Phần kết: Từ một con người tới một huyền thoại

  • Bởi tqvn2004
    03/09/2009
    1 phản hồi
    Chủ đề: 

    Những lời bình luận đổ dồn về từ khắp nơi trên thế giới khi có tin đồn Hồ Chí Minh qua đời. Các bài viết ca ngợi Hồ Chí Minh từ các thành phố lớn được tới tấp gửi đến và Hà Nội nhận được hơn 22.000 thông điệp từ 121 quốc gia chia buồn với nhân dân Việt Nam khi biết nhà lãnh đạo của họ qua đời. Một vài nước xã hội chủ nghĩa tổ chức tang lễ và có thể thấy trước được lời lẽ các bài điếu văn của họ là thiện chí. Một tuyên bố chính thức từ Mát-xcơ-va ca ngợi ông Hồ là “người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam anh hùng, lãnh tụ kiệt xuất của phong trào giải phóng dân tộc và quốc tế cộng sản, người bạn lớn của Liên Xô”. Các nước thế giới thứ 3 ca ngợi ông là người bảo vệ cho các dân tộc bị áp bức. Một bài báo ở Ấn Độ miêu tả ông là tinh hoa của “dân tộc, hiện thân cho khát vọng cháy bỏng vì tự do, cho tinh thần kiên cường và sự nghiệp đấu tranh của họ”. Những người khác nhắc đến đức tính giản dị và đạo đức cao cả của ông. Một bài xã luận trên báo U-ru-goay nói rằng “ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và tình yêu thương vô bờ bến đối với nhi đồng. Ông là biểu tượng của đức giản dị trên tất cả các mặt”.

    Phản ứng từ các thành phố phương Tây im ắng hơn. Nhà Trắng tránh không bình luận, và các quan chức chính quyền Ních-xơn cũng như vậy. Tuy nhiên, phương tiện truyền thông của phương tây cũng sôi nổi đưa tin về cái chết của ông. Các tờ báo ủng hộ sự nghiệp chống chiến tranh có khuynh hướng mô tả ông như một đối thủ đáng được kính trọng và người bênh vực các dân tộc yếu hèn bị áp bức. Thậm chí những người kịch liệt phản đối chế độ Hà Nội cũng kính trọng ông vì những cống hiến toàn bộ đời mình trước hết cho độc lập và thống nhất đất nước và sự ủng hộ bênh vực các dân tộc bị bóc lột trên thế giới.

    Một vấn đề chủ chốt mà nhiều nhà bình luận suy nghĩ là việc ông qua đời có ảnh hưởng thế nào tới diễn biến của cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Được biết đến như một người cộng sản kỳ cựu và một nhà cách mạng tận tuỵ, nhiều người xem Hồ Chí Minh như một người thực dụng, nắm vững diễn biến phức tạp của tình hình chính trị thế giới và biến động theo thời thế. Thậm chí cả Giôn-xơn, có lẽ là đối thủ đáng gờm nhất của ông trong những năm 60, đôi khi cũng nhận xét rằng nếu ông ta có thể ngồi với “ông Hồ”, hai nhân vật chính trị kỳ cựu bằng cách này hay cách khác có thể sẽ đi đến một thoả hiệp nào đó.

    Với những người kế nhiệm, không ai được thế giới kính trọng như ông Hồ. Rất ít cộng sự của ông Hồ nổi tiếng ở thế giới bên ngoài. Trừ ông Hồ, không có quan chức cao cấp nào của Đảng từng sống hoặc đi khắp nước Pháp , huống hồ các nước phương tây khác. Trong số những người từng ra nước ngoài, hầu hết họ được đào tạo tại Trung Quốc hoặc Liên Xô, và thế giới quan của họ hạn chế bởi giáo lý cứng nhắc của chủ nghĩa Mác-lê-nin. Tổng Bí thư Lê Duẩn, người đã nhanh chóng thiết lập uy tín là người kế nhiệm chức của ông Hồ ở Hà Nội, hầu như không được phương Tây biết đến. Thậm chí ở Mát-xcơ-va và Bắc Kinh, ông Duẩn cũng không được biết đến nhiều.

    Trong bản di chúc cuối cùng của mình và trong suốt đời mình, Hồ Chí Minh tìm cách cân bằng cam kết giành độc lập cho dân tộc Việt Nam với cam kết cống hiến cho phong trào thế giới. Trong bản di chúc khởi thảo lần đầu tiên năm 1965 và sau đó tự tay sửa đổi vào năm 1968 và 1969, mặc dù nhấn mạnh phải đặt ưu tiên hàng đầu cho hàn gắn vết thương chiến tranh và cải thiện mức sống của người dân Việt Nam, ông Hồ vẫn khẳng định tầm quan trọng của cả chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ông đặc biệt chú trọng thực hiện bình đẳng giữa nam và nữ. Ông ca ngợi Đảng đóng vai trò hàng đầu trong cuộc cách mạng Việt Nam nhưng cũng kêu gọi phát động chiến dịch tự phê bình và chỉnh đốn Đảng nhằm dân chủ hoá tổ chức và nâng cao đạo đức cho số cán bộ Đảng sau khi chiến tranh kết thúc. Cuối cùng, ông nhiệt thành kêu gọi thôi thúc tình đoàn kết của phong trào Cộng sản theo nguyên tắc chủ nghĩa quốc tế vô sản.

    Đám tang Hồ Chí Minh được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội ngày 8 tháng 9 năm 1969 với hơn 100.000 người tham dự gồm cả đại diện từ các nước xã hộ chủ nghĩa. Trong bài phát biểu trước Quốc hội, Lê Duẩn hứa rằng các nhà lãnh đạo Đảng sẽ tìm cách thực hiện khát khao cháy bỏng của Hồ Chí Minh đánh bại quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Sau đó ông hứa Đảng sẽ đem hết nỗ lực xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và khôi phục tinh thần đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa.

    Về khía cạnh nào đó, Lê Duẩn cũng đã thực hiện lời hứa của mình. Dưới sự lãnh đạo cương quyết của ông, thời gian sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục theo đuổi chiến thắng cuối cùng ở Miền Nam. Mục tiêu trước mắt của Hà Nội là củng cố lực lượng ở miền Nam chuẩn bị phát động một cuộc tấn công quân sự mới trong thời gian diễn ra chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ năm 1972. Các đại diện miền Bắc Việt Nam tiến hành đàm phán với Mỹ ở Pa-ri, nhưng hầu hết không đạt được kết quả gì vì cả hai phía đều tìm cách tạo ra một bước ngoặt quân sự ở miền Nam Việt Nam làm phương tiện giành lợi thế trên bàn hội nghị. Mặc dù số thương vong của Hà Nội vẫn ở mức cao, các nhà lãnh đạo Đảng vẫn lạc quan vì tình cảm chống chiến tranh ở Mỹ đang dâng cao buộc Tổng thống Ních-xơn phải tuyên bố chương trình kêu gọi rút quân Mỹ về nước vào cuối nhiệm kỳ đầu của ông ta.

    Trong những ngày lễ phục sinh năm 1972, với chưa đầy 50.000 quân Mỹ vẫn ở miền Nam Việt Nam, Hà Nội phát động một chiến dịch tấn công ở miền Nam Việt Nam. Giống như cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân năm 1968, cuộc tấn công trong ngày lễ phục sinh lần này không đem lại chiến thắng hoàn toàn nhưng nó khiến cho cả hai phía đẩy nhanh tiến trình hoà bình . Tháng 1 năm 1973, Hà Nội và Oa-sinh-tơn cuối cùng đi đến một hiệp định thoả hiệp. Hiệp định hoà bình Pa-ri kêu gọi ngừng bắn và rút toàn bộ đơn vị lính chiến đấu của Mỹ về nước. Các cuộc đàm phán giữa hai bên sẽ quyết định phân chia lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và chính quyền Sài Gòn thông qua việc thành lập một cơ cấu hành chính bên cạnh chính phủ (đó là Hội đồng quốc gia Hoà giải và Hoà hợp dân tộc) gồm đại diện của cả hai phía cũng như những phần tử trung lập. Hội đồng này sau đó sẽ bàn vấn đề tổ chức tổng tuyển cử.

    Giống như Hiệp định Giơ-ne-vơ cách đây hai thập kỷ, Hiệp định Pa-ri không chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Hiệp định này chỉ đơn thuần giải quyết vấn đề quân Mỹ rút khỏi Việt Nam và khôi phục nguyên trạng tình hình đầu những năm 1960 ở miền Nam Việt Nam. Khi chẳng bên nào tỏ thái độ mong muốn tôn trọng các điều khoản của Hiệp định Pa-ri, xung đột ở các vùng nông thôn lại nổ ra. Đầu năm 1975, Hà Nội mở một cuộc tấn công mới với mục tiêu hoàn thành việc chiếm lại miền Nam một năm sau đó. Nước Mỹ suy yếu vì mùa hè trước Ních-xơn đã từ chức và người kế nhiệm của ông, tổng thống Pho, không dám đưa quân chiến đấu Mỹ trở lại miền Nam Việt Nam. Trên đà thắng lợi, tháng 3 quân đội Bắc Việt Nam tiến quân ra khỏi Tây Nguyên và tiến thẳng tới Sài Gòn trong khi các lực lượng khác đã chiếm được Đà Nẵng và toàn bộ phía Bắc. Vào tuần cuối cùng của tháng 4, lực lượng cộng sản gần như giành được chiến thắng khi các lực lượng kháng cự Sài Gòn suy sụp và những người Mỹ còn lại được trực thăng đưa đi từ nóc toà nhà đại sứ quán Mỹ tới hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi. Sau cuộc đấu tranh ác liệt kéo dài 15 năm khiến hơn một triệu người Việt Nam thiệt mạng, Tổng thống Pho tuyên bố “cuộc chiến đã chấm rứt”. Đồng thời trước đó hai tuần, lực lượng Khơ-me Đỏ đã nắm được chính quyền ở Phnôm Pênh, và một chính phủ cách mạng sẽ lên nắm chính quyền ở Lào vào cuối năm.

    Đầu tháng 7 năm 1976, hai miền Việt Nam được thống nhất thành nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lê Duẩn đã thực hiện lời hứa của mình hoàn thành một trong những ước nguyện của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi thực hiện các điểm khác trong di chúc của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn không tạo ấn tượng như vậy. Năm 1968, một chuyên gia của Liên Xô bí mật tới Hà Nội dạy Việt Nam thuật ướp xác. Tháng 3 năm đó, một đội chuyên gia Việt Nam sang Mát-xcơ-va tham khảo thêm ý kiến và báo cáo những tiến triển trong việc áp dụng kỹ thuật đó. Tuy nhiên, theo một nguồn tin, đây vẫn là một vẫn đề nhạy cảm trong giới lãnh đạo Đảng vì bản thân Hồ Chí Minh chắc sẽ phản đối rất mạnh bất cứ kế hoạch nào đi ngược lại ý nguyện được thiêu xác của ông. Vào thời điểm đó Hồ Chí Minh qua đời, Bộ Chính trị chưa có quyết định cuối cùng về cách thức giải quyết vẫn đề này. Sau khi tham khảo ý kiến khẩn cấp với Mát-xcơ-va, một chuyên gia khác của Liên Xô đến Hà Nội giữa tháng 9 giúp chuyên gia y tế của Việt Nam giữ gìn thi thể của ông Hồ.

    Ngày 29 tháng 11 năm 1969, Bộ Chính trị chính thức thông qua kế hoạch khởi công xây dựng lăng để lưu giữ thi hài ông Hồ nhằm giáo dục thế hệ trẻ tương lai. Một uỷ ban có đại diện Bộ Xây dựng và Bộ Quốc phòng được chỉ định giám sát công trình với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô. Trong báo cáo cuối cùng gửi các nhà lãnh đạo Đảng, Uỷ ban này kết luận rằng lăng cần phải được thiết kế hiện đại nhưng phải thấm nhuần bản sắc dân tộc. Phù hợp với tính cách của Hồ Chí minh, vẻ bề ngoài của lăng cần phải đơn giản và được đặt ở địa điểm thuần tiện và dễ đi lại. Để đưa ra được khuyến nghị về thiết kế công trình, Uỷ ban đã nghiêm cứu một số cấu trúc lăng khác bao gồm cả kim tự tháp Ai Cập, tượng đài kỷ niệm Vích-to Ê-ma-nu-en ở Rôm, đài kỷ niệm Lin-côn ở Oa-sinh-tơn D.C., và lăng mộ Lê-nin ở Mát-xcơ-va. Sau khi Bộ Chính trị đưa ra gợi ý bổ sung, mô hình cấu trúc lăng được trưng bày ở khắp cả nước để trưng cầu ý kiến của công chúng. Cuối cùng có hơn 30.000 gợi ý khác nhau được trình lên Uỷ ban.

    Tháng 12 năm 1971, Bộ Chính trị thông qua đề xuất cuối cùng và công việc xây dựng bắt đầu ngay sau khi hiệp định Pa-ri được ký kết. Địa điểm được chọn xây lăng là một trong những thánh địa của cách mạng Việt Nam – Quảng trường Ba Đình, Hà Nội gần với Phủ Chủ tịch và nhà sàn Hồ Chí Minh. Vào ngày 29 tháng 8 năm 1975, khi chính thức được mở công khai cho dân chúng, lăng Hồ Chí Minh gợi nhớ đến lăng Lê-nin ở Quảng trường Đỏ. Các mặt của lăng được ốp đá cẩm thạch xám, hầu hết được khai thác ở núi đá cẩm thạch, một mỏ đá lộ thiên ở phía nam Đà Nẵng – nơi quân Việt cộng sống tại một hang đá trong núi có thể xem lính Mỹ bơi tại bờ biển nổi tiếng gọi là bờ biển Trung Hoa, đây cũng là một trong những khu nghỉ mát nổi tiếng nhất trong vùng. Lăng được thiết kế mô tả hình tượng bông sen vươn lên từ bùn đen với vẻ hiện đại và do đó tạo ra sự tương phản với một ngôi chùa phật thế kỷ 11 ở một khuôn viên gần đó. Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát cho rằng kiến trúc của lăng nặng nề chán ngắt hoàn toàn trái với tính cách hài hước và khiêm tốn của Hồ Chí Minh – người đang nằm trong lăng, hai tay bắt chéo và mặc bộ đại cán giản dị kiểu Tôn Trung Sơn. Như nhà sử học Huế, Tâm Hồ Tài, nhận xét, điều đó có tác dụng mô tả Hồ Chí Minh như một nhà lãnh đạo Cộng sản quốc tế chứ không tạo ra hình ảnh gần gũi hơn về Bác Hồ được các đồng bào của ông – hơn 15.000 lượt người đến thăm lăng mỗi tuần.

    Khi thực hiện kế hoạch giữ gìn thi thể Hồ Chí Minh trong lăng, các nhà lãnh đạo Đảng rõ ràng đã không tổ chức lễ tang và lễ hoả táng đơn giản theo như yêu cầu của ông Hồ. Ông luôn coi thường cạm bẫy vật chất xa hoa. Năm 1959 ông thậm chí phản đối đề nghị xây một bảo tàng nhỏ tại làng Kim Liên khi mọi người biết ông là nhà cách mạnh nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc, với lập luận rằng tốt hơn là sử dụng số tiền hiếm hoi đó để xây trường học. Để tránh bị công chúng chỉ trích vì quyết định làm trái với di nguyện của ông Hồ, các nhà lãnh đạo Đảng đã bỏ đi những phần trong di chúc của ông nói về việc thiêu xác. Bản di chúc công bố năm 1969 cũng không nói tới yêu cầu của ông Hồ miễn một năm thuế nông nghiệp cho nông dân và lời cảnh báo của ông đối với đồng bào mình rằng chiến tranh ở miền Nam còn có thể kéo dài một vài năm nữa. Đảng cũng tuyên bố rằng ông Hồ mất ngày 3 tháng 9, một sau khi ông Hồ thực sự qua đời để khỏi ảnh hưởng đến không khí kỷ niệm ngày quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình *.

    Sau Đại hội toàn quốc lần thứ 4 tháng 12 năm 1976, các nhà lãnh đạo Đảng tuyên bố sẽ xây dựng “về cơ bản” chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc vào thập kỷ này. Để biểu trưng cho giai đoạn mới của cuộc cách mạng này, Đảng Lao động Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Những người kế vị Hồ Chí Minh cố dùng hình ảnh của ông để giành được sự ủng hộ của dân chúng cho chương trình đầy tham vọng của mình. Chân dung vị cố chủ tịch xuất hiện trên tem, tiền và tường của các toà nhà trên khắp cả nước trong khi sách giáo khoa và các cuốn sách nhỏ về cuộc đời, tư tưởng, và đạo đức cách mạng của ông được in rất nhiều. Các nhà lãnh đạo Đảng như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp kể lại chi tiết những kỷ niệm về ông Hồ và nhấn mạnh tư tưởng Hồ Chí Minh như một công cụ cốt yếu giúp xây dựng Việt Nam trong tương lai. Người ta khuyến khích thanh niên Việt Nam đi theo con đường Hồ Chí Minh, lấy đó làm định hướng cho hành động hằng ngày của mình và tên của ông được đặt cho các tổ chức thanh niên được thành lập trên khắp cả nước. Một số nước xã hội chủ nghĩa khác cố dùng danh tiếng của ông phục vụ mục đích riêng của mình, lấy tên đặt cho trường học, nhà máy, đường phố, quảng trường và tổ chức hội thảo học tập di chúc và các thành công trong sự nghiệp của ông.

    Giá trị thực sự của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong bảo tàng Hồ Chí Minh. Bảo tàng này được hoàn thành vào mùa thu năm 1990 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Được xây ngay sau lăng gần Quảng trường Ba Đình, kích thước của Bảo tàng gây ấn tượng mạnh nhưng không nặng nề như những công trình cạnh đó. Với các mặt được ốp đá cẩm thạch, bảo tàng cũng được thiết kế giống hình bông sen, mặc dù đối với một số nhà quan sát, cấu trúc bốn mặt với đường vào ở một góc gợi nhớ hơn đến mũi của một con tàu.

    Cho dù Đảng rất cố gắng nêu bật tư tưởng Hồ Chí Minh như hiện thân của một nước Việt Nam mới, nhiều nhà quan sát vẫn nhận ra những khác biệt lớn giữa phong cách của Lê Duẩn và phong cách của người tiền nhiệm nổi tiếng của ông. Trong khi ông Hồ kiên trì khuyến khích cần phải từng bước tiến hành cách mạng Việt Nam nhằm phát huy tối đa sự ủng hộ của quần chúng từ mọi thành phần xã hội, Lê Duẩn lại thường áp dụng sách lược tham vọng hơn, gây chia rẽ trong ban lãnh đạo Đảng và cô lập bộ phận dân chúng. Và trong khi ông Hồ luôn chú trọng thích đáng tới thực tế tình hình thế giới khi tìm cách thực hiện chiến lược của mình thì những người kế nhiệm của ông lại theo đuổi chính sách đối ngoại hung hăng, không chỉ gây thù địch với các nước láng giềng của Hà Nội ở Đông Nam Á mà còn khiến Trung Quốc – từng là đồng minh thân cận nhất và là nước ủng hộ mạnh mẽ nhất của Hà Nội – khó chịu. Những người phản đối chính sách của Lê Duẩn bị đưa ra khỏi ban lãnh đạo Đảng (một thí dụ nổi bật là Võ Nguyên Giáp) hoặc chọn giải pháp sống lưu vong ở nước ngoài (như trường hợp Hoàng Văn Hoan).

    Kết quả đó là bi kịch đối với một đất nước mới vừa thoát khỏi chiến tranh. Khi chế độ này đột nhiên tuyên bố quốc hữu hoá ngành công nghiệp và thương mại tháng 3 năm 1978, hàng ngàn người ra đi tìm nơi ẩn náu ở nước ngoài. Chương trình tập thể hoá nông nghiệp khiến hầu hết nông dân miền Nam phản kháng. Cuối những năm 70, nền kinh tế của Việt Nam lâm vào tình trạng hỗn độn, bị lung lay bởi nỗ lực không khôn ngoan của Đảng định hoàn thành xây dựng cơ sở cho một xã hội xã hội chủ nghĩa trước khi kết thúc thập kỷ.

    Khủng hoảng ở bên ngoài đã làm tình hình trong nước trầm trọng hơn. Khi lên nắm quyền, chế độ diệt chủng và cuồng tín Pôn Pốt ở Cam-pu-chia phản đối gợi ý của Việt Nam thành lập liên minh quân sự giữa ba nước Đông Dương. Tháng 12 năm 1978, Hà Nội xâm lược Cam-pu-chia và dựng lên một chế độ bù nhìn ở Phnông Pênh. Để trả đũa, các lực lượng Trung Quốc mở chiến dịch tràn qua biên giới Việt Nam. Mặc dù không kéo dài, chiến dịch đã buộc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tập trung những nguồn lực quân sự quý báu cho sự nghiệp bảo vệ đất nước. Giữa những năm 80, thái độ bất bình của dân chúng đối với ban lãnh đạo Đảng đã lên tới mức báo động – vì lãnh đạo chỉ còn là một nhóm người không làm theo lời khuyên của Hồ Chí Minh là phải mang lại hạnh phúc cho nhân dân sau khi giành chiến thắng.

    Mùa hè năm 1986, sau khi lê Duẩn qua đời, các nhà lãnh đạo Đảng muộn màng nhận ra sai lầm của mình (như một ai đó mô tả là “chủ nghĩa phấn khích”) và bước vào một con đường mới. Dưới sự lãnh đạo của một vị Tổng Bí thư mới, một nhân vật cứng rắn người miền Nam cũ, ông Nguyễn Văn Linh, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch khôi phục nền kinh tế trì trệ bằng việc áp dụng thị trường xã hội chủ nghĩa và mở cửa cho đầu tư nước ngoài, đồng thời khuyến khích thái độ khoan dung tự do tư tưởng của dân chúng. Được biết đến như chương trình cải cách, đổi mới, chương trình mới này làm người ta nhớ lại chính sách cải tổ của Goóc-ba-chốp ở Liên Xô, mặc dù những nguồn tin ở Hà Nội quả quyết rằng chiến lược này là của Việt Nam.

    Tuy nhiên, đến cuối thập kỷ, các lực lượng bảo thủ trong Đảng đã suy nghĩ lại. Mặc dù giúp kích thích tăng trưởng kinh tế Việt Nam, việc áp dụng ý tưởng của nước ngoài ngày càng dẫn đến (ít nhất theo những người có quan điểm bảo thủ) những tệ nạn như thuốc phiện, gái điếm, AIDS và chủ nghĩa hưởng lạc trong thanh niên Việt Nam cũng như làm tăng thái độ chỉ trích sự thống trị của Đảng trên tất cả các mặt trong vấn đề nội bộ. Được báo động bởi sự sụp đổ của hệ thống cộng sản ở Đông Âu và nỗi lo lắng ngày càng tăng trước tác động của văn hoá phương Tây làm suy yếu dần những thể chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng bắt đầu thẳng tay đàn áp những nhân vật bất đồng chính kiến và những người mà các nhân vật bảo thủ coi là “cỏ độc của chủ nghĩa tư bản”. Dưới sự lãnh đạo của ông Đỗ Mười – người kế nhiệm Nguyễn Văn Linh và là một đảng viên lão thành – Hà Nội cũng áp dụng chính sách hậu Thiên An Môn của Trung Quốc thẳng tay đàn áp những nhà hoạt động bất đồng chính kiến dưới khẩu hiệu “cải cách kinh tế, ổn định chính trị” Trong khi tự do hoá kinh tế tiến triển với một nhịp độ khiêm tốn, Đảng khẳng định lại vai trò truyền thống của mình là một lực lượng chính trị duy nhất trên toàn đất nước.

    Những người Việt Nam chủ trương cải cách nhanh chóng dùng di sản của Hồ Chí Minh để thúc đẩy sự nghiệp của chính họ. Khi nhắc đến ông Hồ như một người thực dụng, họ cho rằng ông có thể đã hiểu rằng cần phải nâng cao mức sống cho nhân dân trước khi tiến lên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Khi nhắc tới hình ảnh của ông như một người theo chủ nghĩa nhân văn với tinh thần vị tha cao cả trước những ý kiến đối lập, họ quả quyết rằng ông có thể đã ngăn cản sự chia rẽ trong ban lãnh đạo Đảng và tiến hành mọi biện pháp nhằm giành được sự ủng hộ của nhân dân. Vào cuối những năm 80, phe cải cách thắng thế khi người thư ký riêng cuối cùng của Hồ Chí Minh tiết lộ rằng Lê Duẩn và một số cộng sự của mình đã chữa lại bản di chúc của ông Hồ bằng cách không thực hiện lời kêu gọi miễn thuế nông nghiệp và tổ chức một lễ tang đơn giản. Bộ Chính trị buộc phải thừa nhận lỗi lầm này, nhưng bào chữa cho hành động của mình nói rằng Bộ Chính trị làm như vậy là vì có lợi ích cao cả của nhân dân Việt Nam và phù hợp với mục tiêu suốt đời của Hồ Chí Minh.

    Không chỉ người Việt Nam mà người nước ngoài cũng không biết nên hiểu thế nào về nhân cách đích thực và di sản mà Hồ Chí Minh để lại. Nhiều người xem ông là một vị thánh suốt đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng người dân bị áp bức khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, người làm cho chuyên chính cộng sản phát triển khắp thế giới (có lẽ là quan điểm tệ hại nhất) hoặc là nhân vật cơ hội chủ nghĩa vô nguyên tắc, người đã sử dụng danh tiếng đứng đắn và giản dị của mình để ca tụng bản thân. Khi UNESCO tài trợ cho một hội nghị tại Hà Nội năm 1990 kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, những lời ca ngợi Hồ Chí Minh tại hội nghị bị bác lại bằng rất nhiều quan điểm chỉ trích của những người đến từ khắp nơi trên thế giới, những người phản đối sự sùng bái một con người mà họ cảm thấy phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với cái chết của quá nhiều đồng bào mình.

    Đối với nhiều nhà quan sát, trọng tâm của cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh tập trung vào vấn đề nên xác định ông là nhà cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa. Rất nhiều người bạn nước ngoài của ông khăng khăng cho rằng ông Hồ là người yêu nước hơn là nhà cách mạng theo chủ nghĩa Mác. Dường như ông Hồ khẳng định quan điểm này năm 1961 khi ông công khai tuyên bố rằng chính lòng mong muốn cứu vớt đồng bào ngay từ đầu đã đưa ông đến với chủ nghĩa Lê-nin. Nếu ông cũng nói như vậy trong một số dịp khác, thì có lẽ không có lời giải thích nào rõ ràng hơn lời giải thích mà ông nhận xét với một điệp viên của Mỹ Sác-lơ phen năm 1945 rằng ông xem chủ nghĩa cộng sản là phương tiện đạt được mục tiêu dân tộc chủ nghĩa. Khi được yêu cầu giải thích, ông nói:

    “Trước hết, bạn phải hiểu rằng giành độc lập từ một cường quốc lớn như Pháp là một nhiệm vụ nặng nề không thể đạt được nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài, không nhất thiết là trang thiết bị như súng đạn mà bằng các cuộc tiếp xúc và những lời khuyên. Trên thực tế, không thể giành được độc lập bằng ném bom hay làm những việc tương tự như vậy. Đó là sai lầm mà các cuộc cách mạng trước đó thường gặp phải. Phải giành độc lạp bằng tổ chức , tuyên truyền, huấn luyện, và kỷ luật. Cũng cần phải có niềm tin, nguyên tắc chỉ đạo, phân tích thực tiễn, có thể bạn phải vận dụng kinh thánh. Chủ nghĩa Mác-Lê-nin đã trao cho tôi những khuôn mẫu như vây”.

    Phen hỏi ông Hồ lý do tại sao ông không chọn chế độ dân chủ hay một hệ thống chính trị khác mà lại chọn một chế độ mà rõ ràng sẽ làm tổn thương thiện chí của Mỹ, đất nước mà ông nói ông rất ngưỡng mộ? Hồ Chí Minh trả lời chỉ khi ông đến Mát-xcơ-va thì ông mới nhận được viện trợ thực tế. Liên Xô là nước cường quốc duy nhất trong số các cường quốc thể hiện “bạn lúc khó khăn mới là bạn tốt” Lòng trung thành của Liên Xô đã giành được lòng trung thành của Hồ Chí Minh.

    Điều rõ ràng là đối với Hồ Chí Minh sự sống còn của đất nước trước hết và luôn luôn là mối quan tâm lớn nhất của ông. Quả thực, điều đó khiến các nhà lãnh đạo Đảng cao cấp ở Hà Nội, Bắc Kinh và Mát-xcơ-va nghi ngờ không biết ông Hồ có phải là một nhà Mác-xít thực thụ hay không. Tuy nhiên, điều đó rõ ràng là, không nói đến chuyện ông có phải là một nhà Mác-xít chân chính hay không, ông là một nhà yêu nước có trái tim của nhà cách mạng tận tâm. Khuynh hướng cách mạng trong quan điểm của ông rất có thể là kết quả của những điều ông chứng kiến trong khi làm việc trên tàu thuỷ trước chiến tranh thế giới I. Ông nhận thấy nỗi đau khổ của đồng bào ông cũng là nỗi đau khổ của các dân tộc Á, Phi sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Điều đó càng được củng cố thêm trong thời gian ở Pa-ri. Tại đó, ông nhận thấy thái độ giả dối của người Pháp không vận dụng những lý tưởng của mình vào các dân tộc thuộc địa. Hai năm ở Mat-xcơ-va trong những ngày đầu đầy sóng gió của cuộc thử nghiệm Xô-viết dường như đã làm dấy lên lòng nhiệt thành ngây thơ mong muốn xây dựng một xã hội cộng sản trong tương lai. Trong thế giới hoàn toàn mới mẻ của ông Hồ, chủ nghĩa yêu nước bị thay thế bởi quan điểm của Lê-nin về một liên bang xã hội chủnghĩa cộng sản toàn cầu trong tương lai.

    Rõ ràng, những sự kiện sau này có tác động cảnh tỉnh thái dộ của ông. Những vụ thanh trừng ở Mát-xcơ-va, rõ ràng gần như đe doạ tới sự an toàn của ông, chắc hẳn làm tổn hại tới niềm tin của ông vào cuộc thử nghiệm của Xô-viết. Việc Mát-xcơ-va không tôn trọng cam kết tích cực ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc thuộc địa khiến ông nghi ngờ chủ nghĩa quốc tế vô sản trong một thế giới chính trị cường quyền. Tuy nhiên, không gì có thể làm lung lay niềm tin vào tính siêu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Cho tới cuối đời, ông vẫn theo quan điểm cho rằng mô hình tư bản chủ nghĩa đã gây đau khổ vô hạn cho hàng triệu người bị áp bức trên toàn châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh.

    Do đó, vấn đề không phải là liệu ông là một nhà dân tộc chủ nghĩa hay một người cộng sản – bằng con đường riêng của chính mình, ông là cả hai. Nói đúng hơn đó là vấn đề sách lược của ông. Hồ Chí Minh là một người tin vào nghệ thuật nắm bắt thời cơ, điều chỉnh lý tưởng của mình tuỳ theo điều kiện của phong trào. Đối với nhiều người, thậm chí những người trong đảng mình, lối cư xử của ông có vẻ như không có nguyên tắc, nhưng theo ông có thể đạt được tiến bộ bằng những bước rất nhỏ. Đối với Hồ Chí Minh, theo một câu trích nổi tiếng của một nhà khoa học xã hội Anh Oát-tơ-Bê-gơ-hốt, chín quá hoá nẫu. Ông Hồ có thái độ thực dụng trong chính sách đối ngoại. Thí dụ, ông thà chấp nhận những giải pháp thoả hiệp năm 1946 và 1954 chứ không tiến hành chiến tranh trong những điều kiện bất lợi. Ông còn có thái độ thực dụng trong những vấn đề nội bộ, luôn tin rằng cần từng bước tiến hành quá trình chuyển sang xã hội chủ nghĩa đồng thời với nỗ lực giành được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng. Giống như Tổng thống Mỹ, Giôn-xơn, Hồ Chí Minh cho rằng ông là một nhà giao tiếp lớn, một người lãnh đạo tận dụng mọi cơ hội để đạt được mục đích của mình không bằng sức mạnh mà bằng lý lẽ. Trong một số trường hợp, ông thành công. Một số trường hợp khác, sự sẵn lòng thoả hiệp của ông đã tước đi vũ khí của đối thủ và cho phép ông biến yếu điểm quân sự trở thành thế mạnh chính trị. Đồng thời, hình ảnh giản dị , tốt bụng và vị tha tạo ra sức quyến rũ mạnh mẽ và do vậy đóng góp ý nghĩa vào sự ủng hộ rộng rãi ở trong nước cũng như ngoài nước đối với cách mạng và cuộc đấu tranh giành độc lập. Khó có thể tưởng tượng được làn sóng ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong những năm 60 trên toàn thế giới nếu như gương mặt ở Hà Nội lúc đó lại là Lê Duẩn hay Trường Chinh chứ không phải là Hồ Chí Minh.

    Liệu hình ảnh Hồ Chí Minh có xác thực không? Cõ lẽ không có câu trả lời dễ dàng cho câu hỏi. Rõ ràng ông không thích sống xa hoa mà chỉ thích sống giản dị, khiêm tốn. Tuy nhiên, nhiều người hiểu rõ ông Hồ hơn nhận xét rằng có vẻ giả tạo bên ngoài cách ông sống như một người khổ hạnh, một học giả Nho giáo trở thành một nhà cách mạng theo chủ nghĩa Mác. Trong thời gian sống ở Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ông nói với thư ký riêng của mình, ông Vũ Đình Huỳnh rằng đôi khi nhưng giọt nước mắt giả dối cũng có ích để truyền đạt ý tới người nghe. Nhiều năm sau , đại diện của Ba Lan tại Uỷ ban giám sát và kiểm soát tại Hà Nội nhận xét rằng mặc dù công khai phản đối , ông Hồ dường như thích đồng bào khen mình. Cái tôi của ông rõ ràng đã nổi lên trong những năm 40 và 50 khi ông viết hai cuốn tự truyện tự khen mình dưới bút danh khác. Không chỉ những người khác nói về hình ảnh có tính chất thần thánh của Hồ Chí Minh mà bản thân ông còn khai thác điều này.

    Dĩ nhiên có những lý do chính trị đáng để ông khuyến khích thái độ sùng bái cá nhân này. Năm 1947, một phóng viên Mỹ hỏi ông tại sao ông lại được ca tụng nhiều như vậy, ông trả lời rằng một phần người ta xem ông là biểu tượng của những ước nguyện của bản thân họ. Ông nói thêm có lẽ lý do là ông yêu tất cả trẻ em Việt Nam như thể chúng là cháu ông và để đáp lại họ dành tình yêu đặc biệt cho “Bác Hồ”. Thời gian đầu của cuộc đời ông khi dân tộc và nền văn hoá dường như đứng trên bờ vực của sự diệt vong , ông đã chứng kiến sự sùng kính mà thanh niên Việt Nam dành cho những ông đồ nho quê mùa, những người dành trọn cuộc đời và những lời giáo huấn của họ theo đuổi nguyên tắc bất dịch của nghĩa nhân văn Nho giáo. Trong suốt đời mình, ông Hồ dùng tính cách đó làm phương tiện cứu vớt nhân dân và phong trào nổi dậy của dân tộc mình.

    Không biết quyết định đó đem lại lợi ích chính trị gì nhưng đôi khi Hồ Chí Minh phải trả giá cho hình ảnh vị tha và thực dụng của mình. Ông là một nhà hoà giải luôn tin vào sức mạnh của thuyết phục hơn là hăm doạ khi chỉ đạo Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngay từ đầu ông dựa vào sách lược lãnh đạo tập thể hơn là dựa vào sự thống trị của một cá nhân như cách của Lê-nin, Xta-lin, hay của Mao Trạch Đông. Trong thời gian những năm 30 và 40, sức mạnh thuyết phục, trên cơ sở uy tín và những gì ông đã trải qua trong suốt một thời gian dài là nhân viên Quốc tế Cộng sản, nhìn chung là thành công. Tuy nhiên, điều đó bắt đầu không có hiệu quả trong những năm 50 khi các cộng sự cao cấp bắt đầu đặt câu hỏi về tính đúng đắn trong những khuyến nghị của ông và xác lập vai trò của họ khi vạch ra chiến lược. Cuối cùng, Hồ Chí Minh gần như bất lực. Những cộng sự chỉ hứa sẽ cân nhắc những ý kiến của ông song những ý kiến đó ngày càng bị bác bỏ phản đối và bị xem là không thích hợp.

    Phải chăng Hồ Chí Minh đã ngây thơ và tin vào cách ngôn của Tôn tử cho rằng chiến thắng thành công nhất là chiến thắng không dùng bạo lực? Nhìn lại, có thể nói rằng ông hơi nhẹ dạ vì hy vọng sẽ thuyết phục được Pháp rút khỏi Việt Nam một cách hoà bình sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó một vài năm, ông Hồ đã tính toán sai khi ông lập luận rằng Mỹ có thể quyết định chấp nhận chính phủ do Đảng Cộng sản thống trị ở Việt Nam nếu như chính phủ đó được thành lập không làm Mỹ bẽ mặt. Tuy nhiên, có bằng chứng cho rằng ông thường đánh giá tình hình quốc tế rất rõ ràng và nhận thấy cần phải có chính sách linh hoạt lường trước được tất cả các khả năng khác nhau. Mặc dù ông luôn cố đạt được mục tiêu của mình mà không dùng đến bạo lực, ông cũng săn sàng dùng tới lực lượng quân sự khi cần thiết. Những cộng sự của ông không thể làm những điều tương tự vì họ thiếu đi sự tinh tế và kiên nhẫn theo đuổi một giải pháp ngoại giao.

    Người ta thường nói rằng Mỹ mất đi cơ hội vàng, tránh được một cuộc xung đột trong tương lai ở Đông Dương khi Mỹ không đáp lại những cử chỉ thiện chí của Hồ Chí Minh cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Xét cho cùng, là người thực dụng ông Hồ chắc đã nhận ra rằng sau chiến tranh, Việt Nam có thể giành được nhiều viện trợ hơn từ Oa-sinh-tơn chứ không phải từ Mát-xcơ-va. Ông cũng thú nhận mình là người ngưỡng mộ văn minh Mỹ và đã đưa những lý tưởng của Mỹ vào bản Tuyên ngôn Độc lập. Nhiều nhà chỉ trích quả quyết rằng sau khi xem xét lại tình hình Đông Dương trong bối cảnh Mỹ và Liên Xô cạnh tranh ngày càng quyết liệt về tư tưởng, chính quyền Tơ-ru-man đã chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

    Mặc dù điều này có phần đúng, cũng có thể phần nào là vì người Mỹ chỉ có hiểu biết mang tính huyền thoại về Hồ Chí Minh. Trước hết, có chứng cứ cho thấy ông Hồ đã tính toán chứ không phải là vấn đề hệ tư tưởng khi ông bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Mỹ. Ông Hồ ca ngợi văn minh Mỹ cũng giống như ông ca ngợi nhiều đồng minh của mình và những đối thủ tiềm tàng của ông, chủ yếu để giành được lợi thế chiến thuật. Mặc dù ông ta luôn nghĩ rằng có khả năng các nhà lãnh đạo Mỹ cuối cùng sẽ nhận ra can thiệp vào Đông Dương là vô ích, ông luôn tin rằng những nhà lãnh đạo đó là đại diện cho hệ thống tư bản chủ nghĩa bóc lột ở mức độ nào đó có thể nguy hiểm cho các nước thành viên của khối xã hội chủ nghĩa. Ông không nghi ngờ về lòng trung thành của mình đối với cuộc chiến.

    Vấn đề nổi lên là liệu Hồ Chí Minh có toàn quyền vạch ra chiến lượng ở Hà Nội giống như Xta-lin thống trị chính trường ở Mát-xcơ-va hay không. Trên thực tế, rất nhiều đồng nghiệp của ông Hồ không có chung niềm tin với ông về khả năng không dùng vũ lực để giải phóng dân tộc và có thể phản đối những điều mà họ cho là thoả hiệp vô nguyên tắc với kẻ thù giai câp. Giống như các Tổng thống phải cân nhắc những vấn đề nội bộ khi họ đề ra những mục tiêu chính sách đối ngoại của mình, Hồ Chí Minh cũng phải tranh luận với các cử tri của mình, chủ yếu với những cộng sự luôn luôn sốt ruột của mình trong Bộ Chính trị – rất nhiều người trong số họ như Trường Chinh và Lê Duẩn không thể chia sẻ thái độ nhẹ dạ tin vào sức mạnh của lỹ lẽ.

    Có những lý do chính đáng cho thấy cử chỉ hoà giải của Nhà Trắng năm 1945 và năm 1946 đủ để đưa Hồ Chí Minh và các cộng sự của mình theo con đường tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng việc Mỹ công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất được Hà Nội hoan nghênh song điều đó chưa đủ làm cho Đảng Cộng sản Đông Dương từ bỏ miền tin vào Mát-xcơ-va và từ bỏ học thuyết Mác-Lê-nin. Rất giỏi trong việc cân bằng quan hệ giữa Mát-xcơ-va và Bắc Kinh, ông Hồ và các cộng sự của mình chắc đã phải cố lèo lái trong quan hệ với Oa-sinh-tơn nhằm đạt được mục tiêu của mình. Như chúng ta đã biết, một số mục tiêu này có liên quan tới các nước khác. Cuối cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Đông Nam Á đã trải qua một giai đoạn bất ổn chính trị và xã hội tương đối lớn. Nhiều người vẫn còn nghi ngờ về khả năng các nhà hoạch định chính sách của Mỹ có sẵn sàng ngồi đàm phán hay không trong khi Hà Nội tìm cách thúc đẩy phong trào cách mạng đang còn trong kỳ trứng nước ở các nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia.

    Tuy nhiên, việc các nhà hoạch định chính sách ở Pa-ri và Oa-sinh-tơn không nắm lấy bàn tay hữu nghị mà Hồ Chí Minh chìa ra cho họ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem lại hậu quả xấu cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới. Tuy có mạo hiểm khi trao quy chế chính đáng cho một chính phủ mới ở Hà Nội, rõ ràng chính phủ này còn tốt hơn sự lựa chọn khác. Nếu vấn đề đạo đức và chính trị trong những nguyên tắc tư tưởng của Hồ Chí Minh ưu việt hơn so với những nguyên tắc của những đối thủ của ông là một vấn đề cần phải tranh luận, thì rất khó có thể bác bỏ luận điểm cho rằng trong điều kiện lúc đó các nhà lãnh đạo Việt Minh là lực lượng được chuẩn bị tốt nhất để đối phó với rất nhiều vấn đề có tác động đến các đồng bào của họ. Khả năng duy trì sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ít nhất là ở miền Bắc, phụ thuộc và khả năng duy trì thái độ trung thành của một thế hệ đấu tranh chống lại những âm mưu của Pháp và sau này là của Mỹ.

    Ngày nay, ba thập kỷ sau khi ông qua đời, tệ sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh vẫn tồn tại ở Hà Nội. Tệ sùng bái này chủ yếu làm chỗ dựa cho một chế độ tuyệt vọng tìm cách duy trì tính chính đáng của mình khi tình hình đã thay đổi theo thời gian. Đối với nhiều người Việt Nam (đặc biệt là ở miền Bắc sự sùng kính ông Hồ vẫn rất mạng mẽ), hình ảnh ông vẫn còn đậm nét. Hình ảnh của ông mờ nhạt hơn ở miền Nam và ở đây chính phủ trung ương thường bị mất lòng tin, những người đại diện của chính phủ bị coi là những người đầu cơ chính trị. Tuy nhiên, những ước vọng suốt đời không dứt của ông Hồ về một đảng với nền tảng là sự trong sáng chính trị và quan tâm đến dân ngày nay không còn nguyên vẹn nữa. Trong những năm gần đây, hầu như chẳng ai làm gì để giải quyết nạn tham nhũng đang đe doạ nhấn chìm cuộc cách mạng trong sự giận giữ và bất bình đang dâng cao của nhân dân.

    Rất khó khăn duy trì sự sùng bái ông Hồ trong tương lai. Có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy cho dù hầu hết thanh niên Việt Nam tôn trọng Hồ Chí Minh vì những đóng góp của ông cho sự nghiệp giành độc lập và tái thống nhất đất nước, nhiều người không còn coi ông là nhân vật trung tâm trong đời sống của họ. Gần đây, một thanh niên Việt Nam nói với tôi “Chúng tôi kính trọng ông Hồ, nhưng chúng tôi không quan tâm đến chính trị”. Đối với thế hệ trẻ lớn lên trước thềm thiên niên kỷ tới, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh cũng chỉ như ảnh hưởng của A-bra-ham-Lin-côn đối với người dân Mỹ bình thường.

    Thậm chí trong số những người thấy được giá trị của sự sùng bái ông Hồ, nhiều người xem đó như một thứ thuốc phiện đối với nhân dân. Như một trí thức Việt Nam nhận xét: Tất cả những người sống trong thời kỳ chiến tranh phải có những điều bí ẩn riêng của họ. Ngày nay, nhiều người cảm thấy rằng quan điểm chính thức coi Hồ Chí Minh như một mẫu mực hoàn hảo về đạo đức cách mạng cần phải được thay thế bằng một hình ảnh thực tế hơn, mô tả ông như một con người có thể có sai lầm. Trong những năm gần đây, có những lời đồn đại không được kiểm chứng về những đám cưới trong quá khứ và những vụ tình ái – và thậm chí những người con hoang – đã được lưu truyền rộng rãi bất chấp những lời chối bỏ mạnh mẽ về tính xác thực của nó từ các nguồn tin chính thức. Một bộ phim gần đây của Việt Nam đã bóng gió thể hiện mối quan hệ bất chính mà theo như đồn đại xảy ra trước khi ông bắt đầu đi Châu Âu.

    Tương rự như vậy trên chính trường thế giới, hình ảnh của ông Hồ là một nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỷ 20 không còn sức quyến rũ như cách đây một thế hệ, mặc dù sự hiện diện của những bức chân dung của ông trong một cửa hàng của một người di cư Việt Nam ở Ca-li-phoóc-ni-a đã đủ gây ra sự tức giận cho những người Mỹ gốc Việt. Cách đây một thế hệ, các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nổ ra trên khắp thế giới thứ ba lúc đó nước Mỹ dường như là một nền văn minh đang suy tàn. Trong điều kiện như vậy, ông Hồ có vẻ như là tiếng nói của tương lai. Với việc chủ nghĩa cộng sản mất uy tín và chủ nghĩa tư bản đang lên trước thềm thiên niên kỷ mới, sự kết hợp đặc biệt của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội của ông Hồ có vẻ như là điều kỳ quặc, giống như Cách mạng văn hoá của Mao Trạch Đông hoặc những ý tưởng tinh thần của Ma-hát-ma Gan-đi. Ngày nay, Hồ Chí Minh thường được xem như là một nhà chiến thuật cách mạng thông minh của cuộc cách mạng và chỉ vậy thôi. Những bài viết của ông có vẻ như tẻ nhạt, phong cách tầm thường và không có nội dung tư tưởng. Tầm nhìn của ông về cách mạng thế giới xa rời thời gian không khác gì Mác nhìn người vô sản giận dữ đập cửa của những người áp bức tư bản chủ nghĩa.

    Tuy nhiên, thái độ như vậy không đánh giá đúng tầm quan trọng của Hồ Chí Minh đối với thời đại của chúng ta. Nếu như tầm nhìn tương lai của ông về một xã hội cộng sản thế giới trong tương lai không hoàn mỹ (ít nhất giống như ngày nay người ta nhìn nhận) thì người ta cũng không phủ nhận rằng sự nghiệp mà ông thúc đẩy và chỉ đạo tạo ra những thời khắc có một không hai trong thế kỷ 20, là đỉnh cao của kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở thế giới thứ ba và sự thừa nhận rõ ràng đầu tiên về hạn chế của chính sách ngăn chặn cộng sản của Mỹ . Sau Việt Nam, thế giới không bao giờ như cũ nữa.

    Khó tưởng tượng ra một cuộc cách mạng Việt Nam không có sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh. Mặc dù xu hướng lịch sử hiện tại nhấn mạnh tầm quan trọng của những lực lượng xã hội lớn trong việc tạo ra những sự kiện lớn của thời đại chúng ta, điều rõ ràng là trong nhiều trường hợp như trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vích và cuộc nội chiến của Trung Quốc, vai trò cá nhân đôi khi rất lớn. Điều đó cũng đúng với Việt Nam . Ông Hồ không chỉ là người sáng lập Đảng và sau này là Chủ tịch nước, mà ông còn là một nhà chiến lược chủ chốt và là một biểu tượng giành được nhiều cảm tình nhất. Một nhà tổ chức tài năng cũng như là một nhà chiến lược tinh tế và một nhà lãnh đạo lôi cuốn, Hồ Chí Minh là một nửa Lê-nin và một nửa Gan-đi. Đó là một sự kết hợp sống động. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là một sự thực không thể phủ nhận làm thay đổi số phận của mỗi cá nhân, nếu không có ông thì có thể nó đã trở thành một vấn đề hoàn toàn khác và một kết cục hoàn toàn khác.

    Đối với nhiều nhà quan sát thì bi kịch của cuộc đời Hồ Chí Minh là một tài năng kỳ lạ về nghệ thuật lãnh đạo mà đáng lẽ ra phải được sử dụng để hoàn thiện hệ tư tưởng chưa hoàn hảo và trên thực tế, hệ tư tưởng đó bị chối bỏ bởi nhiều người trước đây đã chân thành theo đuổi trên toàn thế giới, mặc dù vẫn chưa được từ bỏ trên đất nước của ông. Một câu hỏi chưa có trả lời là liệu trong hoàn cảnh khác, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành có quyết định theo đuổi lý tưởng và tập quán của nền văn minh phương Tây đương đại hay không. Giống như nhiều nhà lãnh đạo châu Á trong những ngày đó, những gì ông đã trải qua khi sống ở các nước tư bản chủ nghĩa không phải là những điều dễ chịu và những tội ác gây ra bởi chủ nghĩa thực dân của phương Tây mà ông nhận thấy trong những năm đầu của cuộc đời mình đã làm tổn thương tới sự nhạy cảm của ông. Tuy nhiên, rất nhiều niềm tin triết lý của ông dường như đúng với các lý tưởng của phương Tây hơn là với Các Mác và Lê-nin. Mặc dù ông tìm cách xây dựng hình ảnh của bản thân mình trước các cộng sự của ông như một nhà Mác-xít chính thống, dường như rõ ràng rằng ông không thích những vấn đề mang tính học thuyết giáo điều và thường cố làm mềm những giáo lý khô khan của cộng sản khi áp dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, là người thành lập Đảng và Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hậu quả đối với những hành động của mình, dù tốt hay xấu xuất phát từ điều kiện Việt Nam hiện nay, thậm chí nhiều người nhiệt tình bảo vệ ông cũng phải thừa nhận rằng di sản của ông là tốt xấu lẫn lộn.

    Hồ Chí Minh là “người tạo ra sự kiện” (trong một đoạn trích đáng nhớ của Sít-ni Húc, triết gia của Mỹ), một “đứa con của khủng hoảng” hiện thân hai sức mạnh trung tâm trong lịch sử của Việt Nam hiện đại: mong muốn độc lập dân tộc và tìm kiếm công lý xã hội và kinh tế. Do hai sức mạnh này vượt qua biên giới nước mình, ông Hồ có khả năng chuyển tải thông điệp cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới và lên tiếng đòi chân lý giá trị và tự do thoát khỏi sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Cho dù người dân của ông có đánh giá cuối cùng về di sản của ông như thế nào chăng nữa, ông cũng đã nằm trong đền thờ các vị anh hùng cách mạng dành cho người đấu tranh mạnh mẽ đem lại cho những người thống khổ tiếng nói thực sự.

    (HẾT. Những phần trích trên đây là từ bản dịch được cho là của Phòng phiên dịch – Bộ Ngoài giao Việt Nam, tháng 5-2001)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    http://www.tienphong.vn/Quoc-Te/526461/Dang-cong-san-Nga-len-an-y-do-cai-tang-VILenin.html

    Đảng cộng sản Nga lên án ý đồ cải táng V.I.Lenin

    Theo phóng viên TTXVN tại Liên bang Nga, Hội nghị các bí thư Ủy ban khu vực trực thuộc Đảng Cộng sản Liên bang Nga (KPRF) họp ngày 24-1 đã ra tuyên bố cực lực phản đối và lên án ý đồ đưa thi hài vị lãnh tụ vô sản thế giới V.I.Lenin ra khỏi Lăng trên Quảng trường Đỏ để cải táng.

    Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ. (Nguồn: Internet)

    Tuyên bố nêu rõ mặc dù chính đảng cầm quyền "Nước Nga Thống nhất" (UR) đã lên tiếng bác bỏ và khẳng định UR không khởi xướng (việc cải táng thi hài Lenin), mà đó chỉ là đề nghị của một vài cá nhân là thành viên ban lãnh đạo chính đảng này, nhưng trang web của UR đã đăng tuyên bố của một loạt đại diện và đại biểu Duma Quốc gia thuộc UR đòi thực hiện điều đó.

    Tuyên bố nhấn mạnh Lăng V.I. Lenin là "trái tim" của toàn bộ quần thể di tích lịch sử linh thiêng trên Quảng trường Đỏ, không ai được xâm phạm.

    Tuyên bố nhấn mạnh xâm phạm Lăng của Người là hành động xem thường và chà đạp lên những trang sử hào hùng thời Xôviết cũng như những thành tựu mà nhân dân Liên Xô đã giành được.

    KPRF trước sau như một sẽ đấu tranh để bảo vệ các di tích lịch sử trên Quảng trường Đỏ, trước hết là Lăng V.I.Lenin vĩ đại. Lập trường này của KPRF được hàng triệu người Nga ủng hộ. KPRF khẳng định rằng mọi ý đồ và âm mưu xâm phạm lịch sử và luật pháp, đều sẽ bị giáng trả mạnh mẽ và thích đáng.