Phần I - Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989 (phần 2)

  • Bởi tqvn2004
    03/12/2009
    0 phản hồi

    2. Xã luận ngày 26 tháng 4 (14) đã làm mâu thuẫn trở nên gay gắt

    Tuy nhiên, sau đó phong trào sv vì sao có thể làm ra 1 tình trạng rất hỗn loạn như vậy? Mấu chốt là xã luận ngày 26 tháng 4. Sv có cảm xúc bất mãn, luôn có thể biểu hiện ra ngoài, cho dù nếu lúc đó ko có sự hỗn loạn xảy ra, [họ] sau đó [sẽ] vẫn muốn biểu đạt. [Họ] luôn luôn có ý kiến mà! Nhưng phong trào SV làm loạn lớn như vậy, chính tại thời điểm đó làm ra một sự hỗn loạn lớn như vậy, chính là [do] xã luận ngày 26 tháng 4. Các tình huống trước và sau xã luận ko giống nhau. Nếu như lúc đó tùy theo tình thế mà dẫn dắt, làm tốt công tác, sự tình cơ bản sẽ ko thể hỗn loạn lớn như thế. Xã luận ngày 26 tháng 4 là một bước ngoặt.

    Ngày 19 tháng 4, tôi nhân tiện việc điều tra sự tình buổi sáng đi qua chỗ Đặng, cũng bàn với Đặng những ý kiến [cùa mình] về tình huống của phong trào sv và cách xử lí như thế nào, Đặng lúc đó đều thể hiện sự ủng hộ. Nhưng sự tình rất kì quái, khi tôi rời Bắc Kinh buổi tối cùng ngày, Lí Tích Minh (15), Trần Hi Đồng (16) của ủy ban thành phố liền tìm Vạn Lí (17), yêu cầu triệu tập hội nghị thường ủy TƯ để nghe báo cáo của họ. Vạn Lí liền trình lên người quản lí bọn họ. Quan điểm của Vạn Lí đối với phong trào sv từ đầu chí cuối luôn nhất trí với tôi. Vạn Lí đã đem yêu cầu của bọn họ chuyển cho Lí Bằng. Thời gian tôi đi công tác nước ngoài Lí Bằng tạm thời chủ trì công tác của thường ủy. Lí Bằng thật sự là nhanh vãi lều à, tối ngày thứ hai (chú ý của người dịch: ko phải Thứ Hai) liền triệu tập hội nghị thường ủy. Dưới sự chủ trì của Lí Bằng, Lí Tích Minh, và Trần Hi Đồng cực lực nói rằng tình huống của phong trào sv là nghiêm trọng phi thường, họ ko quan tâm đến việc tình hình phong trào sv lúc đó đang tiến đến hòa hoãn. Kì thực trong các sv lúc đó đã xuất hiện phân hóa, một bộ phận chủ trương lên lớp lại và hơn nữa đã lên lớp lại, một số ít người phản đối lên lớp lại, có một số trường vì lí do này mà phát sinh tranh cãi, [khi] một vài sinh viên về đến lớp học bài, những phần tử cấp tiến hơn đó đã giữ lại ở cửa không cho tiến vào. Loại tinh huống này nguyên nhân là vì sự tức giận của những sv này vẫn chưa được hoàn toàn trút đủ, mới náo loạn một tí mà đã kết thúc thế này sao? Lúc đó nếu tiếp tục làm một vài công tác, [như] hướng dẫn, đối thoại, cho phép sv đề xuất 1 vài yêu cầu hợp lí, [thì] đây chính là một cơ hội rất tốt. Tuy nhiên họ trong lúc báo cáo lại nói ‘1 đợt hành động qui mô lớn có qui mô toàn quốc bao gồm cả học sinh trung học, và công nhân đang trong quá trình tổ chức phát động’, cũng nói sv Bắc Kinh liên tiếp phái người đến các vùng trên cả nước để móc nối liên kết, lên phố để quyên góp thu thập kinh phí, muốn làm một hành động qui mô to lớn hơn. Bọn họ đem những lời quá khích của những sv cá biệt, đặc biệt là những lời quá khích đối với cá nhân Đặng TB tuyên truyền thêm nữa, đem phong trào sv để nói rằng [dân] thành thị phản đối đảng CS, chĩa mũi nhọn vào Đặng TB. Từ sau cải cách mở cửa, hs sv, đặc biệt là sv đại học đối với những thứ của phương Tây nghe thấy rất nhiều, nhìn thấy rất nhiều. Nói vài câu về một người lãnh đạo, họ cơ bản ko coi đó là 1 vấn đề [to tát], [lúc này] ko giống như thời kì không khí căng thẳng hơn tại trước hoặc trong đại CMVH. Lúc đó điều tiếng về tôi cũng rất nhiều, nào là mấy đứa con tôi làm ‘quan đảo’ (18) (chỉ sự việc lợi dụng quyền lực của mình hoặc người thân để mưu lợi cá nhân, ko tìm được từ tiếng Việt tương đương) này, nào là đã vận chuyển bao nhiêu toa xe phân bón hóa học về quê tôi này. Lúc đó trong bao nhiêu vạn người mà ko có một ai nói vài lời cực đoan, quá khích thì là ko thể. Có 10 người nói những lời kiểu này, [mà] anh lúc nào cũng tập trung được thì đã là cực kì ghê gớm rồi. Lí Tích Minh, Trần Hi Đồng bọn họ làm thế này, là họ thực tế làm theo phương thức tư duy của đấu tranh giai cấp, hay vì í đồ riêng, tôi cũng ko được rõ. Ngày 24 trong hội nghị thường ủy đã đem phong trào sv định tính chất là ‘đấu tranh chính trị chống Đảng chống XHCN (19) có tổ chức, có kế hoạch, có mưu tính trước’, và hình thành bản tóm tắt hội nghị. Lí Bằng, Lí Tích Minh, Trần Hi Đồng là những người đề xướng.

    Ngày 25 tháng 4 Lí Bằng, Dương Thượng Côn (20) đã đem tình hình của hội nghị thường ủy làm báo cáo cho Đặng. Cá nhân Đặng đối với phong trào sv lúc nào cũng chủ trương áp dụng phương châm cứng rắn, cho rằng phong trào sv làm ảnh hưởng đến sự ổn định. Sau khi nghe báo cáo, Đặng ngay lập tức đồng í xác định tính chất phong trào sv là ‘động loạn phản Đảng phản XHCN’, hơn nữa còn đề xuất giải quyết theo kiểu ‘khoái đao trảm loạn ma’ (em để nguyên vì ko tìm được thành ngữ Việt tương đương, í nói giải quyết dứt khoát nhanh chóng như dùng khoái đao để chặt đám dây gai rối rắm). Ngày 19 tháng 4 khi tôi đến chỗ Đặng, những quan điểm của tôi ông ấy đã hoàn toàn đồng í. Ngày 25 khi Lí Bằng, Dương Thượng Côn giải thích, Đặng lại đồng í với quan điểm của họ, là bởi vì quan điểm này nhất trí với chủ trương xuyên suốt của ông ấy. Ngày 25 tháng 4 Đặng cùng những người như Lí Bằng đối thoại, ban đầu là nói chuyện nội bộ. Nhưng đêm hôm đó, Lí Bằng liền quyết định đem bài nói chuyện của Đặng truyền đạt rộng rãi cho cán bộ các cấp, ngày 26 tháng 4 lại đem bài nói chuyện đó biên tập thành bài xã luận trên Nhân Dân Nhật Báo, công khai xác định tính chất phong trào sv là ‘một đợt động loạn có kế hoạch, có dự mưu, mục đích của nó là phản Đảng phản XHCN’. Trước khi tôi sang Triều Tiên, Lí Bằng, [và] lãnh đạo Bắc Kinh (BK) đều ko nói cho tôi biết những quan điểm này của họ. Tôi vừa rời BK, họ liền rất nhanh chóng tổ chức hội nghị thường ủy, hơn nữa còn có được ngay sự ủng hộ của Đặng. Việc này đã làm thay đổi nguyên tắc áp dụng phân tích và chuẩn bị ban đầu của thường ủy bộ chính trị.

    Đặng đối với việc Lí Bằng truyền đạt rộng rãi bài nói chuyện của ông ấy thì ko = lòng, các con của Đặng cũng ko = lòng với việc đem Đặng lên trước sân khấu [này]. Ngày thanh niên mồng 4 tháng 5 (21) tôi có 1 bài nói chuyện. Mao Mao (22) gọi điện thoại cho người phác thảo (23) là Bảo Đồng (24), hi vọng thêm được vào bài nói chuyện 1 nội dung là Đặng quí trọng thanh niên. Ngày 17 tháng 5 trong cuộc họp quyết định giới nghiêm lần đó ở nhà Đặng, Đặng nói với Lí Bằng: Lần này đừng có làm giống như kiểu lần trước đấy, không được đem việc tôi quyết định giới nghiêm làm lộ ra. Lí Bằng liên tiếp nói: Sẽ ko thế! Sẽ ko thể!

    Có kẻ lợi dụng những lời quá khích của sv để làm mâu thuẫn thêm sâu sắc, đem Đảng và chính phủ đẩy đến chỗ đối lập gay gắt với sv. Trải qua cải cách mở cửa, việc sv phê bình lãnh đạo cơ bản ko thể xem là việc gì nghiêm trọng, [chỉ là] phát tiết một chút ko hơn, [nó] ko hề có nghĩa là những người này muốn xô đổ chế độ của chúng ta. Nhưng đem những lời sv phê bình Đặng tập trung nói lên cho Đặng nghe, đối với ông già này là một sự kích động cực lớn. Những người này còn đem những lời quá khích chiếm thiểu số, lẻ tẻ, phân tán trong sv mà nói thành chủ lưu của phong trào sv, nói mũi nhọn của việc đấu tranh là hướng đến Đặng. Do phương thức tư duy ‘dùng đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ (25) đã được hình thành nhiều năm của Đặng, nên nghe báo cáo của Lí Bằng 1 lần [ông ấy] liền phát biểu bài nói chuyện như vậy. Tôi nghĩ việc này là nguyên nhân chủ yếu.

    Khi tôi ở Triều Tiên, ngày 24 tháng 4 bản tóm tắt của hội nghị thường ủy và bài nói chuyện của Đặng truyền đến tôi thông qua sứ quán. Tôi phone về nói: Tôi hoàn toàn đồng í với quyết sách mà đ/c Tiểu Bình đưa ra để đối phó với sự động loạn trước mắt. Những văn kiện này phát cho tôi, tôi phải thể hiện thái độ ngay, cũng ko thể thể hiện í kiến bất đồng, bời vì tôi đang ở nước ngoài ko thể giải quyết tình huống trong nước. Nhưng tôi ko thể hiện thái độ đối với bản tóm tắt hội nghị thường ủy. Đọc bài nói chuyện của Đặng, phản ứng ngay lập tức trong đầu tôi lúc đó cũng chỉ là [nghĩ] 1 đợt vận động phản đối tự do hóa sắp diễn ra. Nhưng tôi đã ko tin rằng phong trào sv sẽ ko thể trở nên bình ổn, bởi tôi ko hề cho rằng đây là 1 vấn đề rất lớn. Cái tôi lo lắng là những cải cách từ Đại hội lần thứ 13 đặc biệt là đà cải cách chính trị sẽ chịu tổn hại, bởi vì Đặng cho rằng, nguyên nhân của phong trào sv là sự bất lực trường kì trong chống tự do hóa.

    Lúc trước [tôi] đã nói qua, sau khi lễ truy điệu kết thúc, phong trào sv tiến đến hòa hoãn, hơn nữa trong nội bộ sv cũng có những í kiến bất đồng, một bộ phận chủ trương phục khóa (từ ‘lên lớp lại’ dài quá, từ giờ em dùng từ phục khóa), đây chính là cơ hội rất tốt. Chỉ cần chúng ta tiến 1 bước làm tốt công tác, phong trào sv sẽ có thể bình ổn. Nhưng ngay khi xã luận 26 tháng 4 được đưa ra, tình huống lập tức đã phát sinh biến hóa, đã hết sức làm nghiêm trọng hóa mâu thuẫn. Sv bị lời lẽ của xã luận và sự chụp mũ về chính trị kích nộ. Những cái gì mà ‘phản Đảng phản XHCN’, ‘có kế hoạch có mục đích’, sv đã nhiều năm ko nghe thấy những lời lẽ dạng này, những cảm xúc ngay lập tức dâng lên đầy kích động, những người ban đầu có quan điểm ôn hòa cũng bị đẩy sang bên cấp tiến. Sau khi từ Triều Tiên về, tôi đã tìm mấy sv đại học để nói chuyện, họ đều nói về tình huống này. Xã luận 26 tháng 4 vừa in ra, các phương diện bao gồm cả các cơ quan trụ sở đều bất mãn phi thường, ‘Tại sao lại làm 1 việc như thế này?’ Vì lẽ đó ngày 27 tháng 4 lượng người diễu hành trên đường phố tăng lên đến 10 vạn. Do lời lẽ của xã luận 26 tháng 4 tương đối nặng nề, sv nghĩ rằng hành động này có thể sẽ chịu trấn áp, vì vậy có những sv trước khi tuần hành đã viết và gửi lại di ngôn, hay thư li biệt cho gia đình hoặc bạn bè thân thích. Xã luận 26 tháng 4 ko chỉ đã kích nộ sv, cơ quan, đoàn thể, các đảng phái dân chủ (26) nó cũng phổ biến mâu thuẫn. Họ ko hiểu, ko đồng í, thậm chí bất mãn. Họ nghĩ rằng sv quan tâm đến đại sự của đất nước, quan tâm đến vận mệnh của cải cách, nêu ra những vấn đề nóng bỏng của xã hội, là hành động yêu nước đáng quí. Chính phủ ko những ko thể hiện sự quí trọng, và tiến hành hướng dẫn, mà ngược lại lại đứng đối lập với sv, chụp cho họ cái mũ ‘phản Đảng phản XHCN’, và dùng bài xã luận nồng nặc mùi thuốc súng để dọa dẫm họ. Đặc biệt những phần tử trí thức phản ứng càng mạnh mẽ. Chính phủ làm thế này, xã hội càng đồng tình ủng hộ sv. Từ những cuộn phim quay hiện trường có thể thấy, đội ngũ diễu hành lúc đó của sv đi đến đâu, quần chúng 2 bên đường phố liền vỗ tay hoan nghênh, và hô khẩu hiệu ủng hộ, thậm chí có vài người còn gia nhập đội ngũ diễu hành. Thậm chí những cảnh sát phụ trách cản trở việc diễu hành cũng là làm chiếu lệ một chút rồi cho phép đi qua. [Tại] một vài tuyến phong tỏa được bố trí từ đầu, khi đội ngũ sv đi đến nơi, cảnh sát liền nhường đường, sv diễu hành có thể nói ko hề gặp cản trở.

    Lúc đó nhiều lão đồng chí đối với việc sv diễu hành khá là lo lắng. Bởi họ biết Tiểu Bình đã giảng giải bằng 1 bài nói chuyện như thế, [nên] sợ mâu thuẫn trở nên gay gắt, phát sinh sự kiện đổ máu, [họ] liên tục thể hiện mong muốn TƯ kiềm chế, ko muốn động võ. Bành Chân (27) trực tiếp gọi mấy cuộc điện thoại đến phòng làm việc của TƯ, nói vô luận như thế nào cũng đừng động võ, vô luận như thế nào cũng phải kiềm chế, hi vọng TƯ ko làm mâu thuẫn trở nên gay gắt. Lúc đó chỉ có Lí Tiên Niệm (28) sau khi nghe Đặng TB nói chuyện giảng giải, gọi điện thoại cho Tiểu Bình nói: ‘Phải hạ quyết tâm bắt cho ông ta mấy chục vạn người!’ lời nói này ko rõ có chuẩn xác hay ko. Còn có Vương Chấn, ông ấy cũng chủ trương bắt thêm vài người. Đối diện đội ngũ diễu hành hàng chục vạn người, hơn nữa được nhiều lão đồng chí khuyến cáo, dù ban đầu có quyết tâm phân tán những người diễu hành, như các lãnh đạo trong ủy ban thành phố BKinh và những người như Lí Bằng thì cũng đành bó tay. Đây đương nhiên là 1 việc rất tốt. Sv ban đầu nghĩ rằng việc diễu hành có thể bị trấn áp, kết quả ko có sự tình gì phát sinh. Cứ như thế này, sau khi sv tham gia diễu hành về đến trường, liền chúc mừng thắng lợi, vui mừng phấn khởi, càng ngoan cường bạo dạn.

    Do đã truyền đạt bài nói chuyện của đồng chí Tiểu Bình, đã phát hành bài xã luận, hội sv, các tổ chức Đảng Đoàn, hiệu trưởng, thầy giáo, ban đầu đều ra sức ngăn cản sv, kêu gọi họ vô luận thế nào cũng ko được lên phố. Sau khi sv trở về, làm nhiều cán bộ Đảng Đoàn chịu sự chế giễu, họ cảm thấy uất ức, có những sự oán trách, cho rằng đã bị bán rẻ, và đã từ chối làm việc. Cả những người như Trần Hi Đồng cũng có cảm giác này. Ngày 1 tháng 5 thường ủy nghe báo cáo của thành phố Bkinh, Trần Hi Đồng lòng đầy oán khí, nói các cán bộ cơ bản ở các trường cảm thấy đã bị bán rẻ. Tôi phê bình ông ấy: Ai bán rẻ ai?

    Kết quả của cuộc đại diễu hành ngày 27 tháng 4 giải thích như thế một vài việc: ban đầu cho rằng khi xã luận ngày 26 tháng 4 in ra, khi luận điệu ‘phản Đảng phản XHCN’ được định, sv sẽ ko dám hành động, kết quả ko những ko đè nén được [sự tình] xuống, ngược lại sự lộn xộn lại càng lớn hơn. Việc này cho thấy việc dùng lời giải cũ là tổng quát hóa ko giới hạn (vô hạn thượng cương), trong quá khứ rất hiệu nghiệm [nhưng] giờ đã ko còn hiệu nghiệm, đây là thứ 1; thứ 2, vì đã truyền đạt rộng rãi bài nói chuyện 25 tháng 4 của Đặng TB, sv đều biết xã luận 26.4 là Đặng hoàn toàn ủng hộ, nhưng [họ] vẫn liều lĩnh lên phố, việc này lại nói lên dựa vào lãnh đạo có quyền lực tối cao để nói cũng đã ko còn linh nghiệm; thứ 3, biện pháp quản lí việc biểu tình diễu hành mới ban bố của tp BKinh, đã đề xuất những sự quản lí và hạn chế nghiêm khắc, cũng đã ko linh nghiệm, ngang với hết hiệu lực, cảnh sát ngăn cản cũng đã ko hiệu nghiệm. Lúc đó sau khi tôi về đến BK và đã hiểu những tình hình này liền có cảm giác, nếu như ko làm dịu tất sẽ động võ. [Tình thế] hiện tại và trước 27 tháng 4 ko giống nhau, sv trải qua đại diễu hành 27 tháng 4 chuyện gì cũng ko còn sợ nữa. Họ cho rằng chính phủ ko có biện pháp, chính phủ thủ đoạn gì cũng đã đem ra, chỉ còn 1 chiêu xuất động quân đội, nhưng sv lúc đó cho rằng chính phủ ko thể huy động quân đội. Do vậy sự việc sau đó đã khó giải quyết hơn. Tóm lại, xã luận 26.4 đối với toàn thể sự tình BKinh đã gây ra tác dụng rất xấu, đã làm gia tăng độ khó khăn của việc giải quyết vấn đề sau đó.

    Ở trên đã nói, nếu như ko dùng biện pháp đối thoại dẫn dắt, muốn dùng thủ đoạn cường chế để ngăn chặn phong trào sv, trừ phi dùng đến quân đội, còn ko có biện pháp khác. Tôi từ Triều Tiên về qua tp Thẩm Dương, đã nghe báo cáo của Thẩm Dương, họ cũng là đại hội để truyền đạt bài nói chuyện của Đặng, tỉnh ủy đều hoài nghi: giờ vẫn còn dùng loại biện pháp này để hành động sao? Họ nói, sau khi truyền đạt lời nói của Đặng có rất nhiều người chửi Đặng. Do đó sau khi tôi từ Triều Tiên về liền cảm thấy thế cuộc rất nguy hiểm. Sau xã luận 26.4, tất cả các biện pháp khác đều ko còn linh nghiệm, đang tồn tại khả năng phát sinh 1 sự đổ máu qui mô lớn.

    _______________________

    Ghi chú:

    (15) Lí Tích Minh (1926 - ): Người Thúc Lộc Hà Bắc. Có thời kì giữ chức ủy viên bộ chính trị Trung Cộng, thư kí ủy ban thành phố BK. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989 dùng thân phận lãnh đạo BK, đối với việc thúc đẩy dùng vũ lực trấn áp đã gây nên tác dụng đổ thêm dầu vào lửa. Năm 1993 nhậm chức phó ủy viên trưởng của đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc.

    (16) Trần Hi Đồng (1930 - ): Người An Nhạc Tứ Xuyên. Có thời giữ chức ủy viên Quốc vụ viện (tức Hội đồng quốc gia), thị trưởng thành phố BK. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 dùng thân phận lãnh đạo BK, đối với việc thúc đẩy dùng vũ lực trấn áp đã gây nên tác dụng đổ thêm dầu vào lửa. Sau trấn áp Lục Tứ, đã thay mặt Quốc vụ viện phát biểu ‘Báo cáo về tình hình của việc ngăn chặn động loạn và chế ngự bạo loạn phản cách mạng’. 1992 – 1995 giữ chức thư kí ủy ban thành phố BK. 1998 vì tội tham ô bị phạt tù 16 năm.

    (17) Vạn Lí (1916 - ): Người Đông Bình Sơn Đông. Năm 1977 nhậm chức đệ nhất thư kí tỉnh ủy An Huy, thi hành chính sách khoán đến các hộ gia đình đạt được thành công rất lớn. Là nhà lãnh đạo và người ủng hộ quan trọng của việc cải cách mở cửa. 1980 – 1988 giữ chức ủy viên BCT TƯ, thư kí ban thư kí, phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm chủ nhiệm ủy ban nông nghiệp quốc gia. 1988 nhậm chức ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc khóa 7.

    (18) ‘Quan đảo’ là cách dùng từ lưu hành ở TQ trong thập niên 1980, chỉ quan chức (hoặc thân hữu của quan chức) lợi dụng quyền lực, dựa trên những điều kiện đặc thù của hệ thống 2 loại giá cả (giá nhà nước và giá thị trường cùng tồn tại, giá nhà nước thấp, giá thị trường cao) mà mua đi bán lại để kiếm chác lợi lội. Đây là 1loại hình thương nghiệp quốc doanh câu kết tiến hành các hoạt động hủ bại nghiêm trọng thời đó. Sau trấn áp Lục Tứ, hoàn toàn mất đi sự giám sát của dân chúng, hủ bại trở nên trầm trọng, đầu cơ tích trữ ở qui mô nhỏ, dần dần bị những hành vi hủ bại qui mô lớn như ngang nhiên chiếm đoạt tài sản nhà nước, xâm chiếm đất đai, lũng đoạn những ngành công nghiệp có tính chất quan trọng thay thế, từ ‘quan đảo’ cũng theo đó mà dần dần biến mất.

    (19) ‘Phản Đảng phản XHCN’ là có tội, là căn cứ của phong trào ‘Đấu tranh chống phái hữu’ năn 1957 của Trung Cộng. Từ đó luôn luôn vì Trung Cộng mà được thi hành, đã trở thành ‘thiên kinh địa nghĩa’ hiếm lời dị nghị trong xã hội TQ đương đại.

    (20) Dương Thượng Côn (1907 – 1998): Người Đồng Nam Trùng Khánh. 1982 – 1987 nhậm chức ủy viên BCT TƯ, phó chủ tịch kiêm trưởng bí thư thường vụ ủy ban quân sự TƯ. 1988 nhậm chức chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Lúc đó là một nguyên lão có lực ảnh hưởng cực cao trong nội bộ Đảng của Trung Cộng. Trong phong trào sv 1989, Dương TC ban đầu ủng hộ phương châm của Triệu TD, nhưng cuối cùng chuyển sang chọn ủng hộ quyết sách dùng vũ lực trấn áp của Đặng TB.

    (21) Ngày 4 tháng 5 năm 1919, thanh niên sv làm chủ bao gồm thị dân, giới công thương,... đã tham dự những hoạt đông biểu tình như cuộc diễu hành mà bắt đầu ở BK sau đó lan ra khắp toàn quốc, nêu yêu sách, bãi khóa, bãi công. Sự kiện khởi nguồn là trong khi cử hành hội nghị hòa bình Paris sau thế chiến I, các nước phương Tây đã đem quyền lợi của Đức ở Sơn Đông chuyển nhượng cho Nhật Bản. Lúc đó chính phủ Bắc Dương ở trước mặt các nước phương Tây trong hội nghị hòa bình Paris đã thể hiện sự nhu nhược, kích phát sự phẫn nộ của dân chúng. Phong trào Ngũ Tứ ảnh hưởng sâu xa, là chỗ ngoặt khi những trí thức tinh anh phái cấp tiến của TQ xa lánh mô thức phương Tây, dần dần tiếp thu những í tưởng cách mạng của Nga, giúp Trung Cộng khi cuối cùng giành được chính quyền thiết lập nền tảng tư tưởng cùng xã hội.

    (22) Mao Mao (1950 - ): Mao Mao là tên thuở bé của con gái thứ 3 của Đặng TB là Đặng Dung. Sau này nhậm chức phó hội trưởng hiệp hội TQ quốc tế hữu hảo.

    (23) Người phác thảo của bài nói chuyện nhân ngày thanh niên Ngũ Tứ là viện trưởng viện khoa học xã hội Hồ Thắng, Bảo Đồng là người sửa chữa hiệu đính.

    (24) Bảo Đồng (1932 -) Người Hải Ninh Chiết Giang. Từng nhậm chức ủy viên TƯ Trung Cộng, bí thư chính trị thường ủy BCT, chủ nhiệm phòng nghiên cứu cải cách thể chế chính trị TƯ. Trước 1987 trong thời gian Triệu TD đảm nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện, Bảo nhậm chức bí thư của Thủ tướng Quốc vụ viện, kiêm phó chủ nhiệm ủy ban cải cách thể ché kinh tế quốc gia. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, Bảo Đồng phản đối Đặng TB dùng quân đội trấn áp sv, bị giam giữ phi pháp trong nhà giam Tần Thành. 1992 bị xử tù có thời hạn 7 năm.

    (25) ‘Lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ là hạt nhân của tư tưởng Mao TĐ, cũng là ‘chỉ đạo tư tưởng cơ bản’ của việc ông ta thi hành quyết sách. Cái gọi là đấu tranh giai cấp, là chỉ ‘đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản’, theo tư tưởng chỉ đạo này, tính chế độ yêu cầu toàn dân dưới sự lãnh đạo và thực hành chế độ công hữu của ĐCS, [phải] liên tục tìm kiếm và trừ tiệt ‘giai cấp tư sản’. ‘Lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ là nguồn gốc về mặt chính sách của nội loạn cũng như tai họa ở TQ trong thời Mao TĐ.

    (26) TQ ngoại trừ ĐCSTQ, còn có 8 ‘đảng phái dân chủ’, tức ủy ban CM Quốc dân đảng TQ (dân cách), TQ dân chủ đồng minh (dân minh), hội dân chủ kiến quốc TQ (dân kiến), hội xúc tiến dân chủ TQ (dân tiến), TQ công nông dân chủ đảng (nông công đảng), TQ trí công đảng, Cửu Tam Học Xã, Đài Loan dân chủ tự trị đồng minh (Đài minh). ‘Các đảng phái dân chủ’ là những vật phụ thuộc vào quyền lực tuyệt đối của Trung Cộng.

    (27) Bành Chân (1902 – 1997): Người Khúc Ốc Sơn Tây. Nguyên lão Trung Cộng. Trường kì đảm nhiệm chức ủy viên BCT, thư kí thường vụ ban thư kí. Trong CMVH hạ đài. 1979 tái nhậm chức, làm ủy viên BCT TƯ, phó ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc. 1983 – 1988 giữ chức ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc.

    (28) Lí Tiên Niệm (1909 – 1992): Người Hoàng An Hồ Bắc. 1954 – 1980 giữ chức phó thủ tướng Quốc vụ viện; trước CMVH là trợ thủ số 1 của Trần Vân. trong CMVH khi Trần Vân đứng sang bên, liền do ông ta kế tục phụ trách công tác ở các mặt tài chính, mậu dịch và kinh tế. 1977 – 1987 nhậm chức thường ủy BCT TƯ; 1983 nhậm chức chủ tịch nước CHND TH, sau 1988 nhậm chức chủ tịch hội đồng hiệp thương chính trị toàn quốc; là 1 nguyên lão có ảnh hưởng trong nội bộ Đảng lúc đó. Ông ta về mặt chính trị và kinh tế đều phản đối tiến hành cải cách. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, ông ta ra sức ủng hộ dùng vũ lực trấn áp sv và thị dân.

    (29) Vương Chấn (1908 – 1933): Người Lưu Dương Hồ Nam. Năm 1982 nhậm chức hiệu trưởng trường Đảng TƯTC; năm 1985 làm phó chủ nhiệm ủy ban cố vấn TƯTC; 1988 – 1993 làm phó chủ tịch nước; là 1 nguyên lão có ảnh hưởng trong nội bộ Đảng TC trong thời kì Đặng TB nắm quyền. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989, Vương Chấn chủ trương dùng vũ lực trấn áp sv và thị dân.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi