Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương

  • Bởi tqvn2004
    03/12/2009
    0 phản hồi

    Cựu Uy viên TCTƯ, Bí thư chính trị thường ủy của Bộ Chính trị Bảo Đồng

    Triệu Tử Dương đã để lại một bộ băng ghi âm. Đây chính là di ngôn của ông ấy.

    Di ngôn của Triệu Tử Dương thuộc về toàn thể nhân dân TQ. Dùng hình thức văn tự để truyền bá cho mọi người là chủ trương của tôi, sự tình do tôi chủ trì, tôi đối với việc này chịu trách nhiệm về mặt chính trị.

    Những giá trị của hồi ức ghi âm của Triệu Tử Dương, cung cấp cho nhân dân và công luận. Nội cung của nó quan hệ đến 1 giai đoạn lịch sử mà [vẫn] đang tiếp tục ảnh hưởng đến vận mệnh hiện tại của người TQ. Chủ đề của giai đoạn lịch sử này là cải cách. Ở đại lục, hiện giờ, giai đoạn lịch sử này là đối tượng bị phong tỏa và bóp méo. Bàn luận về bối cảnh lịch sử của giai đoạn này, có lẽ đối với việc [giúp] những độc giả ít tuổi hiểu cuốn sách này có thể có điểm hữu dụng.

    TQ vì sao mà không thể không cải cách?

    Từ Cách mạng Tân Hợi, gần 100 năm trước, dù hành trình khó khăn, TQ cuối cùng đang hướng về con đường hiện đại hóa, đang chầm chậm tiến hóa, phát triển. Sự xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, đã cản trở quá trình này của nó, nhưng không thể đảo ngược con đường của TQ.

    TQ sau khi nội chiến cơ bản đã kết thúc năm 1949, đã có thời cơ mới.

    Ban đầu, làm sao tuần tự tiến từng bước, làm sao thực hiện hiện đại hóa, có phải xây dựng XHCN hay ko, đều cần phải nằm trong phạm vi được phép thảo luận, tranh luận. Chỉ cần thực sự chiếu theo Cương lĩnh chung do toàn thể Hội nghị hiệp thương nhân dân TQ khóa 1 ngày 29 tháng 9 năm 1949 đặt ra mà làm, thực sự thực hiện Tổng tuyển cử và Dân cày có ruộng, thì rất có thể. Thực sự giải quyết được 2 vấn đề lớn này , [thì] 1 vài vấn đề khác về phương diện chế độ xã hội TQ, đều không khó giải quyết.

    Hoàn toàn đảo ngược phương hướng phát triển của TQ, là 2 phong trào có tên Cải tạo XHCN từ 1953 – 1958 và Chống phái hữu năm 1957. 2 phong trào này hỗ trợ lẫn nhau. Phong trào đầu chĩa mũi gươm vào sự sở hữu, là mô phỏng theo phưong thức trong chương 11 và chương 12 của quyển Lịch sử Đảng CS Liên Sô, quyết định thông qua tập thể hóa, quốc hữu hóa, kế hoạch hóa, [để] đạt được mục đích tiêu diệt chế độ tư hữu và kinh tế thị trường. Phong trào sau là Trung Cộng dựa trên ý chí của Mao Trạch Đông, do Đặng Tiểu Bình tổ trưởng tiểu tổ lãnh đạo việc chỉnh đốn tác phong và chống phái hữu của TCTƯ chỉ huy, trong 5 trăm vạn cái tên của các phần tử trí thức trên cả nước, đã xác định ra 15 vạn ‘phần tử phái hữu’. 2 phong trào này là bước ngoặt trong lịch sử nắm quyền của Trung Cộng, đã mở ra con đường đi ngược lại dân chủ và pháp chế.

    Đã bước trên con đường tự gọi là ‘Chủ nghĩa xã hội’ này, chính là đã tiêu diệt thị trường, đã tiêu diệt Dân cày có ruộng, cũng đã tiêu diệt tự do, đồng thời cũng đã hủy hoại nhiều truyền thống tốt đẹp đã được truyền từ đời này sang đời khác của dân tộc Trung Hoa. Đối mặt với việc kiến thiết, loại ‘Chủ nghĩa xã hội’ này không có điểm gì tốt đẹp đáng để khen ngợi, [nó] chỉ có thể duy trì nhân dân trăm họ ở mức độ ‘ít người chết đói, nhiều người đói nhưng không chết’. Trong thời Mao Trạch Đông, có hộ khẩu thành thị, thì mới có thể có sự đảm bảo về phiếu tiêu dùng, như cư dân Thượng Hải và Bắc Kinh, hạn ngạch của phiếu tiêu dùng là khoảng 1 ngày [được] gần một cân lương thực, khoảng 3 ngày thì có thể ăn 1 lạng thịt, khoảng 1 năm thì có thể mua vải đủ để may một bộ quần áo; đối với cư dân nông thôn [vốn] chiếm 80% tổng dân số, bao gồm cả những thanh niên trí thức bị bức bách phải ‘tự nguyện’ lên núi xuống nông thôn, Đảng và Quốc gia muốn giúp nhưng không thể làm gì được, [nên] mọi người chỉ có thể ‘tự lực cánh sinh’, tự sinh tự diệt.

    ‘Chủ nghĩa xã hội’ của thời Mao Trạch Đông khiến người TQ không chỉ ai ai cũng nghèo đói, mà còn đi ngược lại ước muốn thực hiện hiện đại hóa trong hơn 1 trăm năm tới của hồi đó, quá lệch quá xa.

    Sau khi MTĐ qua đời, người kế vị do đích thân ông ấy chỉ định là Chủ tịch Đảng Hoa Quốc Phong không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố sự thật, [rằng] ‘nền kinh tế quốc dân đang bên bờ của sự sụp đổ’. Nếu mọi việc cứ tiếp tục như thế, sẽ không thể duy trì quốc gia được nữa, đây chính là bối cảnh không cải cách không xong của TQ.

    Trong đơn thuốc được lãnh đạo Đảng và đất nước kê lúc đó không có cải cách

    Lối ra ở đâu? Cựu cận vệ của Mao, phó chủ tịch Đảng Uông Đông Hưng nói, mọi quyết định của Mao chủ tịch, phải vĩnh viễn chấp hành, từ đầu đến cuối ko được thay đổi. Chủ tịch Đảng Hoa Quốc Phong cũng theo ông ấy nói như vậy.

    Trong Đảng CSTQ lúc đó, người có quyền lực về kinh tế có uy tín cao nhất, là Trần Vân. Ông ấy 30 tuổi đã được vào Bộ Chính trị, so với Đặng Tiểu Bình sớm hơn 20 năm. Ông ấy bắt đầu quản lí kinh tế là ở Duyên An. Trước khi Mao phát động ‘Đại nhảy vọt’, Trần là phó chủ tịch nước thứ nhất, tổng quản về kinh tế toàn quốc. Mao nghi ngờ là ông ấy quá thực tế và thực dụng, đã bảo ông ấy đứng sang một bên. Mao tuyên bố tự mình làm chủ soái, bổ nhiệm Đặng Tiểu Bình làm phó soái, luyện sắt thép trên diện rộng, rút cuộc đã chịu tổn thất. Giờ Mao đã chết, đơn thuốc Trần Vân kê ra cho kinh tế TQ là ‘điều chỉnh’, chỉnh sửa sự mất cân bằng về tỉ lệ.

    Đây là sự kết tinh kinh nghiệm thực tiễn của Trần Vân. ‘Đại nhảy vọt’ đã làm chết đói vài ngàn vạn nông dân, Năm 1962 chính là nhờ vào Trần Vân ‘điều chỉnh’ các chỉ tiêu sản xuất lương thực, sắt thép,... mà mới có thể chỉnh đốn tàn cục. Trần Vân phản đối sự chỉ huy mù mờ của Đảng, tuy nhiên không phản đối sự lãnh đạo của Đảng. Từ việc một đảng lãnh đạo ở mặt chính trị, đến việc kế hoạch hóa công hữu hóa toàn bộ ở mặt kinh tế, thống nhất thu mua và tiêu thụ lương thực, vải và dầu, Trần Vân không chỉ ko phản đối, mà [chúng] thậm chí còn là những quy chế ông ấy tự mình làm việc siêng năng kiến lập nên. Bỏ đi chế độ này của Mao, [là] ngang với bỏ đi bản thân Trần Vân.

    Đối với phân tích của Trần Vân ko thể đơn giản hóa. Ông ấy bảo vệ chế độ quốc hữu, nhưng ko bảo vệ công xã nhân dân; ông ấy thích kinh tế kế hoạch, nhưng ko thích những chỉ tiêu xa rời thực tế; ông ấy chủ trương chính phủ làm chủ, nhưng cho phép thị trường làm phần bổ sung (‘Đại tập thể, tiểu tự do’); ông ấy nghĩ mức độ tự do kinh tế phải như 1 con chim bị nhốt trong lồng, nhưng phản đối đem nó nắm trong tay; ông ấy tin tưởng người anh cả lâu năm Liên Sô, nhưng ko tin tưởng chủ nghĩa đế quốc phương Tây; trong thời kì ‘tự lực cánh sinh’, ‘ko ăn lương thực nhập khẩu’ đó, ông ấy dám đứng thẳng lưng làm chứng, ‘Tôi nghe được Mao chủ tịch nói, lương thực có thể nhập khẩu’, một câu nói, ngay lập tức đem tính chất chủ nghĩa xét lại của ‘lương thực nhập khẩu’, sửa lại kết luận sai thành yêu cầu hợp lí của tư tưởng Mao Trạch Đông; ông ấy bảo vệ việc tập trung thống nhất sự lãnh đạo của Đảng CS, nhưng đối với việc Mao Trạch Đông làm trái quy định và tiêu chuẩn của Đảng thì không thích. Những điều này, Triệu Tử Dương trong hồi ức đều có ghi chép, đem công đạo hoàn lại cho lịch sử.

    Một vị nguyên lão uy tín danh vọng cực cao khác, là Đặng Tiểu Bình. Đặng là thân tín của Mao. Bởi Mao chỉ định Lưu Thiếu Kì làm người kế vị duy nhất, Đặng tại trước CMVH mới làm trợ thủ của Lưu. Giai đoạn đầu CMVH, quần chúng nhân dân ko hiểu rõ nội tình nhầm Đặng và Lưu là số một [và] đem ra bàn luận, nhưng Mao trong lòng minh bạch, không coi Đặng cùng Lưu như vậy, định tội rất nặng. Mao lúc về già ý đồ thu xếp cho Chu Ân Lai, Đặng khước từ đi cùng Chu, hành động này mới [thực sự] làm mất sự sủng tín của Mao. Giữa CMVH Đặng lại một lần nữa bị giáng chức, ‘càng [bị] phê phán càng được ưa chuộng’, việc này đã không hạ thấp mà lại nâng cao hình tượng của ông ấy trong mắt người dân.-- Có lẽ, Đặng Tiểu Bình có thể trở thành người lãnh đạo việc cải cách Mao Trạch Đông thể chế chăng?

    Nhưng đơn thuốc do Đặng Tiểu Bình lúc đó kê ra, cũng không phải là cải cách, mà là ‘chỉnh đốn’. Chỉnh đốn, chính là chỉnh đốn các xí nghiệp, chỉnh đốn các ban nhóm lãnh đạo, thay thế những cán bộ không phục tùng lãnh đạo, dùng bàn tay sắt đưa vào thực hành những quy chế điều lệ và kỉ luật tổ chức đã được thiết lập từ trước, dùng bàn tay sắt để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch quốc gia. Nói một cách ngắn gọn, ko phải bỏ đi mà lại là củng cố thể chế của Mao. Chỉnh đốn là điểm mạnh của Đặng Tiểu Bình. Thời kì sau CMVH, Mao chủ tịch bảo Nhóm 4 người nắm cách mạng, bảo Đặng Tiểu Bình nắm sản xuất, Đặng dù ko hiểu kinh tế, nhưng dùng phương pháp ‘chỉnh đốn’, vẫn cứ đem sản xuất đi lên.

    Ưu điểm của Đặng Tiểu Bình là thông minh tháo vát. Ông ấy ko hồ đồ, ko viển vông. Ông ấy trong tư tưởng đã minh bạch từ sớm, [rằng] một hệ thống kinh tế kế hoạch CNXH đó cũng ko cách nào cứu vãn sự sụp đổ kinh tế, có lẽ phải thay chuyển đổi rồi hướng đến kinh tế thị trường cầu cứu. Nhưng bản thân ông ấy ko thể mạo hiểm phạm vào tội ‘làm loạn kinh tế’, càng ko thể mạo hiểm phạm vào tội ‘chống CNXH’. Sau cùng, kinh tế ko phải là sở trường của ông ấy, ông ấy là người làm chính trị, phải đứng vững về mặt chính trị. Tháng 3 năm 1979, ông ấy đã phát biểu 1 bài nói chuyện được đưa vào sử sách là ‘Kiên trì 4 hạng mục nguyên tắc cơ bản’: kiên trì con đường CNXH, giai cấp vô sản chuyên chính, sự lãnh đạo của Đảng CS, tư tưởng Marx Le[nin] Mao. Đây chính là con đường chính trị của ông ấy. Một năm sau, ông ấy với khí phách của lãnh tụ toàn Đảng, đã phát biểu xa hơn một bước bao phủ cương lĩnh của thập kỉ 80 là ‘Hoàn cảnh và những nhiệm vụ hiện tại’, ông ấy chỉ dẫn đất nước, bàn về quốc tế, bàn về Đài Loan, trọng điểm là bàn về xây dựng hiện đại hóa. Làm sao hiện đại hóa vậy? Đọc bài văn lớn dài 34 trang trong ‘Đặng Tiểu Bình văn tuyển’ tập 2 chương đó một lần là rõ ràng ngay lập tức. Đặng Tiểu Bình kê ra 4 vị thuốc: 1, nhanh hơn tiết kiệm hơn; 2, ổn định đoàn kết; 3, gian khổ phấn đấu; 4, vừa hồng vừa chuyên. Đối diện với cục diện rối rắm bị bỏ rơi sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình đã dùng hết nỗ lực của một nhân viên làm công tác chính trị, ông ấy tăng cường lãnh đạo, ông ấy cổ vũ sĩ khí, nhưng cho đến tháng 1 năm 1980, trong cương lĩnh thập niên 80 của ông ấy vẫn chưa có cải cách thể chế.

    Lịch sử sau này chứng minh, cải cách chính là bỏ đi thể chế của Mao Trạch Đông. Không cải cách thì chỉ có thể gặp thất bại trong thể chế của Mao, không cải cách là một con đường đi đến chỗ chết. Tuy nhiên những lãnh đạo Đảng và NN lúc đó, từ Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng đến Trần Vân, Đặng Tiểu Bình, trong những đơn thuốc họ kê ra lúc đó, đều ko có cải cách.

    Tứ Xuyên trong việc tìm kiếm con đường cải cách

    Tìm kiếm con đường cải cách thể chế, làm sao thay đổi, là cực kì trọng yếu. Càng trọng yếu hơn là, rốt cuộc thay đổi cái gì?

    Bao gồm Đặng Tiểu Bình và Trần Vân, lúc đó ai cũng đều nói ko rõ ràng về cái được gọi là ‘cải cách thể chế’. Trước khi tiến hành thí điểm cải cách thể chế kinh tế tại Tứ Xuyên, trong lãnh đạo TƯ ko có một ai nói được rõ ràng (hoặc không muốn nói cho rõ ràng) ‘cải cách thể chế’ nên bỏ đi những gì, nói qua nói lại, chỉ là ‘tập trung hay phân tán’, ‘phân tán hay tập trung’. Ở đây có một vấn đề nguy hiểm.

    Tuy nhiên, Tứ Xuyên đã nghĩ rõ ràng. Không những đã chỉ nói, mà còn bắt tay vào làm, bắt đầu làm một cách chắc chắn. Năm 1976, Tứ Xuyên bắt đầu chính sách mở cửa. Từ năm 1978, từ lĩnh vực chính sách mở rộng đến lĩnh vực thể chế, đã tiến hành thí điểm cải cách thể chế kinh tế thành thị và nông thôn. Nội dung của cải cách thể chế kinh tế nông thôn, là mở rộng quyền tự chủ của nông dân; nội dung của cải cách thể chế kinh tế thành thị, là mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp. ‘Quyền tự chủ’, ko giống những thứ chói tai lóa mắt kiểu ‘quyền lãnh đạo’, ‘quyền sở hữu’, ‘quyền kế hoạch’, nhưng cũng ko giống những thứ ôn hòa chẳng đáng nói đến như ‘tính tích cực’. Anh muốn ‘tính tích cực’, cho anh vài đồng tiền thưởng, là đủ để đuổi anh đi chỗ khác. Anh nói về ‘quyền sở hữu’, ‘quyền kế hoạch’, [tôi] tự cho mình là người chính thống [nên] không tố cáo anh làm trái đạo lí không được. Chẳng lẽ anh ko hiểu rằng ‘quyền sở hữu’ chỉ có họ là ‘Công’, ‘quyền kế hoạch’ chỉ có họ là ‘Nhà nước’ (Quốc), ‘quyền lãnh đạo’ chỉ có họ là ‘Đảng’ sao? Tuy nhiên ‘quyền tự chủ’ ko cứng ko mềm, rõ ràng, vững chắc, từ đây bắt đầu, [là] có thể mổ xẻ rất sâu sắc, cũng có thể phòng thủ trận địa rất vững chắc. Đề xuất ‘quyền tự chủ của nông dân’ và ‘quyền tự chủ của xí nghiệp’, có 1 tiền đề ko nói cũng hiểu -- đem ‘nông dân’ và ‘xí nghiệp’ (mà ko còn là ‘Đảng’ và ‘Quốc gia’) định vị thành chủ thể của kinh tế thành thị và nông thôn. Việc mở rộng quyền tự chủ của ‘nông dân’ và ‘xí nghiệp’, cùng việc thu nhỏ quyền can dự của Đảng và Chính phủ, là đồng nghĩa 100%.

    Năm 1978, tỉnh ủy Tứ Xuyên dưới sự chủ trì của thư kí thứ 1 Triệu Tử Dương, đã làm ra quyết sách dùng việc mở rộng quyền tự chủ làm nội dung tiến hành thí điểm cải cách. Đây là 1 bước có tính thực chất làm cho cải cách tiến nhập vào các hoạt động kinh tế, cũng là khởi điểm của con đường cải cách mà Triệu Tử Dương đi. Với tư cách là nhà cải cách, sứ mệnh của ông ấy chính là thúc đẩy Đảng và NN nhượng bộ đối với nông dân và xí nghiệp, nói rõ một chút, chính là thúc đẩy những ‘nhân tố có tính cưỡng chế hành chính bên ngoài kinh tế’ nhượng bộ đối với những ‘chủ thể của kinh tế’. Lúc đó Hồ Diệu Bang trong việc thực hiện sửa lại án xử sai đã sáng tạo ra một bộ thuật ngữ gồm [những từ như] ‘oan giả thác án’ (những vụ án oan, giả dối và sai) v.v..., Triệu Tử Dương cũng trong thực hiện việc nhượng bộ đã sáng tạo ra 1 bộ thuật ngữ gồm [những từ như] ‘tùng bảng (cởi trói), phóng quyền (ủy quyền), nhượng lợi, cảo hoạt (chấn hưng)’ v.v..., những từ này đều là những khái niệm có tính lịch sử chưa từng được biết tại thời điểm đó nhưng lan truyền nhanh chóng, khiến người suy tư, khiến người ngẫm nghĩ.

    Tứ Xuyên có dân số đứng thứ 1 trên cả nước, Bắc Tứ Xuyên, Nam Tứ Xuyên, Tây Tứ Xuyên, Đông Tứ Xuyên, kể cả thành phố trực thuộc TƯ hiện tại là Trùng Khánh, kể cả toàn tỉnh Tây Khang thời Dân Quốc, đều ở bên trong của nó, lúc đó toàn quốc có 1 tỉ người, Tứ Xuyên đã chiếm 100 triệu. Lịch sử 2 ngàn năm được tưới bởi những dòng nước tự nhiên, làm Tứ Xuyên trở thành cái kho của nhà trời. Trong thập niên 60 Mao Trạch Đông đã xác định nơi đây là hậu phương lớn của việc kiến thiết các tỉnh và khu tự trị tuyến thứ 3 (tam tuyến kiến thiết), khiến nó trở thành căn cứ lớn của những kĩ nghệ quân sự cấp cao. Đệ nhất thư kí tỉnh ủy của Tứ Xuyên thời kì Đại nhảy vọt, là một người làm việc theo sự đưa mắt ra hiệu của Mao, ko quản đến bách tính sống chết ra sao. Từ 1959 đến 1961 toàn quốc chết đói 3 ngàn đến 4 ngàn vạn người, ở Tứ Xuyên chết đến 1 ngàn vạn! Thể chế của Mao đã làm khổ Tứ Xuyên, mở rộng quyền tự chủ của nông dân và xí nghiệp làm Tứ Xuyên có được một sinh mạng mới. Việc này đương nhiên ko phải là cá nhân người lãnh đạo có sức xoay chuyển trời đất, nhưng ko nghi ngờ gì [nó] ngưng kết tâm huyết của người lãnh đạo. Câu ca dao ‘Muốn ăn lương [thực], tìm Tử Dương’, vượt qua ranh giới tỉnh, truyền đến Bắc Kinh.

    Việc thư kí tỉnh ủy thứ 1 của Tứ Xuyên Triệu Tử Dương vững chắc làm cải cách kinh tế, cùng việc Bộ trưởng Tổ chức của TCTƯ Hồ Diệu Bang mạnh mẽ quyết đoán sửa lại những vụ án oan, sai và nhầm lẫn, đã trở thành 2 điểm sáng trong dư luận phố phường lúc đó.

    Đã tiến vào thời kì cải cách

    Năm 1978 và 1979, Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương lần lượt vào Bộ Chính trị. Tháng 2 năm 1980, 2 người đồng thời gia nhập thường ủy, Hồ nhậm chức tổng thư kí, Triệu nhậm chức tổ trưởng tiểu tổ tài chính và kinh tế TƯ, phó chủ tịch nước (quyền chủ tịch nước), chủ tịch nước.

    Giờ chính là đã tiến vào thời kì cải cách trong hồi ức của Triệu Tử Dương. Cùng so sánh với việc Triệu chủ trì cải cách kinh tế quy mô toàn quốc sau này, việc ông ấy trước đó chủ trì cải cách Tứ Xuyên chỉ là giết gà bằng dao mổ trâu mà thôi.

    Cải cách thể chế, cải cách như thế nào, ai nói được rõ ràng? Người nói được rõ ràng, từ thập niên 50, đã sớm bị đánh sạch trơn rồi. Vì Mao Trạch Đông đã dùng thời gian vài chục năm, dành hết trí lực lượt này rồi lượt khác nhằm hủy diệt kinh tế thị trường vì mục tiêu ‘đấu tranh giai cấp’, [nên] đã bồi dưỡng nên đống này rồi đống khác những cán bộ và học giả lấy việc thảo phạt thị trường làm tài năng, reo rắc trong toàn dân sự sợ hãi và căm ghét đối với kinh tế thị trường.

    Giờ cũng đã hơn 30 năm trôi qua, cuối cùng nhân dân bỗng nhiên tỉnh ngộ: cải cách của TQ, vốn chính là bỏ đi chế độ của MTĐ. Nhưng ở đại lục, lại có chút kì quái, chỉ cho phép nói về cải cách, ko cho phép nói về ‘phi Mao hóa’. Cải cách phải ca tụng, ‘phi Mao hóa’ phải lên án công khai. Nay, 30 năm sau hồi đó, còn như thế, 30 năm trước nếu như có người đề nghị phải bỏ đi thể chế của Mao, ko nghi ngờ gì [người đó] có thể gặp số phận giống như của nữ giáo sư Trương Chí Tân và nữ sinh viên Lâm Chiêu, cải cách chính là đem số mệnh ra muốn [nó] bị bóp nghẹt hoàn toàn trước khi đâm chồi.

    Đối với con đường phủ định thể chế kinh tế Mao Trạch Đông, cũng chính là nói, con đường phi Mao hóa về mặt kinh tế, chính là từng bước một mà bước ra. Năm 1978 là ‘quyền tự chủ’. 3 năm sau, tháng 11 năm 1981, Triệu Tử Dương đã đề xuất 1 góc nhìn mới: ‘hiệu ích kinh tế’. Ông ấy liệt kê những thành tích tăng trưởng kinh tế trong 28 năm từ 1952 đến 1980: công nông nghiệp tổng sản lượng tăng 8.1 lần, thu nhập quốc dân tăng 4.2 lần, tài sản cố định công nghiệp tăng 26 lần. Như vậy, thế còn mức chi phí bình quân của nhân dân cả nước? 1 lần! Đã đi trên con đường cũ 28 năm, hiệu ích kinh tế như vầy như vầy, từ đây trở đi ko đi trên con đường mới mà được sao?! Lại 3 năm trôi qua, năm 1984, khái niệm ‘kinh tế hàng hóa’, dưới sự thúc đẩy của những người như Triệu Tử Dương, cuối cùng đã đứng được ở TQ, cuối cùng đã thành hợp pháp! ‘Kinh tế hàng hóa’ là khái niệm mà có thể cho phép sử dụng một cách hợp pháp trong tình thế chính trị lúc đó, trên thực tế chính là danh từ thay thế của ‘kinh tế thị trường’.

    Những việc này chính là quan hệ đến toàn bộ quá trình cải cách, trong đó ngọt đắng và tìm tòi, hợp tác và chia rẽ, trong cuốn sách này đều có trình bày và phân tích, đây là sử liệu sâu sắc nhất và đáng tin cậy nhất mà tôi từng thấy.

    Sự chia rẽ giữa Triệu và Đặng ở việc xác định vị trí của quan hệ giữa Đảng và nhân dân

    Năm 1989, giữa Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương phát sinh xung đột trực tiếp.

    Cái chết của Hồ Diệu Bang đã kích phát phong trào sinh viên. Đặng chủ trương điều động quân đội trấn áp; Triệu chủ trương từ quĩ đạo của dân chủ và pháp chế giải quyết những vấn đề nhân dân quan tâm nhất là vấn đề hủ bại và vấn đề dân chủ, từ việc đào sâu thêm cải cách kinh tế đồng thời khởi động cải cách thể chế chính trị, dẫn dắt được toàn xã hội đem sự chú ý tập trung đến cải cách.

    Kết cục là điều mà mọi người đã biết: Chủ tịch quân ủy Đặng Tiểu Bình phán quyết Tổng thư kí Triệu Tử Dương đã phạm những tội ‘chia rẽ Đảng’ và ‘ủng hộ động loạn’; các nguyên lão quyết định thay thế Triệu bằng Giang Trạch Dân. Sau khi Giang lên nắm quyền, đem Triệu xem như công địch của quốc gia [và] giam lỏng chung thân, hơn nữa từ sách báo trong nước, tin tức cho đến trong lịch sử đều xóa sạch tên họ của Triệu Tử Dương.

    Giữa Đặng TB và Triệu TD ko tồn tại ân oán cá nhân nào. [Từ] tháng 4 năm 1980 [khi] Triệu đến Bắc Kinh công tác, cho đến tháng 4 năm 1989 trước khi phong trào sinh viên xảy ra, Đặng TB đối với công tác của Triệu TD thực là mãn ý, không phải mãn ý bình thường, mà là rất mãn ý.

    Đặng TB ban đầu đối với cải cách kinh tế ko biểu lộ thái độ, đó là vì ko chắc chắn thành công, sợ sinh ra tình trạng hỗn loạn, ko thể chỉnh đốn cục diện. Với tư cách là chính trị gia, ông ấy rất bình thường. Thấy những kết quả thực sự của Tứ Xuyên sau đó, Đặng TB bắt đầu yên tâm. thấy Triệu sau khi đến TƯ tiếp tục ổn định vững chắc, dùng những cải cách vững vàng, để thúc đẩy các loại thành phần kinh tế trong kế hoạch và ngoài kế hoạch đồng thời tăng trưởng ổn định, Đặng càng yên tâm. Có thể nói, đối với những cải cách kinh tế được Triệu TD triển khai, Đặng là 1 người ủng hộ bảo sao nghe nấy, 1 người ủng hộ ko hề dè dặt. Đối với sự ủng hộ của Đặng, Triệu từ thâm tâm cũng cảm thấy vui mừng. 2 người hợp tác rất tốt.

    Vấn đề hoàn toàn xuất lộ trong việc đánh giá và việc chia rẽ về quyết sách đối với tính chất của phong trào sinh viên 1989, chia rẽ cơ bản phát sinh trong việc định vị mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Triệu nghĩ rằng, SV tưởng niệm Hồ Diệu Bang, là hợp pháp, bình thường. Đặng nói, đây là động loạn chống Đảng chống CNXH. Triệu nói, SV đề xuất yêu cầu, phản đối hủ bại, yêu cầu dân chủ, nên từ quĩ đạo dân chủ và pháp chế, thông qua đối thoại hiệp thương giữa các tầng lớp trong xã hội, tìm ra phương án giải quyết, tiến 1 bước thúc đẩy cải cách. Đặng nói, không thể nhượng bộ đối với SV, nên điều động quân đội, thủ đô phải giới nghiêm. Giờ là chiều ngày 17 tháng 5 tại hội đồng thường ủy của Bộ Chính trị TCTƯ phát sinh tranh luận. Hội đồng thường ủy có 5 người. Triệu TD và Hồ Khải Lập là một loại ý kiến; Lí Bằng và Diêu Y Lâm là một loại ý kiến khác. Trong loại tình huống này, Đặng TB ko ngờ lại nói, ông ấy đồng ý với quyết định của ‘đa số trong thường ủy’ -- chính là cách này, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra quyết định cuối cùng.

    ‘Qui tắc nghị sự thường ủy’ được Bộ chính trị khóa 13 thông qua qui định, khi gặp sự chia rẽ trong những vấn đề quan trọng, phải báo cáo cho Bộ chính trị, đệ trình Bộ chính trị hoặc toàn hội đồng TƯ để [các cơ quan này] quyết định. (Lúc đó ủy viên Bộ chính trị có 17 người, 14 người ở Bắc Kinh, dù có 3 người ở các vùng bên ngoài, nửa ngày cũng có thể tập trung đông đủ). Đặng TB có lẽ nghĩ rằng, ông ấy ko phải là ủy viên thường ủy, [nên] ko cần phải tuân thủ các qui tắc của thường ủy; có lẽ, ông ấy nghĩ rằng, vấn đề này ko đủ trọng đại, ông ấy có quyền gõ nhịp búa quyết định, sau khi sự việc đã xảy ra thông báo cho Bộ chính trị biết và thừa nhận ngay lập tức, thế là đủ; có lẽ, trong mắt ông ấy, cơ bản ko có khái niệm ‘qui tắc’.

    Hiến pháp qui định, tất cả quyền lực của nước CHND Trung Hoa đều thuộc về nhân dân. Đặng TB có lẽ nghĩ rằng, ko cần phải đệ trình để cơ quan thường trực của đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc biểu quyết, loại trình tự này quá phiền phức, [gây] cãi cọ, hiệu suất thấp, ko xử lí được sự việc. Có lẽ, ông ấy căn bản nghĩ rằng, Hiến pháp của CHND Trung Hoa ko phải là vì ‘những người lãnh đạo nòng cốt của Đảng CSTQ’ mà [được] lập nên.

    Hiến pháp qui định, Quốc vụ viện (Hội đồng Nhà nước) có quyền quyết định giới nghiêm, nhưng từ ngày 17 tháng 5 thường ủy quyết định giới nghiêm [và] đến ngày 19 tháng 5 thực thi giới nghiêm, trong 3 ngày này, Quốc vụ viện cuối cùng ko hề mở hội nghị toàn thể hoặc hội nghị thường vụ, điều tra 1 lần là rõ. Tôi đã điều tra rồi, ko hề có.

    Chính là thế này, đã phát sinh sự kiện tàn sát dân trong thành ‘Lục Tứ’ khi vài chục vạn quân quốc phòng tiến nhập thủ đô, dùng xe tăng và súng tiểu liên đối phó với sinh viên và thị dân. Quân quốc phòng bị dùng để đối phó với những người dân thường mà hướng đến Đảng và chính phủ nêu yêu sách một cách hòa bình. Tấn đại bi kịch cực kì bi thảm đã phát sinh, tiếp đó lại là đại thanh tra đại bức hại [đối với] toàn Đảng toàn quân toàn dân. Sự ổn định áp đảo tất cả; nó đã áp đảo cải cách, đã áp đảo pháp luật, đã áp đảo lương tâm, đã áp đảo những chủ nhân của quốc gia, áp đảo đến mức bao nhiêu công dân người mất nhà tan!

    Với tư cách là công dân, Triệu TD cũng bị TCTƯ giam lỏng phi pháp. Ròng rã 15 năm, cho đến khi từ trần ở tuổi 85, nhà đại cải cách này mới thoát được sự giam lỏng, mới ‘tự do’.

    Có người nói, Tổng thư kí muốn chia rẽ Đảng, mà chủ tịch quân ủy lại muốn cứu Đảng. Theo quan sát của tôi, 2 vị này đều là người CS trung thành, đều đem vận mệnh của bản thân và Đảng này liên kết với nhau, đều muốn làm những điều tốt cho Đảng này. Trong việc chia rẽ, Tổng thư kí nghĩ, Đảng nên thuận theo ý dân, nên phục tùng ý dân; chủ tịch quân ủy nghĩ, Đảng ko thể yếu thế trước nhân dân, ý dân phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Xuất hiện ý kiến bất đồng, đối với các đảng khác mà nói là điều bình thường, nhưng Đảng CS là 1 đảng quật khởi bằng báng súng, trước sau như 1 theo mệnh lệnh của Tổng chỉ huy loại bỏ những ý kiến bất đồng. Do đó, trong lịch sử Đảng CSTQ, đối với nhân dân, đối với đồng chí, đấu tranh tàn khốc, đả kích vô tình, đều là chuyện thường như cơm bữa.

    Lục Tứ đã mở đầu cục diện mới [mà] toàn dân nín thinh

    Tôi ko biết con số đồng bào bị thương vong trước xe tăng và súng tiểu liên. Nước ta hàng năm tổ chức thảo luận con số người TQ bị quân xâm lược Nhật Bản giết hại, [nhưng] chưa bao giờ đàm luận về con số người nước mình bị giải phóng quân nhân dân TQ giết chết. Những người lãnh đạo [khi] ở nước ngoài đã công bố tin tức ‘Quảng trường Thiên An Môn ko có 1 người chết’, việc này rất khôn khéo, nhưng ko thành thật. Gia đình tôi lúc đó ở bên trong tòa nhà Bộ trưởng, thế mà có người bị đạn lạc bay từ cửa sổ vào giết chết. Nghe nói toàn cầu đều đã xem truyền hình trực tiếp hiện trường của việc tàn sát dân thường Bắc Kinh, tôi lúc đó đã ở trong tù, [nên] ko xem, nhưng tôi tin, những đoạn phim sống này, là tác phẩm của bản thân Đặng Tiểu Bình, ko phải là người ngoại quốc đang ‘yêu ma hóa TQ’.

    Sau huyết án đã phát động đại thanh tra toàn Đảng toàn quân toàn dân, tôi ko biết những hậu quả của việc thanh tra. Số người chịu trừng phạt, do đồng tình với phong trào sinh viên, do phản đối dùng quân đội trấn áp nhân dân, theo kinh nghiệm, hầu như chắc chắn vượt xa số người thương vong. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người đã bị hại, đây là chuyện cơ mật của Đảng và NN, ko cho phép hỏi han, ko cho phép ‘lan truyền’. Bao nhiêu người ko nhà để về, hoặc giả li tán vợ con? Bao nhiêu người bị cách chức, ko bao giờ được tuyển dụng, cuộc sống ko chắc chắn? Bao nhiêu người đã biến mất, đã bị giáo dục lao động, đã bị kết án -- ai biết?

    TƯ Đảng đã mở ra tiền lệ dùng vũ lực trấn áp công dân. 20 năm qua, những lãnh đạo các khóa trước lên nắm quyền, đều theo lệ phải giống như tuyên thệ, đưa ra những lời khẳng định ca ngợi trấn áp. Trên làm thì dưới bắt chước, tỉnh, thành phố, huyện, làng, thôn, đã tạo ra bao nhiêu sự kiện tiểu Thiên An Môn [mà] quan chức chính phủ trấn áp công dân? Có người nói, một năm 365 ngày hầu như ngày nào cũng có. Có lẽ đúng vậy. Trong những sự kiện tiểu Thiên An Môn 20 năm qua, thêm bao nhiêu người bị hại? Đây lại là bí mật quốc gia, lãnh đạo ko cho biết, cũng ko cho các phương tiện truyền thông trong nước cho nhân dân TQ biết.

    Có người nói, trấn áp đã ép phồn vinh xuất hiện. Tôi chỉ biết, là cải cách kinh tế đã phục hồi sự phồn vinh. Là nhân dân, đã dùng kinh tế thị trường đả phá những xiềng xích của Mao TĐ, mới tạo ra phồn vinh. Hiện tại có người tổng kết nói, phồn vinh là sản phẩm của trấn áp. Đối mặt với những nguy cơ đối với kinh tế toàn cầu, tôi ko biết họ liệu có đang chuẩn bị giới thiệu những kinh nghiệm trấn áp, để cứu kinh tế thế giới kô.

    Có người hoan hô việc TQ trong im lặng tự đưa bản thân nhảy vọt trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 toàn cầu chỉ sau Mĩ. Tôi tin đó là sự thực. Khi ở dưới gót sắt của Hốt Tất Liệt, TQ đã là thiên đường của sự phồn hoa mà Marco Polo tận mắt chứng kiến. Thập kỉ 20 của thế kỉ 20 dưới sự thống trị của quân phiệt Bắc Dương, theo tư liệu do kí giả nổi tiếng Trâu Thao Phấn tiên sinh cung cấp, TQ ban đầu là nền kinh tế lớn thứ 3, lúc nào cũng vượt qua Đức và Nhật Bản, chỉ đứng sau Mĩ và Anh quốc. Xét thấy Anh quốc lúc đó có nhiều thuộc địa, nếu như chiếu theo lãnh thổ hiện tại mà tính toán, rất có thể, thứ hạng của kinh tế TQ so với toàn cầu của thời kì quân phiệt Bắc Dương đã từ sớm ko hề kém hơn ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã sớm vinh dự ở vị trí thứ 2 thế giới, ít nhất TQ lúc đó vẫn chưa gặp và chịu đựng sự cướp bóc của việc tập trung thống nhất.

    Sự kiện Lục Tứ đã mở đầu cục diện mới [mà] toàn dân nín thinh. Sau khi Đặng Tiểu Bình tuần tra miền Nam, TQ trong sự nín thinh lại đưa ra cải cách kinh tế, phân phối lại của cải. Ai là người hưởng lợi của việc phân phối lại trong im lặng này? Tôi ko biết. Tôi chỉ biết, toàn bộ những người bị bắt phải im lặng, đều là những người bị hại trong sự kiện tàn sát dân thành thị Lục Tứ. Những người dù lúc đó chưa được sinh ra, [nhưng] sau khi sinh ra đã phải nín thinh, hơn nữa còn phải bất tri bất giác, khúm na khúm núm, lễ bái quyền lực, lắng nghe những lời dối trá, đương nhiên càng là những người vô tội bị hại.

    Di ngôn cuối cùng của Triệu Tử Dương

    Năm 1989 sau khi anh các chú hạ đài, cùng với những biến hóa của tình hình quốc tế quốc nội, đối với cải cách thể chế chính trị TQ anh đây đã có một vài nhận thức mới. Trước đây đối với chế độ dân chủ nghị viện mà bọn tư bản phát triển thối nát khoai Tây thực hành, [anh] cho rằng đ éo phải là nhân dân làm chủ đất nước. Mô hình của Liên Sô, chế độ đại biểu đại hội mà các nước XHCN quang vinh thực hành, mới có thể thể hiện nhân dân làm chủ đất nước; chế độ này so với chế độ dân chủ nghị viện khoai Tây thì cao cấp hơn, có khả năng hơn để thể hiện hình thức của dân chủ. Trên thực tế đ éo phải là 1 chuyện như thế. Cái chế độ dân chủ mà đất nước XHCN quang vinh muôn năm của chúng ta thực hành, hoàn toàn rơi tõm vào hình thức, đ éo phải là nhân dân làm chủ đất nước, mà là một số ít thằng và con, thậm chí là sự thống trị của 1 thằng hay con bỏ mẹ nào đấy.

    Nhìn chung từ thế kỉ 20 đến nay trên thế giới đã có đủ loại chế độ chính trị. Quân chủ chuyên chế, độc tài phát xít của Đức nhợn, Ý nhợn, đều đã bị lịch sử giật nước; vẫn còn có một vài chính quyền độc tài quân nhân, nhưng cũng như hoa quỳnh chóng tàn, hoặc đã càng ngày càng mất thị trường. Dù hiện giờ những thằng lạc hậu vãi đái vẫn ko ngừng xảy ra những sự việc như vậy, như kiểu mấy thằng Nam Mĩ thường phát sinh quân nhân đảo chính, nhưng điều đó cũng chầm chậm trở thành khúc nhạc đệm ngắn ngủi cho việc những thằng này từng bước đi đến chính trị nghị trường. Thế kỉ 20 đã xuất hiện, trong thời gian vài chục năm cùng chế độ đại nghị phương Tây đối lập cái gọi là chế độ dân chủ mới nổi -- chế độ chuyên chính giai cấp vô cbn sản, tại đại đa số các quốc gia [nó] đã rút khỏi vũ đài lịch sử. Ngược lại mới đau là cái chế độ dân chủ nghị viện của bọn khoai Tây đã thể hiện sức sống dai như đỉa của nó. Có vẻ cái loại chế độ này là 1 chế độ mà hiện tại có khả năng tìm kiếm khá ngon, có khả năng thể hiện dân chủ, phù hợp với những yêu cầu hiện đại và cũng khá hoàn thiện. Giờ vẫn đ éo tìm ra chế độ nào ngon hơn nó.

    Đương nhiên, loại chế độ này cũng đ éo phải là đẹp trên từng nanometer, nó cũng tồn tại nhiều vấn đề bỏ kụ ra ấy chứ. Nhưng một cách tương đối mà nói, chỉ có loại chế độ này là khá phù hợp văn minh hiện đại, khá phù hợp ý dân, có lợi đối với việc thể hiện dân chủ, hơn nữa là 1 loại mô hình khá ổn định. Loại mô hình này càng ngày càng thể hiện ra sức sống của nó. Hầu như tất cả những thằng tư bản phát triển thối nát thực hành đều là 1 loại chế độ dân chủ nghị viện này. Vài thập niên qua xu hướng những thằng phát triển khá nhanh, từng bước chuyển hướng sang chế độ dân chủ nghị viện cũng càng ngày càng rõ rệt. Anh các chú nghĩ việc này tuyệt đ éo phải ngẫu nhiên. Vì sao mà đ éo có thằng nhà giàu nào thực hành một loại chế độ khác nhể? Việc này chứng minh 1 thằng muốn thực hiện hiện đại hóa, muốn thực hiện kinh tế thị trường hiện đại, hiện đại văn minh, thì về thể chế chính trị nó phải thực hành chế độ dân chủ nghị cbn viện.

    Đây là những lời của Triệu Tử Dương. Lí tính, thực dụng, thẳng thắn, thành khẩn, xuất phát từ trong trái tim, là những lời quan trọng nhất Triệu Tử Dương để lại cho đồng bào.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi