Phần I - Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989 (phần 3)

  • Bởi tqvn2004
    03/12/2009
    0 phản hồi

    3. 2 phương châm xử lí phong trào sv đối lập nhau gay gắt

    Lần trước đã nói đến việc sau khi tôi đi Triều Tiên thì phương châm xử lí phong trào sv bị những người như Lí Bằng ở nhà thay đổi. Sau đây sẽ chú trọng nói đến sự đấu tranh giữa 2 phương châm khác nhau trong xử lí phong trào sv sau khi tôi từ Triều Tiên về.

    Việc đăng tải xã luận 26 – 4 đã gây ra sự biểu tình lớn của sv và bầu âm thanh oán trách của các cơ quan, đoàn thể, trường học, đảng phái dân chủ đối với Lí Bằng cùng các lãnh đạo thành phố BK. Hơn nữa việc Lí Bằng quyết định truyền đạt trên phạm vi rộng bài nói chuyện ngày 25/4 của Đặng ở BK và các nơi khác trong 2 ngày 25 và 26 tháng 4 cũng là khởi nguồn của ko ít bình luận và chỉ trích đối với Đặng. Đặng và người nhà của ông ấy đối với việc này rất ko vừa lòng. Người nhà Đặng nói những người như Lí Bằng thoắt cái đã ném Đặng lên tuyến đầu để tự mình được làm người tốt. Trước đây tôi cũng đã nói, suốt đến khi thảo luận việc xử lí phong trào sv trong hội nghị thường ủy BCT ngày 17/5, hội nghị lần đó cuối cùng quyết định thi hành giới nghiêm, Đặng đã phê bình thẳng mặt Lí Bằng về việc này.

    Dưới những điều kiện loại này, bởi xã luận 26/4 đã gây ra cuộc biểu tình lớn ngày 27/4, đã tạo nên sự bất mãn của tất cả các phương diện trong xã hội đối với xã luận 26/4. Lí Bằng ko có lựa chọn nào khác ngoài bảo Bảo Đồng viết thêm xã luận 29/4, và còn yêu cầu Viên Mộc (30), Hà Đông Xương (31) cùng sv đối thoại. Trong đối thoại đã chấp nhận rất nhiều đòi hỏi của sv, nói rất nhiều đòi hỏi của sv phù hợp với Đảng và chính phủ, bài xã luận thì ko chĩa mũi nhọn vào đại bộ phận sv, thậm chí nói 99.9% sv đều là người tốt, khiến [tham gia] động loạn ‘phản Đảng phản XHCN’ chỉ là một số cực nhỏ, theo cách này để làm dịu tâm trạng của sv. Đồng thời họ thập phần lo sợ xã luận 26/4 bị phủ định, đặc biệt là sợ sau khi tôi về nước sẽ ko ủng hộ việc hành pháp kiểu này của họ. Lí Bằng còn nói với Diêm Minh Phục (32) rằng (Diêm Minh Phục nói cho tôi biết sau khi tôi từ Triều Tiên về), nếu như Triệu sau khi về nước ko ủng hộ xã luận 26/4, ông ta chỉ có nước hạ đài. Lí Bằng cùng Diêu Y Lâm (33) thỏa thuận bằng mọi cách yêu cầu tôi tuyên bố ủng hộ sau khi về nước. Do vậy sau đó họ nhiều lần muốn tôi trong bài nói chuyện kỉ niệm ngày thanh niên Ngũ Tứ thêm vào những câu từ tỏ rõ sự phản đối động loạn và phản đối tự do hóa giai cấp tư sản, sau khi đưa bản thảo bài phát biểu kỉ niệm ngày thanh niên 4 tháng 5 cho họ xem, Lí Bằng, Diêu Y Lâm đều yêu cầu thêm vào nội dung phản đối tự do hóa. Lúc đó bởi đã truyền bá rộng rãi bài nói chuyện của Đặng, Đặng cảm thấy hình tượng bản thân mình trong suy nghĩ của thanh niên đã bị tổn hại, Đặng thông qua Bảo Đồng nói lại cho tôi, trong bài phát biểu kỉ niệm ngày thanh niên nhất định phải thêm vào nội dung là Đặng luôn luôn quan tâm đến thanh niên, quí trọng thanh niên. Tôi trong khi phát biểu đã thêm vào một đoạn như vậy, đặc biệt nói về việc Đặng quí trọng thanh niên như thế nào, chính là trong bối cảnh như thế mà thêm vào.

    Sáng 30/4 tôi từ Triều Tiên về, Lí Bằng vội vã tìm tôi ngay hôm đó, muốn tôi triệu tập hội nghị để nghe báo cáo của uỷ ban thành phố BK, mục đích là bức tôi thể hiện sự ủng hộ đối với việc hành pháp trước đó của họ. Trong cuộc gặp ngắn của thường ủy ngày 5 tháng 1, dù tôi vừa về nước đã nghe được những phản ánh dữ dội về nhiều mặt đối với xã luận 26/4, nhưng bởi mới về nước, rốt cuộc hiểu biết tình hình ko nhiều, đồng thời cũng là để tránh [làm] những chỗ cong chuyển thành dốc đứng, nên tôi đã phải thể hiện chung chung một chút ủng hộ đối với những công tác do Lí Bằng chủ trì trong thời gian tôi đi nước ngoài. Nhưng tôi chú trọng chỉ ra, điểm cốt yếu là phải tranh thủ đại đa số, nhất định phải phân biệt ra đại đa số và cực thiểu số người, ko được đem đại đa số người đặt ở phía đối lập, ko được làm đại đa số người cảm thấy chịu áp bức. Bất kể nguyên nhân là ở đâu, phải lạnh lùng mà thừa nhận một sự thật nghiêm túc, đó là quảng đại nhân dân, đặc biệt là sv, phần tử trí thức, đảng phái dân chủ đối với nhận thức của chúng tôi, tức là giọng điệu của xã luận 26/4, có 1 khoảng cách rất xa. Do đó tôi chỉ ra phải đối thoại trên diện rộng, cả với sv, lẫn với thầy cô giáo, công nhân để lắng nghe í kiến. Đối với vấn đề xác định tính chất mà sv quan tâm, tôi lúc đó nhấn mạnh phải dựa theo cách nhìn nhận của xã luận 29/4 để làm ra lời giải thích mới. Tham gia động loạn ‘phản Đảng phản XHCN’ chỉ là 1 số rất ít người, tôi hi vọng bằng cách này thực tế sẽ hạ thấp giọng điệu của xã luận 26/4. Hơn nữa tôi còn chỉ ra, phải nắm được lá cờ phục khóa, bởi vì đây cũng là đòi hỏi của phụ huynh, giáo sư, và đa số người trong xã hội. Đồng thời, chỉ cần phục khóa, cảm xúc sẽ lạnh đi ngay, tình thế sẽ ổn định ngay, thì những vấn đề khác cũng sẽ giải quyết dễ dàng.

    Sau khi tôi từ Triều Tiên về, đầu tiên theo các phương diện tiến một bước tìm hiểu tình thế, trước hết đã xem những cuộn phim quay tại hiện trường của cuộc diễu ành 27/4. Ngày 2 tháng 5 tôi chấp nhận yêu cầu của những người phụ trách các đảng phái dân chủ là Phí Hiếu Thông (34), Tôn Khởi Mạnh (35), Lôi Khiết Quỳnh (36), cùng họ tọa đàm về vấn đề phong trào sv. Sáng ngày 5/5 chấp nhận đàm thoại cùng hiệu trưởng ĐH BK Đinh Thạch Tôn (37), phó hiệu trưởng ĐH SP BK Hứa Gia Lộ (38), mời họ trình bày về tình huống của phong trào sv ở 2 trường và quan điểm của họ. Chiều hôm đó, tôi cũng tự í mình tham gia hội nghị tọa đàm được Liên minh nhân dân TƯ mở ra cho các cán bộ giảng dạy trung niên bậc cao là thành viên của bộ phận Bắc Kinh để nghe í kiến của họ đối với phong trào sv. Qua tìm hiểu tình hình, tôi càng cảm thấy lần này phong trào sv đã có được sự đồng tình rộng rãi của các phương diện xã hội, [còn] xã luận 26/4 cùng phương châm đối phó với phong trào sv trước đó một đoạn của TƯ ko được người dân ủng hộ. Nếu như ko dùng phương thức thích hợp để làm dịu xã luận 26/4 ngay [thì bởi vì] sv vẫn còn sợ sệt việc xác định tính chất, sợ bị xử lí sau khi mọi việc kết thúc, mâu thuẫn sẽ ko thể dịu xuống. Tôi cũng cảm thấy, nếu như [đối với] phong trào sv lần này mà dùng phương thức đối thoại, dẫn dắt trên quĩ đạo pháp chế dân chủ để dẹp loạn, sẽ có khả năng tiến một bước thúc đẩy sự nghiệp cải cách của TQ, bao gồm cả cải cách thể chế chính trị. Ngược lại, nếu như dùng bạo lực trấn áp xuống, sau đó chắc chắn sẽ là một đợt vận động chống tự do hóa với qui mô càng lớn hơn, thế lực bảo thủ sẽ thừa cơ nổi lên, sự nghiệp cải cách sẽ đình chỉ, thụt lùi, lịch sử TQ rất có khả năng sẽ xuất hiện một thời kì phức tạp. Do vậy 2 loại phương châm này sẽ dẫn đến 2 loại kết quả hoàn toàn bất đồng.

    Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là ở Đặng. Lúc đó tôi nghĩ chỉ cần ông ấy có thể nới lỏng một chút ngay, ví dụ như nói một câu này, ‘ngày 25/4 nghe Lí Bằng báo cáo, có vẻ như lúc đó nhìn nhận tình huống hơi nặng nề, việc biểu tình cũng đâu đã gây ra vấn đề gì ghê gớm!’ Ông ấy mà có thể có một câu nói như này, thì tôi sẽ có thể làm thế cục trở lại bình thường, cũng sẽ ko đem trách nhiệm trút lên đầu Đặng. Tôi và thường ủy BCT có thể gánh trách nhiệm. Nếu như Đặng ko đổi giọng một chút nào, thì tôi cũng ko có biện pháp làm 2 phần tử phái cứng rắn là Lí Bằng và Diêu Y Lâm thay đổi thái độ. Họ mà ko thay đổi thái độ, thì thường ủy cũng có thực hiện phương châm dẫn dắt, đối thoại. Tôi cũng hiểu rất rõ là thái độ xưa nay của Đặng trong những vấn đề như thế này khá cứng rắn, cộng thêm việc nghe và có ấn tượng với báo cáo của Lí Bằng đầu tiên, muốn ông ấy thay đổi thật sự là rất khó rất khó. Tôi lúc đó vội nghĩ đến việc trực tiếp gặp Đặng để bàn luận một lần về quan điểm của tôi, và đạt được sự chấp nhận của ông ấy. Tôi liền phone cho Vương Thụy Lâm (39) để sắp xếp 1 cuộc đàm thoại với Đặng, Vương nói Đặng gần đây sức khỏe rất ko tốt, rất lo là đến thời điểm thích hợp [Đặng] sẽ ko thể gặp Gorbachev (40), như vậy sẽ lớn chuyện. Thế nên hiện tại mọi chuyện đều ko được báo cáo cho ông ấy, để tránh phân tâm. Tôi từ hôm đó cho tới giờ, luôn tin rằng tình hình của Đặng mà ông ấy nói lúc đó là chân thực! Lúc đó sức khỏe của Đặng thực sự là rất ko tốt.

    Ngày 2 tháng 5, tôi đã nói những suy nghĩ này của tôi cho Diêm Minh Phục, nhờ ông ấy thông qua Dương Thượng Côn và những người quanh Đặng, chuyển những suy nghĩ của tôi cho Đặng biết.

    Ngày 3 tháng 5, tôi đến nhà Dương Thượng Côn. Dương cho tôi biết, ông ấy đã nói chuyện với Vương Thụy Lâm và con gái Đặng, họ cho rằng hiện tại việc sửa chữa xã luận 26/4 có những khó khăn, có thể làm nhạt đi, đừng đề cập đến nó nữa, từ từ thay đổi vấn đề phức tạp này. Họ còn nói, nếu giờ mà tìm Đặng nói chuyện, Đặng sẽ lại kiên quyết, sẽ còn khó khăn hơn. Các anh ở tuyến đầu, cứ từ từ xoay chuyển vấn đề phức tạp này. Thượng Côn lúc đó cũng nói, ông ấy có thể độc lập làm công tác với vài vị thường ủy khác. Ngay trong ngày hôm đó, Diêm Minh Phục đến nhà tôi cho tôi biết: Vương Thụy Lâm và con gái Đặng đều nói, đối với vấn đề phong trào sv, do TƯ phụ trách nên đồng chí cứ dựa vào tình hình mà xử lí cho tốt đẹp. Nếu như hiện tại tìm Đặng, vạn nhất Đặng ko đồng í, chuyện sẽ ngược lại và càng khó xử lí. Trong vài ngày sau đó, cũng chính là chiếu theo biện pháp làm dịu, từ từ thay đổi tình huống phức tạp này mà hành động.

    Ngày 4 tháng 5 tôi trong bài nói chuyện tại Ngân hàng khai phát Á Châu (41), cũng là [dùng] giọng điệu này, vừa bất đồng với giọng điệu của xã luận 26/4, mà cũng ko có câu từ đối lập trực tiếp. Sau bài phát biểu ngày 5/4 tại Ngân hàng khai phát Á Châu, Dương Thượng Côn cũng cho tôi biết kết quả của việc đàm thoại giữa ông ấy với các thường ủy. Hồ Khải Lập (42), Kiều Thạch tán thành phương châm mới, Lí Bằng, Diêu Y Lâm phản đối. Về Vạn Lí, tôi đã trực tiếp tìm ông ấy nói chuyện, ông ấy hoàn toàn đồng í với phương châm mới. Như thế này, trong các thường ủy và thường ủy dự thính, số người tán thành í kiến của tôi đã chiếm đa số. Dương cũng cho tôi biết, ông ấy cùng Bành Chân đã bàn qua, Bành hoàn toàn ủng hộ í kiến của tôi. Lúc đó Bành nói với Dương, nếu như tương lai Đặng có trách cứ xuống, thì ko thể trách 1 mình Tử Dương, vẫn còn có tôi và anh, tôi tính là 1 người, anh cũng tính là 1 người. Í là nói đứng cùng phe với tôi.

    Trước khi tôi về nước, Bắc Kinh từng đề xuất vấn đề thực hành giới nghiêm trong cuộc họp hội í ngắn của thường ủy, lúc đó đã chịu sự phê bình nghiêm khắc của Dương Thượng Côn, [ông ấy] nói thủ đô giới nghiêm, thì làm sao mà giải thích với toàn thế giới? Tôi cảm thấy trước khi có quyết định thi hành giới nghiêm của Đặng, thái độ của Dương đối với phong trào sv là tương đối ôn hoà.

    Ngày 4 tháng 5 lúc tôi gặp các đại biểu của Ngân hàng khai phát Á châu đã có một bài phát biểu nhân vấn đề phong trào sv. Bản thảo của bài phát biểu này là do Bảo Đồng viết nên dựa theo í tứ của tôi. Trong bài phát biểu này tôi đã chỉ ra, vấn đề phong trào sv phải giải quyết trong bầu ko khí lạnh lùng, lí trí, kiềm chế, và trật tự, trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế. [Tôi cũng đã] chỉ ra lần này sv đối với Đảng và chính phủ vừa hài lòng vừa ko hài lòng, [nhưng] họ tuyệt đối ko phải là phản đối chế độ nền tảng của chúng tôi, mà chỉ là đòi hỏi chúng tôi từ bỏ những sai lầm trong công tác. Tôi còn nói, phong trào sv lớn như thế này, khó tránh được có người âm mưu lợi dụng, nhưng TQ sẽ ko thể xuất hiện động loạn qui mô lớn.

    Bản thảo này sau bài phát biểu, đã nhận được sự tán dương rộng rãi ở trong và ngoài nước. Trong vài ngày sau 5/5, các đại học ở BK lần lượt phục khóa. Lúc đó xã trưởng Tân Hoa Xã bộ phận Hong Kong là Hứa Gia Truân (43) đang ở BK viết 1 mẩu tin nhắn cho tôi, nói ông ấy ngày 4 tháng 5 đã gặp Dương Thượng Côn, Dương đối với bài phát biểu của tôi rất là tán đồng. Trong sự tán đồng rộng rãi lúc đó, Lí Bằng chiều ngày 4 đến nhà tôi, cũng ko thể ko nói rằng bài phát biểu của tôi rất tốt, lúc ông ta gặp các đại biểu hội nghị của Ngân hàng khai phát Á châu ko lâu sau đó, cũng phải hành động phù với tình hình hợp ngay. Nhưng sau đó khi tôi nói đến việc xã luận 26/4 có vấn đề, ông ta thể hiện sự phản đối.

    Chính là trong khoảng thời gian kể từ khi tôi từ Triều Tiên về đến đầu tháng 5 này, tôi đã thông qua tìm hiểu tình hình, cảm thấy xã luận 26/4 ko được lòng người, nếu ko sửa đổi cho phù hợp ngay lập tức thì phong trào sv sẽ rất khó trở nên hòa hoãn, đồng thời trong hoàn cảnh ko có cách nào gặp Đặng, tôi và các đồng chí nhắc đến ở trên đã cùng bàn bạc sẽ áp dụng biện pháp từ từ xoay chuyển tình thế, trên thực tế đang từ từ thay đổi.

    Lúc đó 1 loại phương châm thế này, hành pháp kiểu này dù đang hòa hoãn tình hình ở nhiều phương diện, đại bộ phận sv [cũng] đã phục khóa, nhưng họ muốn thấy kết quả, [muốn thấy] ‘Phát biểu 4 tháng 5’ được thực hiện như thế nào. Lúc đó tôi nghĩ lợi dụng thời gian hòa hoãn tích cực thực hiện đối thoại, đối thoại trên nhiều mặt, tạo ra vài sự giải thích đối với những vấn đề sv quan tâm, tiếp thu những í kiến hợp lí trong sv, đối thoại, dẫn dắt, thực hiện những hành động cụ thể.

    Tuy nhiên, một mặt khi tôi cùng vài vị thường ủy và vài đồng chí dự thính trong ủy ban thường ủy (44) thực hiện phương châm tích cực xoay chuyển tình hình, thì [mặt khác] những người như Lí Bằng lại cực lực cản trở, trì hoãn, thậm chí phá hỏng. Thế nên các phương châm đối thoại và dẫn dắt trong bài ‘Phát biểu ngày 4 tháng 5’ đều ko có cách nào thực hiện. Sv lúc đó dù đã phục khóa, nhưng đối với phương châm của ‘Phát biểu ngày 4 tháng 5’ vẫn bán tín bán nghi, muốn thấy được hành động của chúng tôi.

    Tôi lúc đó một mặt chủ trương đối thoại rộng rãi, một mặt đối với những vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm mà sv nêu ra, như vấn đề liêm chính, vấn đề mức độ rõ ràng, vấn đề dân chủ và pháp chế cũng như giám sát dư luận, yêu cầu tích cực thực hiện. Kiến nghị Đại hội đồng Đại biểu nhân dân toàn quốc (ĐBNDTQ) kiến lập 1 ủy ban trong sạch có quyền lực, độc lập đảm nhiệm việc báo cáo và điều tra những hành vi phạm pháp của vợ con các quan chức cấp cao, tăng cường kiểm soát dư luận, tăng cường độ mức độ rõ ràng, đẩy nhanh việc hình thành luật xuất bản và luật biểu tình. Dùng những cách làm thông dụng với đại đa số các nước trên thế giới, thông qua việc ban hành những luật cụ thể để bảo đảm quyền lợi dân chủ của nhân dân. Tôi cũng đề xuất, đặc biệt triệu tập một lần đại hội thường ủy của đại hội đồng ĐBNDTQ, để nghe tình hình kiểm toán đối với mấy công ti lớn và mấy công ti lớn mà xã hội cho là ‘quan đảo’ (đã giải thích từ này ở một post trước) nghiêm trọng, do đại hội đồng ĐBNDTQ tiến 1 bước thẩm tra, hoặc do đại hội đồng ĐBNDTQ trực tiếp tổ chức thẩm tra. Bởi vì trong suy nghĩ của người dân, mức độ rõ ràng của đại hội đồng ĐBNDTQ so với Đảng và chính phủ lớn hơn một chút. Tôi lúc đó nghĩ chung chung là chỉ cần thông qua những sửa đổi đối với một vài vấn đề nóng được xã hội quan tâm, một mặt xoa dịu một vài bất mãn trong xã hội và trong giới sv, sẽ làm phong trào sinh viên hòa hoãn, bình ổn xuống. Hơn nữa nhờ thế thành cơ hội khởi động cải cách thể chế chính trị, thông qua một vài vấn đề này mà làm cho Đại hội đồng ĐBNDTQ có thể thực sự phát huy tác dụng của cơ cấu quyền lực tối cao, dẫn dắt được sv đem sự chú í chuyển sang vấn đề làm thế nào để sâu sắc hóa việc cải cách thể chế chính trị.

    Ngày 13/5, tôi và Dương TC cùng đến nhà Đặng bàn về những vấn đề liên quan tới chuyến thăm của Gorbachev, cũng bàn với ông ấy về tình hình phong trào sv gần đây, hơn nữa còn bàn về những chủ trương của tôi. Chủ trương là đối thoại, kiểm soát liêm chính, kiểm soát mức độ rõ ràng. Ông ấy lúc đó về mặt nguyên tắc thể hiện sự tán thành đối với suy nghĩ của tôi, nói phải nắm lấy thời cơ, giải quyết thật tốt ngay vấn đề hủ bại. Ông ấy cũng nói về việc tăng cường mức độ rõ ràng. Lúc đó trong xã hội có rất nhiều lời đồn đại về việc vợ con của các quan chức cấp cao làm ‘quan đảo’, những lời đồn đại về các con của tôi cũng rất nhiều. Thế nên ngày 1 tháng 5 trong hội nghị thường ủy BCT tôi đã đề xuất, mời BCT giao nhiệm vụ cho ai đó trong Ủy ban kỉ luật, Bộ giám sát chỉ chuyên môn tiến hành điều tra các con tôi, sau đó tôi cũng viết 1 bức thư chính thức gửi BCT, thỉnh cầu BCT ủng hộ những yêu cầu của tôi. Lúc đó 1 vấn đề nóng xã hội quan tâm khác mà sv đòi hỏi giải quyết là vấn đề tự do báo chí, ngày 6 tháng 5 tôi tìm Hồ Khải Lập, Nhuế Hạnh Văn (45) chủ tâm thảo luận vấn đề cải cách báo chí, đề xuất lập ra luật báo chí mới với tiêu điểm nên là nới rộng thước đo thông tin báo chí và ngôn luận.

    Ngày 3 tháng 5 tôi đến nhà Vạn Lí, cùng ông ấy bàn về quan điểm của tôi đối với phong trào sv, cũng bàn vì sao mà một vài lãnh đạo hiện tại lại phản ứng quá mức với những đề xuất cho phong trào sv, chủ yếu là vì phương thức tư duy hình thành dưới sự ảnh hưởng trường kì của việc lấy ‘đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’, một phương thức tư duy cũ kĩ. Hiện tại đã thay đổi nhiều, nên thuận theo những trào lưu dân chủ và pháp chế mà thay đổi kiểu tư duy này. Ông ấy hoàn toàn tán đồng í kiến của tôi. Ông ấy còn nói, các lãnh đạo Thiên Tân, Bắc Kinh đã phản ánh, phàn nàn với ông ấy là thái độ của TƯ với phong trào sv quá mềm mỏng. Dường như việc này là do chịu ảnh ảnh hưởng của phương thức tư duy cũ kĩ, ông ấy chủ trương phải giải quyết vấn đề này. Trong hội nghị thường ủy BCT ngày 8 tháng 5 hoặc hội nghị của BCT ngày 10 tháng 5 (ko nhớ rõ lắm), ông ấy đã có 1 bài phát biểu rất tốt, nội dung là phải thuận theo trào lưu dân chủ thế giới, đáp lại chính xác những đòi hỏi do các sv trong phong trào sv đề xuất. Thế nên ông ấy trong khi triệu tập hội nghị các ủy viên của Đại hội đồng ĐBNDTQ, đã hoàn toàn ủng hộ một loạt chủ trương do tôi đề xuất trong hội nghị của BCT, xác định cần sớm triệu tập hội nghị thường ủy của Đại hội đồng ĐBNDTQ, cần đem những vấn đề này vào trong chương trình nghị sự của hội nghị thường ủy của Đại hội đồng ĐBNDTQ. Ngày 9 tháng 5 ông ấy cũng đến nhà tôi, nói ông ấy sẽ đi Mĩ và Canada, ban đầu ông ấy muốn tìm Đặng để trực tiếp nói chuyện trước lúc rời nước, nhưng thời gian ko đủ. Sau khi ông ấy đi Canada và Mĩ, đã vài lần nói rằng phong trào sv BK là phong trào dân chủ yêu nước, đã thể hiện sự đánh giá rất cao. Thái độ mà Vạn Lí áp dụng đối với vấn đề phong trào sv ko phải ngẫu nhiên, ông ấy lúc nào cũng chủ trương mở rộng dân chủ, ủng hộ cải cách thể chế chính trị. Việc chống tự do hóa giai cấp tư sản năm 1987 ông ấy cũng ko tán thành. Ông ấy từng có những bài phát biểu chuyên đề về vấn đề dân chủ hóa việc quyết định chính sách. Trong những lãnh đạo TƯ, ông ấy là một nhân vật kiên định ủng hộ cải cách.

    Lí Bằng, Diêu Y Lâm và Lí Tích Minh của Bắc Kinh, mấy người bọn họ đối với những chủ trương đã nói ở trên của tôi cực lực tiến hành cản trở, bác bỏ và trì hoãn. Họ đối với bài phát biểu ngày 4 tháng 5 của tôi tại Ngân hàng khai phát Á châu, mấy ngày đầu ko công khai phản đối, thậm chí còn tán dương vài câu, nhưng thực tế thì cực lực tiến hành bóp méo, xuyên tạc, nói bài phát biểu của tôi là nhất trí với bài xã luận 26/4, chỉ là bất đồng về khía cạnh. Tiếp đó bảo Hà Đông Xương ở Quốc vụ viện triệu tập hội nghị một vài thư kí Đảng ủy đại học tuyên truyền rằng, bài phát biểu của Triệu chỉ đại diện cho í kiến cá nhân, ko thể đại diện cho TƯ. Tin tức này rất nhanh chóng truyền đến sv. Về việc đối thoại cùng sv, họ càng bác bỏ và trì hoãn bằng nhiều cách. Ban đầu đối thoại chỉ là muốn cùng những sv biểu tình thị uy nói chuyện, nhưng họ chẳng những ko cho các tổ chức được sv trong phong trào sv kiến lập cử đại biểu, mà còn ko cho phép sv tự mình cử đại biểu, nhất định phải [là những người] được hội sv xem là đại biểu đến nói chuyện, cơ bản ko thể đại biểu cho những sv biểu tình thị uy. Kiểu đối thoại này ko phải là giống hệt cự tuyệt đối thoại sao? Hơn nữa họ trong lúc đối thoại ko dùng thái độ thành khẩn lắng nghe í kiến, thảo luận vấn đề, mà là tìm mọi cách đối phó với sv, giống như kiểu trong các cuộc họp báo đối phó với các phóng viên ngoại quốc, tranh thủ việc xuất hiện trước ống kính có lợi cho hình tượng bản thân để vơ vét lợi ích, việc này khiến sv cảm thấy việc chính phủ nói muốn cùng họ đối thoại là hoàn toàn ko có thành í. Tôi liên tục phê bình những điều này, nhưng họ lúc nào cũng gạt sang một bên. Còn đối với vấn đề liêm chính, vấn đề mức độ rõ ràng, thái độ của họ càng tiêu cực, thậm chí khi triệu tập hội nghị thường ủy Đại hội đồng ĐBNDTQ đem những vấn đề này thêm vào chương trình nghị sự cũng gặp phải sự phản đối của Lí Bằng, để làm điều này ông ta cố í gọi điện thoại cho tôi, ko đồng í đem những vấn đề này vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng ĐBNDTQ.

    Chính bởi thế này, sau khi sv phục khóa, sau rất nhiều ngày, cơ bản ko thấy chính phủ có hành động gì, đối thoại thì là để đối phó với họ, càng ko có hành động thực tế muốn cải cách nào, thế nên họ đối với ‘bài phát biểu Ngũ Tứ’ của tôi cơ bản đã phát sinh hoài nghi. Một trường xung đột càng kịch liệt hơn ko thể tránh được đã phát sinh. Thế nên hiện tại phải trả lời 1 vấn đề: Phong trào sv trong thời gian dài ko thể dịu xuống cuối cùng nguyên nhân là gì? Họ nói là ‘Phát biểu Ngũ Tứ’ đã làm lộ ra sự bất đồng trong TƯ, cái gọi là 2 loại âm thanh. Ko đúng! Nguyên nhân cơ bản là vì phương châm do tôi xác định sau khi từ Triều Tiên về (dẫn dắt, đối thoại, giải quyết vấn đề trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế, từ những vấn đề nóng bắt đầu thực hiện cải cách thể chế chính trị) chịu sự cản trở, bác bỏ, phá hỏng của những người như Lí Bằng mà ra. Trước khi Gorbachev đến thăm, có 1 hôm Lí Bằng nói với tôi: Anh ko phải là chủ trương dùng biện pháp mềm mỏng để ổn định phong trào sv đấy chứ? Đã nhiều ngày thế này rồi, ko có tác dụng gì đâu! Câu nói này của ông ta, hoàn toàn làm lộ ra mưu đồ được ông ta che giấu. Việc ông ta bác bỏ, phá hỏng, khiến giải quyết phong trào sv trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế gặp thất bại, có mục đích là tìm kiếm lí do cho việc dùng bạo lực trấn áp sv.

    Trong thời gian tôi đi Triều Tiên, còn phát sinh 1 sự kiện ở đạo báo (báo có tính suy đoán hướng dẫn, em đ éo biết từ tương đương trong tiếng Đại Việt là gì, các bác thông cảm ) Kinh tế thế giới (46) ở Thượng Hải. Nguyên nhân là đạo báo này đã đăng 1 bài phóng sự về các hoạt động tưởng niệm Diệu Bang, thị ủy Thượng Hải cho rằng nội dung ko thích hợp, ra lệnh cho đạo báo bỏ đi phóng sự hôm đó, đạo báo ko chấp hành, thị ủy Thượng Hải liền quyết định đạo báo phải ngừng xuất bản để chỉnh đốn, hơn nữa còn đình chỉ chức vụ của tổng biên tập Khâm Bản Lập (47), theo như báo cáo, Giang Trạch Dân (48) đã từng gọi điện đến phòng làm việc của Đặng xin chỉ dẫn. Lúc đó chính là khi phong trào sv đang rất kích động, họ làm thế này, ko chỉ các nhân viên làm việc cho đạo báo bất phục, mà còn gặp phải sự phản đối rộng rãi của các nhân viên công tác trong các đơn vị báo chí ở BK, THải và các địa phương khác trên toàn quốc, [họ] lần lượt ra đường phố ủng hộ đạo báo, yêu cầu thị ủy Thượng Hải triệt tiêu quyết định đối với đạo báo. Hành động của họ cùng với phong trào sv lúc đó phối hợp, tạo ra tác dụng tăng cường thanh thế, thêm dầu vào lửa. Sau khi tôi về nước cảm thấy thị ủy Thượng Hải đối với việc này xử lí đơn giản máy móc, hơn nữa thời cơ ko thích hợp. Nhưng sự tình đã phát sinh rồi [nên tôi] cũng đã ko nói gì, cũng ko phê bình chỉ trích thị ủy Thượng Hải, cũng ko ủng hộ các phương tiện thông tin đại chúng, phải áp dụng thái độ TƯ ko liên quan, do Thượng Hải tự mình giải quyết. Ngày 2 tháng 5, tôi cùng các đảng phái dân chủ tọa đàm, Diêm Minh Phục cho tôi biết, có người từ Bộ mặt trận thống nhất Thượng Hải cho ông ấy biết, Thượng Hải có í muốn xuống nước, hi vọng Bộ mặt trận thống nhất TƯ giúp đỡ làm một vài việc. Tôi nói, bởi thị ủy Thượng Hải giờ có yêu cầu này, anh có thể giúp đỡ họ tìm kiếm biện pháp. Ngày 10 tháng 5, Giang TD đến thủ đô nói chuyện với tôi về những í tưởng nhằm hóa giải mâu thuẫn của họ, tôi nói rằng do Thượng Hải giải quyết, TƯ ko can dự, để tránh người ngoài suy đoán nói Thượng Hải vì chịu áp lực của TƯ xuống mới làm thế này. Giang TD đối với việc này ko bằng lòng, sau ‘Lục Tứ’, Giang xem việc này như là 1 tội trạng [mà trong đó] tôi ủng hộ phong trào sv.

    Những điều này là sau khi tôi từ Triều Tiên về, tìm hiểu việc xã luận 26/4 khiến phong trào sv leo thang, các giới trong xã hội ra phố biểu tình; để ổn định phong trào sv tôi đã áp dụng phương châm nói ở trên. Nhưng bởi những người như Lí Bằng sợ [tôi] như thế đã phủ định xã luận 26/4, thậm chí sợ [tôi] vì thế sẽ truy cứu trách nhiệm của họ, nên họ liều mình gây ra cản trở, phá hỏng, đến mức khiến phong trào sv tiếp tục kéo dài. Đây chính là hoàn cảnh của việc phong trào sv kéo dài đến xấp xỉ 1 tháng.

    ________________________

    Ghi chú:

    30. Viên Mộc (1928 - ): người Hưng Hóa Giang Tô. Có lúc giữ chức chủ nhiệm phòng nghiên cứu của Quốc vụ viện. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989, Viên Mộc là tiếng nói của phe ủng hộ dùng vũ lực trấn áp trong Chính phủ.

    31. Hà Đông Xương (1923 - ): Người Chư Kí Chiết Giang. Năm 1978 nhậm chức hiệu phó đại học Thanh Hoa, có lúc giữ chức phó chủ nhiệm Ủy ban giáo dục, phó thư kí Đảng bộ. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 đối với việc xúc tiến dùng vũ lực trấn áp sv đã đổ thêm dầu vào lửa.

    32. Diêm Minh Phục (1931 - ): 1985 – 1990 giữ chức bộ trưởng Bộ mặt trận thống nhất. 1987 – 1989 giữ chức thư kí ban thư kí TƯ. Vì trong sự kiện Lục Tứ ko ủng hộ dùng vũ lực trấn áp nên bị cách chức.

    33. Diêu Y Lâm (1917 – 1994): người Quí Trì An Huy. Trước CMVH làm công tác mậu dịch trong thời gian dài, là cấp dưới của Trần Vân và Lí Tiên Niệm. 1979 nhậm chức trưởng bí thư ủy ban kinh tế tài chính của Quốc vụ viện, phó thủ tướng Quốc vụ viện, sau đó kiêm nhiệm chủ nhiệm ủy ban kế hoạch quốc gia. 1987 nhậm chức thường ủy BCT. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, Diêu Y Lâm với thân phận thường ủy BCT đã chủ trương vào hùa xúc tiến dùng vũ lực trấn áp sv.

    34. Phí Hiếu Thông (1910 – 2005): người Ngô Giang Tô Châu. Giáo sư đại học BK ngành xã hội học. 1987 – 1996 nhậm chức chủ tịch TƯ của Liên minh dân chủ TQ, phó ủy viên trưởng của Đại hội đồng ĐBNDTQ.

    35. Tôn Khởi Mạnh (1911 - ): người Hưu Trữ An Huy. Là người đề xướng và tổ chức của Hội Dân chủ kiến quốc trong thời kì đầu. 1983 – 1987 nhậm chức chủ tịch TƯ của Hội dân chủ kiến quốc, phó ủy viên trưởng đại hội đồng ĐBNDTQ.

    36. Lôi Khiết Quỳnh (1905 - ): người Quảng Châu Quảng Đông. Giáo sư ĐHBK. 1987 – 1997 giữ chức chủ tịch TƯ của Dân Tiến, phó ủy viên trưởng Đại hội đồng ĐBNDTQ.

    37. Đinh Thạch Tôn (1927 - ): người Trấn Giang Giang Tô. Có lúc giữ chức hiệu trưởng ĐHBK, phó chủ tịch TƯ của Dân Minh.

    38. Hứa Gia Lộ (1937 - ): người Hoài An Giang Tô. Giáo sư Trung văn ĐH SPhạm BK. 1987 – 1994 giữ chức hiệu phó ĐH SP BK, thường ủy TƯ của Dân Tiến, phó chủ tịch TƯ của Dân Tiến.

    39. Vương Thụy Lâm (1930 - ): người Chiêu Viễn Sơn Đông. Từ 1952 trở đi trường kì làm thư kí cho Đặng TB; 1978 nhậm chức chủ nhiệm văn phòng của Đặng TB. 1983 nhậm chức phó chủ nhiệm văn phòng TƯ cho đến 1995 nhậm chức ủy viên quân ủy TƯ.

    40. Qua Nhĩ Ba Kiều Phu (1931 - ): Mikhail Sergeyevich Gorbachev, chính trị gia Liên Sô. 1985 – 1991 làm tổng bí thư hội đồng ủy viên TƯ của ĐCS Liên Sô. Các chính sách trong thời kì ông tại chức đã dẫn đến sự giải thể của Liên Sô và sự kết thúc của Chiến tranh lạnh. 1990 được giải Nobel hòa bình.

    41. Từ sau gọi là ‘Phát biểu Ngũ Tứ’, chỉ bài phát biểu trong cuộc họp hàng năm lần thứ 22 của hội đồng quản trị Ngân hàng phát triển Á châu ngày 4 tháng 5 năm 1989. Chủ trương ‘giải quyết vấn đề trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế’ chính là trong bài phát biểu trong ngày này mà đề xuất ra. Xem phụ phục 2. (Chép nguyên Nhân Dân Nhật Báo ngày 5/5/1989).

    42. Hồ Khải Lập (1929 – ): người Du Lâm Thiểm Tây. 1985 – 1987 giữ chức ủy viên BCT TƯ Trung Cộng, thư kí sở thư kí; 1987 – 1989 giữ chức thường ủy BCT TƯ TC. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 Hồ KL kô ủng hộ dùng vũ lực trấn áp sv, do đó bị miễn chức thường ủy BCT, bảo lưu được chức ủy viên TƯ.

    43. Hứa Gia Truân (1916 – ): người Như Cao Giang Tô. Từng giữ chức thư kí tỉnh ủy Giang Tô của Trung Cộng, có lúc giữ chức xã trưởng phân xã Hong Kong của Tân Hoa Xã. Sau sự kiện Lục Tứ 1989, bất mãn với việc Trung Cộng dùng vũ lực trấn áp; chạy sang Mĩ.

    44. ‘vài đồng chí dự thính trong ủy ban thường ủy’, là chỉ chủ tịch nước Dương Thượng Côn, ủy viên trưởng Đại hội đồng ĐBNDTQ Vạn Lí, phó chủ nhiệm ủy ban cố vấn TƯ Bác Nhất Ba 3 người.

    45. Nhuế Hạnh VĂn (1927 – 2005): người Liên Thủy Giang Tô. 1985 – 1987 giữ chức thư kí thị ủy Thượng Hải của Trung Cộng; 1987 – 1989 giữ chức thư kí ban thư kí TƯ; phó tổ trưởng tiểu tổ tuyên truyền tư tưởng và công tác lãnh đạo TƯ. Sau sự kiện Lục Tứ 1989 bị miễn chức thư kí ban thư kí TƯ.

    46. Đạo báo Kinh tế thế giới bắt đầu xuất bản tháng 6 năm 1980, do Khâm Bản Lập (1918 – 1991), có lúc làm phó phòng Phòng nghiên cứu kinh tế thế giới thuộc viện Khoa học xã hội Thượng Hải, làm tổng biên tập.

    47. Khâm Bản Lập (1981 – 1991): người Trường Hưng Chiết Giang. Nhà báo nổi tiếng. Từng giữ chức thư kí Đảng ủy ‘Văn hối báo’ của Trung Cộng, có lúc làm tổng biên tập đạo báo Kinh tế thế giới. Tháng 4 năm 1989 kiên trì in bài kỉ niệm Hồ Diệu Bang trên Đạo báo, bị thư kí thị ủy Thượng Hải Giang Trạch Dân đình chỉ chức vụ. ‘Sự kiện Khâm Bản Lập’ trở thành khúc ngoặt trong sự nghiệp chính trị của Giang TD.

    48. Giang Trạch Dân (1926 - ): người Dương Châu Giang Tô. Có lúc giữ chức ủy viên BCT TƯ TC, thư kí thị ủy Thượng Hải. Sau sự kiện Lục Tứ 1989, được các nguyên lão như Đặng TB, Trần Vân, Lí Tiên Niệm, Vương Chấn tìm kiếm tuyển chọn, thay thế Triệu Tử Dương làm tổng thư kí Trung Cộng.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi