Phần I - Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989 (phần 1)

  • Bởi tqvn2004
    03/12/2009
    0 phản hồi

    1. Phong trào sinh viên (SV) Bát Cửu (89) bắt đầu nổi lên

    7 năm trước (1), tôi sợ quên một số chuyện, đã đem một vài chuyện của Lục Tứ viết sang một thứ, xem như là để lại một chút ghi chép! Giờ tôi theo tài liệu này mà kể. Trong đó một số chuyện trong phát ngôn (3) của tôi tại hội nghị toàn thể ban chấp hành TƯ khóa 13 lần thứ 4 (2) đã giải thích rồi, một số chuyện chưa giải thích, tại đây sẽ cùng nhau bàn đến.

    Đầu tiên nói về nguyên nhân của phong trào SV, phong trào SV ban đầu là do xoay quanh việc tưởng niệm Diệu Bang (4) mà khởi phát. Ngày 15 tháng 4 năm 1989 Diệu Bang từ trần, sau khi việc này được thông báo rộng rãi, chiều hôm đó một số SV đại học tại Bắc Kinh liền tự phát tổ chức hoạt động tưởng niệm. Sau đó liền đi lên trên phố. Với lại số người càng ngày càng đông. Lúc này đúng là có một vài SV thể hiện sự kích động, đã nói một vài lời quá khích, nhưng nhìn chung mà nói [họ] khá chú ý đến trật tự, đã ko phát sinh sự việc vượt ra ngoài qui định. Chiều ngày 18, 19 tháng 4, có vài trăm người đi đến Tân Hoa Môn (5). Tôi đã điều lực lượng của Bộ Công an đến xem xét. Cái gọi là sự kiện SV tấn công Tân Hoa Môn, trên thực tế những Sv ở đằng trước liên tục hô: phải giữ kỉ luật, ko được phạm sai lầm! Chủ yếu là những người vây quanh để xem ở phía sau rất đông. Những SV ở phía trước nêu ra yêu cầu à, đòi gặp người nào đấy à, những người phía sau đều dồn lên đằng trước, đẩy lên đằng trước, trật tự có một chút hỗn loạn. Sau đó Sv tự tổ chức đội giữ trật tự, đã ngăn cách Sv với những người vây quanh để xem.

    Ngày 22 tháng 4 lúc lễ truy điệu (6) bắt đầu, quảng trường Thiên An môn có vài vạn sv tập trung, việc này đã được đồng ý (7). Tôi ở bên trong Đại hội đường nhân dân cử hành lễ truy điệu, sinh viên ở bên ngoài tưởng niệm, bố trí các loa công suất lớn ở trên cao cho họ, sinh viên bên ngoài có thể nghe được tình huống khởi đầu lễ truy điệu bên trong Đại hội đường nhân dân.

    Đây chính là tình huống trước [khi xảy ra] phong trào Sinh viên mà bài xã luận ngày 26 tháng 4 công bố.

    Tại sao Sv đối với việc Diệu Bang từ trần lại tưởng niệm mãnh liệt như vậy? Việc này có những nguyên nhân phức tạp. Thứ 1, hình tượng tốt đẹp của Diệu Bang. Ông ấy đã sửa đúng lại rất nhiều án oan sai nhầm lẫn, chủ trương cải cách mở cửa, đặc biệt là ông ấy làm việc thanh liêm. Lúc đó ý kiến của người dân đối với hủ bại tương đối nhiều, [họ] mượn việc tưởng niệm Diệu Bang để thể hiện sự bất mãn đối với hủ bại. Thứ 2, bất mãn, tức giận đối với cách mà Diệu Bang phải hạ đài năm 1987. Một mặt đối với việc đấu tranh chống tự do hóa [họ] ko bằng lòng, có sự chống đối, đồng thời đối với phương thức thay thế lãnh đạo như cách Diệu Bang hạ đài [họ] khó mà chấp nhận, tóm lại là vì Diệu Bang mà thể hiện sự bất bình. Thứ 3, sau đề xuất chỉnh đốn việc quản lí mùa thu năm 1988 (8), cải cách mở cửa co lại toàn diện, cải cách chính trị ko thấy động tĩnh, cải cách kinh tế đình trệ ko tiến lên thậm chí còn thụt lùi. Sv đối với loại tình hình này ko bằng lòng, dùng việc tưởng niệm Diệu Bang để bày tỏ nguyện vọng đối với việc sâu sắc hóa cải cách. Sv trển phố lúc đó đại thể là 3 bộ phận: hầu hết thuộc về loại tình huống đã nói ở trên; cũng có vài người là vì ko bằng lòng với công tác của chúng tôi, [nên] mượn đề tài để nói chuyện của mình, làm ầm ĩ một chút; đương nhiên, cũng thực sự có một số ít người ‘chống Đảng chống CNXH’, muốn cố ý làm sự tình trở nên rất huyên náo.

    Lúc đó tại hội đồng thường ủy Bộ Chính trị TƯ tôi nói, TƯ lo việc tang lễ, Sv tưởng niệm, chúng tôi ko thể ko cho phép. Ko thể nói chúng tôi lo việc tang lễ, ko cho Sv tưởng niệm, việc này ko có đạo lí. Do đó tôi chủ trương ngoài đánh nhau, đập phá, cướp, đốt phá, tấn công 5 loại hành vi phạm pháp phải theo luật mà trừng phạt, bình thường phải áp dụng biện pháp hòa hoãn là mở đường.

    Sau khi lễ truy điệu kết thúc, tôi đã đề xuất 3 ý kiến:

    (1) Kết thúc lễ truy điệu, sinh hoạt xã hội nên tiến vào quĩ đạo bình thường, đối với việc sv diễu hành phải tiến hành khuyên can, để họ lên lớp lại.

    Lúc đó tôi nghĩ sv bất kể là động cơ gì, nói chung đều là lợi dụng cái chủ đề tưởng niệm Diệu Bang này. Lễ truy điệu đã kết thúc, họ cũng đã tham gia, thì ko còn chủ đề gì nữa, [họ] nên lên lớp lại.

    (2) Đối với sv áp dụng phương châm mở đường, khai triển nhiều cấp độ, nhiều con đường và nhiều hình thức đối thoại, liên lạc với nhau, trưng cầu ý kiến. Sv, giáo viên, các phần tử trí thức có ý kiến gì đều có thể lên tiếng.

    (3) Bất kể như thế nào đều phải tránh những sự đổ máu, nhưng đối với những hành vi phạm pháp là đánh nhau, đập phá, cướp, đốt phá, tấn công nên theo luật mà xử phạt.

    Những ý kiến này của tôi Lí Bằng (9) và các vị thường ủy (10) đều đã chấp nhận, hơn nữa đã hình thành văn bản. Trước đó những phân tích này cùng những phương châm được định xuống, đều đã dùng hình thức văn kiện thông báo cho các địa phương và các bộ phận của chính phủ biết. Sau đó việc giảng giải về 3 ý kiến là tôi trước khi sang Triều Tiên (11) đã giảng giải. Lễ truy điệu Diệu Bang vừa kết thúc, khi những lãnh đạo chủ chốt của TƯ cùng nhau xuống thang máy tôi đã cùng họ bàn luận, sau đó tôi lại chính thức bàn về những ý kiến này. Chiều ngày 23 tháng 4, lúc tôi rời thủ đô sang Triều Tiên, Lí Bằng đến ga tiễn, ông ấy hỏi tôi còn có thêm ý kiến gì. Tôi nói chính là 3 ý kiến đó. Sau khi nghe [tôi] nói, Lí Bằng đã đem 3 ý kiến này báo cáo Đặng (12), Đặng cũng đồng ý.

    Lúc đó trong thường ủy ko có ý kiến bất đồng, chí ít ko có ý kiến bất đồng nào rõ ràng. Tôi chỉ nhớ 1 việc, đêm ngày 19 tháng 4 Lí Bằng đột nhiên điện thoại cho tôi, chất vấn tôi: Sv hiện tại đang tấn công Tân Hoa Môn, sao vẫn ko áp dụng biện pháp gì? Tôi lúc đó trả lời ông ấy: Kiều Thạch (13) phụ trách tuyến đầu, có đủ các loại dự án, ông ấy có thể xử lí trong những tình huống khẩn cấp. Trên thực tế đến sáng sớm ngày 20, đại bộ phận Sv tụ tập tại Tân Hoa Môn đã giải tán rồi, [với] một số ít người chưa đi thì do công an dọn dẹp hiện trường, cưỡng chế họ lên xe, gửi về trường. Đây chính là tình hình phong trào sinh viên và phương châm của thường ủy lúc đó, trước lúc tôi sang thăm Triều Tiên.

    _______________________

    Ghi chú:

    (1) Căn cứ nội dung mà phân tích, bộ băng ghi âm này được ghi âm vào khoảng năm 2000. ‘7 năm trước’ là chỉ năm 1993.

    (2) Hội nghị toàn thể lần thứ 4 ban chấp hành TƯ khóa 13 của Trung Cộng triệu tập tại Bắc Kinh từ ngày 23 đến ngày 24 tháng 6 năm 1989. Đây là Trung Cộng sau sự kiện trấn áp ‘Lục Tứ’, để củng cố chính quyền, đã đem việc ‘hợp pháp hóa’ trấn áp làm mục đích mà cử hành một hội nghị toàn thể ban chấp hành TƯ. Trên hội nghị Lí Bằng đã viết ‘Báo cáo về những sai lầm mà đồng chí Triệu Tử Dương phạm phải trong động loạn chống Đảng chống CNXH’. Hội nghị toàn thể đã triệt tiêu các chức vụ Tổng thư kí, thường ủy Bộ Chính trị, ủy viên, ủy viên TƯ và Phó chủ tịch thứ 1 quân ủy của Triệu Tử Dương, quyết định ‘tiếp tục thẩm tra’ đối với vấn đề Triệu Tử Dương; đã bãi miễn các chức vụ thường ủy Bộ Chính Trị, ủy viên Bộ Chính trị, thư kí ban thư kí TƯ của Hồ Khải Lập; đã bãi miễn chức vụ thư kí ban thư kí TƯ của Nhuế Hạnh Văn, [và] Diêm Minh Phục.

    (3) Xem phụ lục 4 ‘Phát ngôn tự biện giải về sự kiện Lục Tứ’.

    (4) Hồ Diệu Bang (1915 – 1989): người thành phố Lưu Dương tỉnh Hồ Nam. Từ 1980 đến 1987 nhậm chức Tổng thư kí TƯTC. Cuối những năm 70 thế kỉ trước, Hồ DB đã phát động ‘Đại thảo luận về tiêu chuẩn chân lí’, chủ trì ‘Sửa lại cho đúng những vụ án oan sai nhầm lẫn’, đã mở ra hoàn cảnh chính trị và xã hội của việc cải cách mở cửa. Trong mắt Đặng TB và các nguyên lão khác trong Đảng, Hồ DB về mặt chính trị quá khoan dung đối với những người và sự việc có khuynh hướng tự do chủ nghĩa. Sau khi mất đi sự ủng hộ của các nguyên lão, trên thực tế Hồ đã ko thể làm việc được nữa; tháng 1 năm 1987 [Hồ DB] bị ép phải từ bỏ chức Tổng thư kí. Ngày 15 tháng 4 năm 1989 Hồ DB từ trần, đã dẫn đến phong trào Sv biểu tình mà hầu như toàn thể Sv đại học ở Bắc Kinh tham gia, hơn nữa được sv đại học trên toàn quốc và thị dân Bắc Kinh ủng hộ rộng rãi, kéo dài trọn vẹn 50 ngày, cuối cùng Đặng TB điều vài chục vạn quân trấn áp đẫm máu.

    (5) Tân Hoa Môn là cổng chính của khu Trung Nam Hải của trung ương Trung Cộng, nằm trên đại lộ Trường An phía Tây của Bắc Kinh. Tên ban đầu là Bảo Nguyệt Lâu, được xây dựng trong đời Càn Long nhà Thanh.

    (6) Ngày 22 tháng 4 năm 1989, lễ truy điệu Hồ DB do Trung Cộng chính thức tổ chức tại Đại hội đường nhân dân ở Bắc Kinh cử hành. Lễ truy điệu do chủ tịch nước Dương Thượng Côn chủ trì, Tổng thư kí TƯTC Triệu Tử Dương đọc điếu văn.

    (7) Xem đoạn văn sau. Triệu TD: ‘Lúc đó tại hội đồng thường ủy Bộ Chính trị TƯ tôi nói, TƯ lo việc tang lễ, Sv tưởng niệm, chúng tôi ko thể ko cho phép. Ko thể nói chúng tôi lo việc tang lễ, ko cho Sv tưởng niệm, việc này ko có đạo lí.’

    (8) Tháng 9 năm 1988, hội nghị toàn thể của [ban chấp hành TƯ] Trung Cộng khóa 13 đưa ra quyết định ‘kiểm soát hoàn cảnh kinh tế, chỉnh đốn trật tự kinh tế, sâu sắc hóa 1 cách toàn diện việc cải cách’.

    (9) Lí Bằng (1928 - ): Con trai của Lí Thạc Động. Người Thành Đô Tứ Xuyên. Hồi trẻ du học Liên Sô, nhân viên công trình điện lực, sau CMVH nhậm chức phó bộ trưởng Bộ Thủy điện. Năm 1983 làm Phó thủ tướng Quốc vụ viện; năm 1985 nhậm chức ủy viên Bộ Chính trị TƯ, thư kí ban thư kí; năm 1987 nhậm chức thường ủy Bộ chính trị, năm 1988 đến 1998 làm Thủ tướng. Về mặt chính trị Lí nghe theo các nguyên lão bảo thủ trong Đảng; về kinh tế nghe theo Diêu Y Lâm. Trong thời gian của sự kiện ‘Lục Tứ’ năm 1989, Lí Bằng đã chủ trương cố gắng và thúc đẩy trấn áp bằng vũ lực.

    (10) ‘Thường ủy’ chỉ thường ủy Bộ Chính trị TƯ khóa 13 của Trung Cộng. Tất cả có 5 người: Triệu Tử Dương, Lí Bằng, Kiều Thạch, Hồ Khải Lập, Diêu Y Lâm.

    (11) Hạ tuần tháng 4 năm 1989, Triệu TD chiếu theo nhật trình đã được song phương đồng ý từ trước, dẫn đầu đoàn đại biểu đến thăm Triều Tiên. Đoàn đại biểu rời Bắc Kinh chiều ngày 23 tháng 4, sáng ngày 30 tháng 4 về đến Bắc Kinh.

    (12) Đặng Tiểu Bình (1904 – 1997): Người Quảng An Tứ Xuyên. Từ năm 1977 – 1987 làm thường ủy Bộ Chính trị TƯ; từ năm 1981 đến 1990 đảm nhiệm chức Chủ tịch hội đồng ủy viên quân sự TƯTC; là nguyên lão Trung Cộng có quyền lực tối cao tại Trung Quốc lúc đó (được gọi là ‘Hạt nhân đời thứ 2 của Đảng’). Đặng TB ở phương diện kinh tế, là người ủng hộ mạnh mẽ của việc cải cách, vì lực lượng cải cách trong Đảng của những người như Triệu TD đã cung cấp những sự ủng hộ ko thể thiếu được; ở phương diện chính trị ông ấy giữ vững đường biên một đảng chuyên chế, là người phát động ‘chống tự do hóa’ nhiều lần trong thời kì cải cách; từ trấn áp phong trào bức tường dân chủ ở Tây Đan Bắc Kinh năm 1979, đến trấn áp ‘Lục Tứ’ năm 1989, đều là do ông ấy tự thân đưa ra quyết sách. Khuynh hướng cá nhân của Đặng TB đối với chính trị, kinh tế và xã hội Trung Quốc sau khi Mao TĐ chết có ảnh hưởng sâu sắc.

    (13) Kiều Thạch (1924 - ): Người Định Hải Chiết Giang. Năm 1985 nhận chức ủy viên Bộ Chính trị TƯTC, thư kí ban thư kí, thư kí ủy ban chính trị và pháp luật. Năm 1986, kiêm nhiệm chức phó Thủ tướng. Năm 1987 nhậm chức thường ủy Bộ Chính trị TƯTC, thư kí ủy ban kỉ luật TƯ. [Trong] sự kiện ‘Lục Tứ’ năm 1989 thái độ trung lập.

    (14) Xã luận 26.4: Xã luận ngày 26.4.1989 của Nhân Dân Nhật Báo, tiêu đề là ‘Phải có lập trường quan điểm rõ ràng phản đối động loạn’.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi