên tắc chỉ đạo là các vùng phải khá thuần nhất về mặt địa lý, giao thông, cấu tạo sắc tộc, chức năng kinh tế, và phải có diện tích và dân số đầy đủ để có thể là những thực thể tồn tại và phát triển được.

    7.7.- Trong giai đoạn chuyển tiếp, THDCĐN chủ trương những biện pháp văn hoá xã hội nào?

    Trong giai đoạn chuyển tiếp,Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên áp dụng những biện pháp văn hoá xã hội sau đây:

    (1) tăng cường trật tự an ninh

    (2) khắc phục các tệ nạn xã hội

    (3) bãi bỏ hoàn toàn mọi chính sách và biện pháp kiểm duyệt

    (4) bảo đảm sự khách quan của giáo dục và một trình độ văn hóa tối thiểu cho mọi công dân

    (5) cải thiện môi trường sinh sống và danh lam thắng cảnh;

    (6) giữ đất nước lành mạnh cho con cháu và đời sau..

    7.8.- Trật tự an ninh sẽ được tăng cường bằng cách nào?

    Những tệ đoan xã hội gây ra mất an ninh trật tự là sản phẩm tự nhiên của xã hội bế tắc hiện nay và chắc chắn sẽ giảm sút với sự trở lại của hy vọng và niềm tin. Nhưng dầu sao đi nữa thì đất nước ta cũng sẽ còn bất ổn trong một thời gian khá lâu và an ninh trật tự sẽ là một vấn đề nhức nhối cho một chính quyền dân chủ vừa được thành lập.

    Bảo đảm trật tự an ninh không có nghĩa là giới hạn tự do mà còn là một điều kiện bắt buộc để có tự do thực sự.

    Luật pháp không rõ ràng cũng là một nguyên nhân đưa đến phạm pháp. Bởi vậy chúng ta cần một luật pháp thật giản dị, thật dễ hiểu và dễ tôn trọng. Luật pháp cần nghiêm minh chứ không cần phải khe khắt, và nhất là không cần phải hung bạo.

    Trong tương lai các cơ quan công an tình báo, bảo vệ chính trị sẽ được chuyển hết qua lực lượng bảo vệ trật tự an ninh.

    7.9.- Làm thế nào để khắc phục các tệ nạn xã hội?

    Việc bắt buộc đầu tiên là phải chấm dứt ngay cảnh quốc nạn tham nhũng, kéo theo sự lạm quyền, kết bè để cướp đoạt công quĩ và hà hiếp bóc lột dân chúng. Tham nhũng là một thách thức đối với quốc gia, dẫn tới một mất mát lớn cho ngân sách, cho tài sản quốc gia, cùng khối lượng đầu tư viện trợ nước ngoài và các cơ quan, tổ chức quốc tế. Đó là một chứng ung thư tối độc hại đối với sinh hoạt kinh tế, và là một hình thái phá hoại ngầm mà tinh vi sinh hoạt văn hóa xã hội lành mạnh.

    Tệ nạn buôn lậu, buôn người, trốn thuế, v.v. nói chung là các hình thái kinh doanh bất chính, là những phó sản của tham nhũng. Vậy diệt trừ được tham nhũng đồng thời diệt trừ nguồn gốc sản sinh những tệ nạn này.

    Muốn chống tham nhũng trước hết phải giảm trọng lượng của quyền lực nhà nước, nghĩa là phải thay thế guồng máy nhà nước nặng nề và toàn quyền bằng một nhà nước nhẹ và quyền lực giới hạn. Sau đó cần một luật pháp giản dị, minh bạch khiến người dân biết chắc chắn những gì mình có thể làm và những gì mình không được làm và họ sẽ không còn là những con tin của các quan chức nhà nước.

    Một trong những đồng minh của ta trong trận chiến cam go này là tự do ngôn luận. Sự tố cáo của những người công dân tự do biết rõ mọi quyền của mình là vũ khí chống tham nhũng hiệu lực nhất.

    Trong một chế độ thực sự tự do, nạn tham nhũng và hà hiếp dân chúng nếu không bị dẹp hẳn thì cũng phải lui xuống ở một mức độ thấp, nếu gần cận lý tưởng là chỉ còn những trường hợp đơn lẻ vụn vặt không đáng kể, dễ phát hiện và trừng trị.

    7.10.- Bãi bỏ hoàn toàn mọi chính sách và biện pháp kiểm duyệt như thế nào?

    Hiến pháp mới phải long trọng nhìn nhận quyền tự do sáng tác và phát hành sách báo và văn hóa phẩm, và cấm chỉ mọi đạo luật theo chiều hướng kiểm duyệt.

    Trong nước Việt Nam tương lai sẽ không thể có một sự giới hạn nào về tự do phát biểu đến từ chính quyền cả.

    Luật pháp sẽ chỉ chế tài những văn hóa phẩm trắng trợn kêu gọi bạo lực, xúc phạm đến danh dự và quyền lợi của các công dân hay các đoàn thể công dân và bị chính các cá nhân hay đoàn thể này truy tố.

    Các hiệp hội công dân như vậy sẽ nắm một vai trò then chốt trong việc bảo vệ sự lành mạnh của văn hóa.

    7.11.- Biện pháp nào bảo đảm sự khách quan của giáo dục và một trình độ văn hóa tối thiểu cho mọi công dân?

    Sẽ không có vấn đề nhà nước áp đặt sách giáo khoa chính thức. Quyền sáng tác sách giáo khoa sẽ không bị giới hạn và quyền chọn sách giáo khoa hoàn toàn thuộc các nhà giáo.

    Tuy nhiên, phải bảo đảm sự khách quan và đúng đắn tuyệt đối của các sách giáo khoa để giáo dục chỉ thuần túy hướng về mục tiêu truyền bá kiến thức và mở mang trí tuệ chứ không thể bị lợi dụng cho những tuyên truyền một chiều.

    Một chú trọng đặc biệt dành cho việc giảng dạy Việt văn. Đó là điều mà ta không thể tiết kiệm được bởi vì một trình độ văn hóa tối thiểu và một khả năng truyền thông tối thiểu vừa là điều kiện không có không được cho phát triển kinh tế, vừa là một điều kiện cần thiết cho sự ổn vững của xã hội, cho hòa bình giữa những con người.

    Phải thi hành cưỡng bách giáo dục và giáo dục miễn phí ít nhất tới hết lớp 9. Vận động sinh lực toàn quốc cho cố gắng văn hóa, giáo dục.

    7.12.- Cải thiện môi trường sinh sống và danh lam thắng cảnh như thế nào?

    Chúng ta là một quốc gia đã bị quá nhiều tàn phá. Do đó chúng ta phải gìn giữ và bảo trì cẩn trọng các di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh. Đó là những tài sản quí báu, những nguồn tự hào và là những gạch nối gắn bó người Việt Nam với nhau.

    Chúng ta sẽ cho đấu thầu quyền khai thác và nghĩa vụ bảo trì một số di tích và thắng cảnh có giá trị du lịch cho các công ty tư nhân, sẽ giao phó một số di tích có tính tôn giáo cho các giáo hội.

    Cố gắng văn hóa này gắn liền với một kế hoạch bảo vệ môi sinh trong địa hạt kinh tế.

    Chính sách đánh bắt vô tổ chức và vô trách nhiệm hiện nay đã làm suy giảm trầm trọng nguồn hải sản của ta. Chúng ta cần có ngay những quy định giản dị, minh bạch và được áp dụng triệt để nhằm cứu vùng biển và cứu nguồn hải sản.

    Phong trào phá rừng bán gỗ bừa bãi - vẫn còn tiếp tục - đang có cơ nguy biến nước ta thành cằn cỗi. Phong trào này phải được chặn đứng ngay tức khắc.Cần nghiên cứu giải pháp giao khoán từng vùng rừng, từng khu rừng cho các công ty tư nhân phục hồi và khai thác, với những quyền lợi và những cam kết rõ rệt.

    Song song với cố gắng phát triển công nghiệp cũng phải có những quy định rõ ràng về cách xử lý các loại phế liệu.

    7.13.- Giữ đất nước lành mạnh cho con cháu và đời sau như thế nào?

    Từ nhiều năm nay, chính quyền cộng sản đã làm ngơ để nhiều vùng đất có giá trị chiến lược lọt vào tay người ngoại quốc. Vì vậy cần duyệt xét lại những sang nhượng đất đai để chặn đứng vụ bán đất mờ ám cho người ngoại quốc.

    Một biện pháp vừa dung hòa được nhu cầu thu hút tư bản vừa giữ được đất Việt cho người Việt là không những cho phép mà còn khuyến khích người Việt định cư ở nước ngoài mua nhà và đất tại Việt Nam. Đó cũng là biện pháp để gắn bó người Việt hải ngoại và quê hương.

    Những đất đai chuyển nhượng bất chính sẽ bị thu hồi, trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị tịch thu không bồi hoàn.

    7.14.- Trong giai đoạn chuyển tiếp, THDCĐN quan niệm áp dụng những biện pháp kinh tế nào?

    Trong giai đoạn chuyển tiếp này Tập Hợp sẽ áp dụng những biện pháp kinh tế sau đây :

    (1) giải tư đại bộ phận các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất

    (2) khuyến khích tối đa đầu tư kể cả đầu tư từ nước ngoài

    (3) đẩy mạnh sự phát triển của thị trường nội địa ;

    (4) dồn cố gắng cho một số công trình hạ tầng có tính chiến lược (coi 7.18 ở dưới).

    7.15.- Thủ tục giải tư đại bộ phận các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất như thế nào?

    Chúng ta coi tư doanh là nền tảng của kinh tế quốc gia. Do đó giải tư các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất là một chính sách cốt lõi của giai đoạn chuyển tiếp.

    Việc giải tư phải được thực hiện trong một thời gian thật ngắn để tránh tệ nạn đầu cơ, tẩu tán tài sản quốc gia, làm xuống cấp các xí nghiệp cần giải tư. Chúng ta sẽ giải tư tất cả công ty, xí nghiệp quốc doanh có thể giải tư được, để đem lại cho kinh tế một sinh lực mới.

    Chúng ta sẽ xúc tiến ngay việc tư hữu hóa ruộng đất theo nguyên tắc trả quyền sở hữu lại cho những người đang canh tác trên đất của mình. Tùy trường hợp cấp không hoặc bán lại cho nông dân những đất đai đang được nhà nước giao phó.

    Nguyên tắc chỉ đạo của chính sách giải tư và tư hữu hóa là những gì tư nhân có thể làm được nhà nước sẽ không làm. Chính sách này sẽ phải hoàn tất về cơ bản sau hai năm cho công nghiệp và sau năm năm cho nông nghiệp.

    7.16.- Làm sao khuyến khích tối đa đầu tư kể cả đầu tư nước ngoài?

    Bãi bỏ từng bước các luật đầu tư hiện nay vì chúng còn quá gò bó và vì chúng dành cho người ngoại quốc những quyền mà người Việt Nam không có, chúng còn chia rẽ người trong nước với người sống ở nước ngoài.

    Trong tương lai người đầu tư nước ngoài sẽ có tất cả mọi quyền hạn mà họ đang có và sẽ có nhiều tự do hơn hiện nay nhưng sẽ không thể có những quyền mà người Việt Nam không có. Phải có thể hoàn tất mọi thủ tục thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong thời hạn ngắn nhất.

    7.17.- Phương cách nào có thể đẩy mạnh sự phát triển của thị trường nội địa?

    Chúng ta sẽ lấy thị trường trong nước làm bàn đạp để tiến lên. Với trên 80 triệu dân, nước ta là một thị trường rất lớn và sự trao đổi giữa những người Việt Nam với nhau tự nó đã là một động cơ kinh tế vô cùng quan trọng.

    Thị trường nội địa sẽ được kích thích do sự giải tỏa mọi cưỡng chế về kinh doanh và sự thúc đẩy những chương trình công cộng quan trọng. Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp thực phẩm, dệt và may mặc là những bàn đạp đầu tiên cho thị trường nội địa của ta.

    Phát triển thị trường nội địa phải đi song hành với phát triển kinh doanh nội địa. Chúng ta không có những nhà tư bản lớn cho nên cần tích cực thúc đẩy, nâng đỡ và khuyến khích các xí nghiệp cá nhân và các công ty tầm cỡ nhỏ, giúp họ phát đạt và gia tăng tầm vóc, dần dần trở thành những nhà tư bản lớn.

    Một bắt buộc khẩn cấp của chính sách phát triển thị trường nội địa là phải tu sửa và tăng cường hệ thống đường giao thông và truyền thông, các phương tiện chuyên chở và truyền tin.

    7.18.- Tại sao lại dồn cố gắng cho hai công trình giao thông chiến lược?

    Hai công trình lớn mà chúng ta phải bắt đầu ngay và phải tiếp tục trong nhiều năm, qua nhiều giai đoạn, là công trình hiện đại hóa và mở rộng theo đúng tiêu chuẩn quốc tế đường xe lửa Thống Nhất và công trình xây dựng hai tuyến xa lộ Bắc Nam dọc theo bờ biển và trong đất liền.

    Đây là những công trình vừa tối cần thiết cho các hoạt động kinh tế, vừa cụ thể hóa sự thống nhất của đất nước, lại vừa tạo nhiều công ăn việc làm trên khắp lãnh thổ.

    Mở rộng và hiện đại hóa hai công trình này cũng là điều cần thiết cho dự án xây dựng và khai thác cảng Cam Ranh, một dự án trọng điểm mà ta sẽ tiến hành mạnh mẽ trong nhiều năm để đem lại sức mạnh kinh tế cho cả nước và cho miền Trung. Đó là miền nhiều triển vọng nhất của đất nước do vị trí bờ biển nhưng hiện nay là vùng kém mở mang nhất.

    7.19.- Tìm đâu ra những nguồn tài trợ trong cố gắng phục hưng?

    Một chương trình phục hưng dù khiêm nhường đến đâu cũng đòi hỏi rất nhiều chi phí. Chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng ta cũng sẽ có những nguồn tài trợ.

    Trước hết là chấm dứt những phí phạm do chính quyền cộng sản tạo ra mà phí phạm lớn nhất là do chính Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Nguồn tài trợ thứ hai là do sự tiết giảm ngân sách an ninh quốc phòng.

    Nguồn tài trợ thứ ba là do sự giải tư các xí nghiệp quốc doanh.

    Nguồn tài trợ thứ tư do sự đóng góp tích cực hơn của cộng đồng Việt Nam hải ngoại hơn hai triệu người, sau khi một chế độ dân chủ thực sự, phù hợp với nguyện vọng sâu xa của đồng bào hải ngoại, đã được thiết lập.

    Nhưng nguồn tài trợ quan trọng nhất và càng ngày càng dồi dào hơn là do chính sự phát triển của kinh tế.

    Không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh mà chúng ta sẽ có nhờ giải tỏa và động viên sinh lực của một dân tộc gần 80 triệu người cần mẫn. Chúng ta có quyền chờ đợi những thành quả nhanh chóng và to lớn.

    7.20.- Làm sao chuyển tiếp về dân chủ thành công để đất nước vươn lên?

    Bình thường hóa quan hệ giữa người Việt Nam với nhau.

    Long trọng xác nhận đất nước là của mọi người chứ không phải là của riêng một đảng hay một chủ nghĩa nào. Nhìn nhận chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người. Cởi bỏ những xiềng xích của hận thù và bất dung.

    Đem lại lạc quan và niềm tin ở một nhà nước thành tín và lương thiện. Đem lại những đảm bảo rõ rệt, chắc chắn cho quyền tư hữu và quyền kinh doanh.

    Quyết tâm bài trừ tham nhũng và những tệ đoan xã hội đang phá hoại cơ thể quốc gia.

    Tất cả những điều này chúng ta đều có thể làm được và có thể làm ngay được. Rồi chúng ta sẽ thấy đất nước này thay da đổi thịt, rồi chúng ta sẽ thấy dân tộc này vùng dậy nhảy vọt tới chinh phục tương lai.

    Chúng ta sẽ khám phá ra sự mầu nhiệm của những giá trị rất đơn giản như tự do, dân chủ, hòa hợp dân tộc.

    VIII.- Vì đất nước hôm nay và ngày mai: chung một giấc mơ

    8.1.- Đất nước chúng ta có thể vươn lên được không?

    Nước Việt Nam có khả năng trở thành một cường quốc và nhất định sẽ là một nước lớn và giàu mạnh nếu chúng ta động viên được mọi trái tim Việt Nam, mọi khối óc Việt Nam, mọi bàn tay Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng tương lai chung.

    8.2.- Tại sao có thể quả quyết như vậy?

    Chúng ta có quyền nói như vậy vì cuộc đấu tranh của ta trong sáng. Đó là cuộc đấu tranh để đẩy lui sự tồi dở và sự gian trá, để tôn vinh mọi người, tôn vinh quyền làm người và quyền được hưởng hạnh phúc như một dân tộc lớn mà dân tộc ta rất xứng đáng để có.

    Chúng ta đã hiểu bằng máu và nước mắt và đã chấp nhận trong da thịt những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm như tự do, dân chủ, hòa bình, công lý, bao dung, cố gắng. Chúng ta đã nhuần thấm tình dân tộc nghĩa đồng bào trong sự tủi nhục chung vì thua kém.

    Chúng ta đã thấy rõ ràng rằng tất cả mọi người Việt Nam đều bị ràng buộc với nhau trong một thân phận chung. Chúng ta đang tiến tới một đồng thuận dân tộc lớn nhất kể từ ngày ông cha mở nước. Đồng thuận ấy sẽ là vũ khí vô địch giúp chúng ta tiến lên xây dựng một đất nước đẹp tươi cho muôn đời con cháu.

    8.3.- Chúng ta có thể tin như thế nào?

    Chúng ta hãy cùng nhau cất lên chung một lời nguyền: nước Việt Nam sẽ là một nước lớn do tầm vóc con người.

    Làm người Việt Nam trong thế kỷ hai mươi đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong thế kỷ hai mươi mốt sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh diện. Đó là lý tưởng của thời đại chúng ta. Đó là gia tài mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ sau.

    Đó là giấc mơ Việt Nam mà các chí hữu của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cùng theo đuổi và muốn chia sẻ với mọi người Việt, trong cũng như ngoài nước, hôm nay và ngày mai.

    IX.- Những câu hỏi liên quan đến THDCĐN

    9.1.- Tập hợp Dân chủ đa nguyên được thành lập vào lúc nào?

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ra đời cuối năm 1982, do sự gặp gỡ của một nhóm trí thức cùng thao thức với đất nước và cùng chia sẻ một nhận định là phải thay đổi hẳn quan niệm hoạt động chính trị.

    Cuộc đấu tranh mới không thể là sự tiếp nối cuộc xung đột trước 1975 mà phải nhắm mục đích duy nhất là dân chủ hóa đất nước và, do đó, đòi hỏi một dự án chính trị mới, một thái độ mới, một cách suy nghĩ mới và những phương thức đấu tranh mới.

    Nhóm này đã quyết định dành trọn hai năm để chỉ mổ xẻ mọi vấn đề của đất nước hầu đi đến những kết luận chung được đúc kết thành văn bản trước khi bắt đầu hoạt động thực sự. Năm 1984, họ hoàn tất tài liệu đó, được đặt tên là Cơ Sơ Tư Tưởng.

    Năm 1988 tổ chức cho phát hành nguyệt san Thông Luận. Tờ báo đã lập tức gây thảo luận sôi nổi và từ đó tổ chức được nói tới như "nhóm Thông Luận" mặc dù trên thực tế nó chưa có danh xưng chính thức.

    Trước ngưỡng cửa năm 2000, ngày 19-12-1999, một đại hội thành viên đã biểu quyết chọn danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, danh xưng tiếng Anh là Rally for Democracy and Pluralism, tiếng Pháp là Rassemblement pour la Démocratie Pluraliste. Cả hai danh xưng tiếng Pháp và tiếng Anh đều viết tắt là RDP.

    9.2.- Lập trường căn bản của THDCĐN là gì?

    Lập trường căn bản của Tập Dân chủ Dân chủ đa nguyên là:

    • đấu tranh thiết lập một thể chế dân chủ đa nguyên

    • trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc

    • bằng những phương thức bất bạo động.

    9.3.- Đâu là những đặc điểm của THDCĐN?

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên tiêu biểu cho một khuynh hướng chính trị. Đây là kích thước quan trọng nhất của Tập Hợp. Lập trường của Tập Hợp đã gặp nhiều chống đối lúc ban đầu nhưng dần dần đã đi vào lòng người.

    Điều đặc sắc hiện nay là Tập Hợp được nhìn như là những người chủ xướng dân chủ đa nguyên, được đồng hóa với tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc và được coi là những người chủ trương bất bạo động thành thực nhất.

    Chính vì vừa là một tổ chức chính trị vừa là một khuynh hướng chính trị mà Tập Hợp có sự tỏa rộng mà một tổ chức bình thường không có. Trong đấu tranh chính trị, sự kiện được coi là tiêu biểu cho một khuynh hướng chính trị được hàng triệu người chia sẻ là một ưu thế lớn, bởi vì khi thời cơ đến ưu thế đó sẽ là một sức mạnh quyết định.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cũng đề ra một phong cách sinh hoạt chính trị khác.

    Tập Hợp không coi trọng cơ chế, thứ bậc, không có những tài liệu pháp quy phức tạp. Tập Hợp được xây dựng trên tình anh chị em, tình chí hữu. Nó là một kết nghĩa vì lý tưởng và vì lòng yêu nước. Chính vì vậy mà tuy đã hình thành từ gần 20 năm, nó vẫn cởi mở như một tổ chức đang ở trong giai đoạn thành lập.

    Nguyệt san Thông Luận, cơ quan ngôn luận của Tập Hợp đã ra đều đặn hàng tháng, từ tháng 1-1988, với phương châm là "không có ý kiến nào cấm nêu ra, không có đề tài nào cấm bàn đến".

    Từ 1998, Tập Hợp đã có thêm Web Thông Luận: http://www.thongluan.org; Trên đó ngoài những số báo Thông Luận còn có nhiều đóng góp khác, theo sát tình hình biến chuyển thời cuộc.

    9.4.- Ai có thể gia nhập THDCN?

    Là một kết hợp hoàn toàn hướng về tương lai, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên quy tụ những người Việt Nam thuộc mọi lứa tuổi, mọi quá khứ chính trị và mọi cương vị, trong cũng như ngoài nước miễn là chấp nhận lập trường căn bản của Tập Hợp.

    Trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên hiện nay, có những người từng là viên chức, sĩ quan của miền Nam và cũng có những người đã có hàng chục tuổi đảng cộng sản và đã giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ cộng sản.

    9.5.- Muốn gia nhập THDCĐN thì cần những điều kiện gì?

    Muốn gia nhập Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên thì điều kiện cần là chấp nhận Dự Án Chính trị và Quy ước Sinh hoạt của Tập hợp và được ít nhất là hai chí hữu của Tập hợp giới thiệu.

    9.6.- Thủ tục như thế nào và liên lạc với ai để gia nhập THDCĐN?

    Liên lạc với toà soạn báo Thông Luận (7, Allée Bouleau Carreau, 77600 Bussy Saint Georges, France), hoặc qua hộp thư của web Thông luận (http://www.thongluan.org) để biết những thủ tục cần thiết cho việc gia nhập.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi