Chương XIII: Địa điểm mang tên Điện Biên Phủ

  • Bởi tqvn2004
    03/09/2009
    0 phản hồi
    Chủ đề: 

    Dự đoán rằng Hồ Chí Minh sẽ về thủ đô ăn Tết năm 1951 quả là hấp tấp. Mặc dù trong giai đoạn khởi đầu, cuộc tấn công của Việt Minh đã bắt đầu một cách đầy hứa hẹn – với việc các đơn vị Việt Minh từ các cánh rừng dưới chân núi Tam Đảo tràn ra trong một cuộc tấn công theo kiểu “biển người” của Trung Quốc nhằm vào các vị trí của đối phương tại Vĩnh Yên – các chỉ huy của họ đã đánh giá thấp quyết tâm của tướng Giăng Đơ Lát Đơ Tát-xi-nhi mới đến Đông Dương ngày 19 tháng 12 năm 1950 với tư cách là Cao uỷ mới và Tổng tư lệnh các Lực lượng viễn chinh Pháp (FEF) tại Đông Dương. Đơ Lát là đối thủ xứng đáng của tướng Giáp. Là một anh hùng chiến tranh và một con người vô cùng tự tin và có hàm quân sự cao nhất, Đơ Lát đã hành động ngay lập tức để củng cố vị thế quân Pháp. Để nâng cao tinh thần binh lính, ông huỷ bỏ lệnh của người tiền nhiệm sơ tán nhân dân Pháp khỏi Hà Nội. Để bẻ gẫy cuộc tấn công của Việt Minh, ông đã huy động lực lượng dự bị chiến lược từ các nơi khác đồng thời ra lệnh cho máy bay Pháp sử dụng bom na-pan mới tiếp nhận từ Hoa Kỳ.

    Kết quả thật kinh ngạc. Binh lính Việt Minh chưa từng gặp phải tác động của ga cháy, đã tháo chạy tán loạn và thị xã Vĩnh Yên vẫn nằm trong quyền kiểm soát của người Pháp. Một người tham gia lực lượng tấn công sau này viết:

    Đơn vị của chúng tôi tấn công từ buổi sáng. Từ xa, ba con chim yến hiện ra to dần. Đó là những chiếc máy bay. Chúng bổ nhào và địa ngục mở ra ngay trước mắt tôi. Địa ngục trông giống như một chiếc công-te-nơ chứa đầy những quả trứng khổng lồ rời xuống từ chiếc máy bay đầu tiên, rồi từ chiếc thứ hai rơi xuống ngay bên phải tôi…Một quầng lửa dữ dội lan ra tới hàng trăm mét, gieo rắc kinh hoàng trong binh lính. Đó là bom na-pan, đám cháy từ trên trời rơi xuống. Một chiếc máy bay khác lại đến và các đám cháy mới lại bùng lên. Bom rơi phía sau chúng tôi và tôi cảm thấy hơi lửa đang lan toả khắp người tôi. Binh lính tháo chạy và tôi không thể nào cản họ lại được. Không có cách nào sống được dưới quầng lửa đang hoành hành và thiêu rụi mọi thứ trên đường đi của nó.

    Theo một báo cáo tình báo của Mỹ, khoảng từ 3.500 đến 4.000 lính trong tổng số 10.000 lính tham gia cuộc tấn công của Việt Minh đã bị thương. 400 lính Pháp chết và 1.200 bị thương. Các cuộc tiến công sau đó vào Mạo Khê và các cứ điểm dọc sông Đáy ít thành công hơn và cuối cùng, sau khi chịu nhiều thương vong, họ phải rút lên núi. Khi mối đe doạ đối với Hà Nội tạm thời dịu xuống, Đơ Lát thú nhận rằng quyết định huỷ bỏ lệnh sơ tán của ông chỉ là “tiếng huýt sáo trong bóng tối” và là một cuộc trình diễn trên khán đài nhằm khôi phục niềm tin của công chúng.

    Không những không mở được đường tiến về Hà Nội, cuộc tiến công lại là một thất bại của các lực lượng Việt Minh và thực sự là một thất bại cá nhân đáng xấu hổ của Võ Nguyên Giáp – nhà chiến lược thượng hạng của Hồ Chí Minh. Mấy tuần sau đó, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu suy tính lại cách đánh của mình. Tại một cuộc họp của các cán bộ cao cấp trong Đảng tổ chức giữa tháng 4, Hồ Chí Minh kêu gọi tự kiểm điểm để rút kinh nghiệm từ những bài học vừa qua và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Một chương trình phát thanh của Việt Minh tháng 5 đã nói rằng chỉ nên phát động các chiến dịch quân sự lớn khi cầm chắc chiến thắng. Các nguồn tin chính thức đã thôi thúc không dùng khẩu hiệu “chuẩn bị chuyển sang giai đoạn tổng tấn công” và bắt đầu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong các bài viết và nói chuyện của mình cuối năm 1951, Hồ Chí Minh đã gián tiếp đưa ra quan điểm tương tự, nói đến tầm quan trọng của kỹ thuật chiến tranh du kích trong việc tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài chống lại kẻ thù. Các cố vấn Trung Quốc rũ bỏ trách nhiệm thất bại bằng cách báo cáo cho cấp trên (một cách muộn màng) rằng binh lính Việt Minh thiếu kinh nghiệm cần thiết để tiến hành một chiến dịch quân sự đầy tham vọng như vậy. Họ cũng khuyên nên chuyển sang áp dụng chiến tranh du kích. Ông Giáp cũng thừa nhận rằng đối đầu với quân đội Pháp được trang bị tốt hơn trong một trận chiến bằng những lực lượng vẫn còn thiếu kinh nghiệm của mình là một sai lầm, và các lực lượng này đôi khi không có được một mức độ quyết chiến và quyết tâm cần thiết.

    Tuy ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chiến lược chiến tranh du kích của Việt Minh ngày càng trở lên nên rõ nét sau năm 1950, tác động của nó cũng rõ nét trong các thay đổi đang diễn ra trong chính sách đối nội của Việt Minh. Từ giữa những năm 50, các cán bộ Trung Quốc mặc trang phục kiểu Mao miệng hô hào các khẩu hiệu cách mạng bắt đầu đến Việt Nam với số lượng lớn để cố vấn cho phía Việt Nam trên mọi phương diện quản lý và hành vi ứng xử. Trước khi họ rời Trung Quốc, Lưu Thiếu Kỳ đã cẩn thận chỉ thị cho các thành viên của đoàn cố vấn không được áp đặt các kỹ thuật Trung Quốc vào Việt Nam, nhưng nhiều người đã phớt lờ lời khuyên này và làm dấy lên sự bực tức trong hàng ngũ binh lính và sĩ quan Việt Nam, những người từ lâu đã nhạy cảm trước thái độ trịnh thượng của những người anh em phương Bắc.

    Đối với nhiều người Việt Nam, việc thiết lập các chương trình giáo dục tư tưởng cho đảng viên biểu hiện rõ nhất của ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Theo lý thuyết của Mao, mục đích của chương trình này là khích lệ cải huấn tư tưởng các đảng viên, nhưng nó lại thường biến tướng thành sự sỉ nhục và trừng phạt, thường mang đặc điểm của xung đột giai cấp khi các cán bộ xuất thân trong hoàn cảnh nghèo khó trả thù các đồng đội xuất thân từ các gia đình giàu có. Theo lời kể của một số người tham gia các chương trình này, chiến thuật tự kiểm điểm – trọng tâm của chương trình- đã làm kinh hoàng rất nhiều các bộ Việt Minh, những người hầu hết đã đọc một số tác phẩm Mác-xít-Lê-nín và động cơ tham gia phong trào Việt Minh của họ thường là vì lòng yêu nước hơn là ý thức hệ.

    Kết quả của việc giáo dục tư tưởng này nhiều khi là bi kịch. Theo Gioóc Bu-đa-ren, một người cộng sản Pháp từng phục vụ trong một đơn vị của Việt Minh trong những năm đầu thập kỷ 50, người ta tịch thu dao cạo râu của các cán bộ Việt Minh bị tổn thương về tinh thần nhằm ngăn họ tự sát; đèn trong các lều của các trại huấn luyện được thắp sáng suốt đêm có lẽ cũng vì lý do này. Chính uỷ Việt Minh được cử xuống tất cả các đơn vị để theo dõi động cơ tư tưởng của binh sĩ. Nếu như chính uỷ và sĩ quan chỉ huy của một đơn vị bất đồng thì chính uỷ sẽ có quyền quyết định cuối cùng.

    Bu-đa-ren cho rằng chính sách này có tác dụng tiêu cực. Trước mắt, chính sách này đẩy nhiều trí thức yêu nước ra khỏi phong trào và phá vỡ sự đoàn kết đang tồn tại trước đó giữa những người trung hoà và cấp tiến trong Đảng. Về lâu dài, hậu quả của các chính sách này rất nguy hại vì lo sợ bị phê bình và trả thù sẽ làm tê liệt tính sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Các nguồn tin tình báo Pháp đã thu được nhiều tài liệu nói về sự rạn nứt giữa cán bộ Việt Nam và chuyên gia Trung Quốc; những người đào ngũ khỏi hàng ngũ Việt Minh thường viện dẫn việc họ rời bỏ cách mạng là do ảnh hưởng thái quá của học thuyết Mao-ít. Ngay cả những người ủng hộ Việt Minh và chấp thuận việc cần phải nghe theo những lời khuyên chiến lược từ các cố vấn Trung Quốc đôi khi cũng chán nản trước việc các chuyên gia Trung Quốc gần như đang chỉ huy các đơn vị quân đội của Việt Nam. Những người đào ngũ nói rằng nhiều cán bộ trung – cao cấp của Việt Minh đã bị thanh trừng do sức ép của Trung Quốc. Theo các nguồn tin từ phía Pháp, có thể là do sức ép của phía Trung Quốc mà tướng Nguyễn Bình, tư lệnh các lực lượng Vịêt Minh ở miền Nam và là người bị cho là phê phán ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong phong trào Việt Minh đã bị mất chức tháng 9 năm 1951 và được lệnh ra bắc để “định hướng lại” . Các nguồn tin chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố rằng ông đã bị giết trong một cuộc đụng độ với các lực lượng bảo hoàng Cam-pu-chia-a trên đường ra Việt Bắc; các báo cáo chưa được kiểm chứng thì nói rằng ông bị bắt đưa đi và “vui vẻ chấp thuận cái chết định mệnh trong chiến đấu hơn là bị xử tử”.

    Ảnh hưởng của Trung Quốc bắt đầu lan đến vùng nông thôn nơi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà áp dụng các quy định về cải cách ruộng đất ngày càng chặt chẽ hơn. Các quy định này tập trung xoá bỏ ảnh hưởng kinh tế và chính trị của giai cấp địa chủ ở cấp xã. Kể từ khi chiến tranh bùng nổ tháng 12 năm 1946, chính sách ruộng đất của chính phủ phản ánh quyết định của Hồ Chí Minh đặt ưu tiên vào cuộc đấu tranh phản đế lên trên cách mạng phản phong. Vì thế chương trình kêu gọi giảm tô nhưng chỉ giới hạn việc tịch thu đất canh tác thuộc quyền sở hữu của các công dân Pháp và những người cộng tác với chính quyền Bảo Đại. Đất của các địa chủ yêu nước và các nông dân giàu có không bị tịch thu nhằm lôi kéo sự ủng hộ của những đối tượng này đối với phong trào.

    Tuy nhiên, đến đầu những năm 50, ngày càng có nhiều chỉ trích từ giới quân sự rằng rất nhiều quy định của chương trình này đã bị phớt lờ ở cấp địa phương nơi rất nhiều địa chủ không thực hiện quy định giảm tô. Các lãnh tụ của Đảng như Trường Chinh lập luận rằng do không huy động được sự ủng hộ mạng mẽ hơn nữa của những tầng lớp dân nghèo ở nông thôn, chương trình này không đáp ứng lợi ích của cách mạng. Các cố vấn Trung Quốc với những kinh nghiệm mới mẻ về chương trình cải cách ruộng đất triệt để đang được tiến hành tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bắt đầu thúc giục các cán bộ Việt Nam đối đầu với các phần tử “phong kiến” ở nông thôn một cách trực diện hơn. Kết quả là các quy định giảm tô và giới hạn việc tham gia của các địa chủ trong hội đồng xã bắt đầu được thực hiện chặt chẽ hơn.

    Sự kiện nổi bật nhất đánh dấu sự chuyển hướng quyết định sang phía tả của chính phủ xẩy ra vào tháng 2 năm 1951 khi Đảng tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ hai – đại hội đầu tiên được tổ chức sau đại hội tại Ma Cao tháng 3-1935 – tại một địa điểm bí mật ở tỉnh Tuyên Quang, sâu trong rừng Việt Bắc. Tổng số 200 đại biểu đại diện cho khoảng nửa triệu đảng viên đã tham dự cuộc họp.

    Có nhiều lý do xác đáng để tổ chức đại hội. Trước hết, mặc dù Đảng Cộng sản Đông Dương đã giải thể công khai tháng 11 năm 1945, tổ chức này vẫn lớn mạnh nhanh chóng trong những năm cuối thập kỷ 40 và rất nhiều đảng viên – đại đa số có nguồn gốc là nông dân và tiểu tư sản – mới chỉ được rèn luyện rất ít về hệ tư tưởng. Nhiều cán bộ bị nhiễm cái mà tài liệu của Đảng gọi là “thái độ phong kiến” (bao gồm những điều bị coi là tệ nạn xã hội như tín ngưỡng và mê tín, hống hách, gia trưởng), “đầu óc du kích” (ngụ ý thái độ bí mật và nghi ngờ người ngoài) và trình độ nhận thức chính trị thấp. Trong báo cáo trước các đại biểu, Tổng bí thư Trường Chinh tuyên bố rằng việc chống lại ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa cá nhân, ngạo mạn, thái độ và việc làm quan liêu, tham nhũng và đạo đức lỏng lẻo trong đảng viên là vô cùng quan trọng. Ông khẳng định rằng chỉ một Đảng Cộng sản có kỷ luật cao và trong sáng trước công chúng mới có khả năng đóng vai trò tích cực trong đấu tranh chống những tệ nạn đó và đóng vai trò tiên phong trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    Ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc hoạch định chính sách đối nội cũng được thừa nhận công khai tại Đại hội. Trường Chinh tuyên bố rằng nước Việt Nam tương lai sẽ áp dụng mô hình “chuyên chính dân chủ nhân dân” kiểu Trung Quốc chứ không theo mô hình “chuyên chính vô sản” Đông Âu theo kiểu Liên Xô. Theo mô hình Trung Quốc, mục tiêu trước mắt là tiến hành giai đoạn đầu của cách mạng dân tộc chủ để chuẩn bị cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa sau này, nhưng không có thời kỳ quá độ kéo dài giữa hai giai đoàn này. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, theo cách nói của Lê-nin, sẽ “phát triển” sang giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Để giành được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng, Mặt trận Việt Minh – một liên minh rộng rãi của các lực lượng yêu nước được hình thành năm 1941 và hiện công chúng thấy rõ là đang chịu sự lãnh đạo của những người cộng sản – cần được đổi tên thành Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam hay Mặt trận Liên Việt.

    Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng cần có tên mới – Đảng Lao động Việt Nam. Khi đưa từ dễ gây xúc động “Việt Nam” vào tên Đảng, các nhà lãnh đạo rõ ràng đã công nhận tầm quan trọng to lớn của cuộc đấu tranh phản đế trong việc giành sự ủng hộ của dân chúng, một quan điểm mà bản thân Hồ Chí Minh luôn tâm niệm kể từ giữa những năm 20. Đồng thời, quyết định này cũng là một cử chỉ ngầm đáp lại tinh thần dân tộc chủ nghĩa đang dâng lên ở các nước Lào và Cam-pu-chia-a, nơi các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương người Lào và Khơ-me ngày càng thấy khó chịu trước sự chỉ đạo, đôi khi có tính chất nhồi nhét của các cấp trên người Việt và đòi phải có Đảng riêng của mình. Đảng lúc này đã chính thức công nhận rằng cách mạng ở ba nước sẽ phát triển với tốc độ khác nhau và mỗi nước sẽ có đảng riêng của mình để đóng vai trò tiên phong trong quá trình đó. Trong khi Việt Nam đang tiến tới cách mạng dân tộc dân chủ và sau đó tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, Lào và Căm-pu-chia đã đi theo hướng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa của họ sẽ bị trì hoãn một số năm.

    Tuy nhiên, quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba đảng riêng biệt không có nghĩa là Hồ Chí Minh và các cộng sự không còn quan tâm đến các nước khác ở Đông Dương. Ngược lại, mặc dù các tổ chức được thiết lập tại Lào và Cam-pu-chia-a mang tên Đảng Nhân dân Cách mạng, kế hoạch thiết lập một liên minh chặt chẽ giữa ba nhóm đã được đưa ra ngay sau khi Đại hội II kết thúc. Theo một tài liệu chính thức của Đảng được đưa ra tại Đại hội sau này Pháp lấy được, người Việt Nam không hề có ý định chấm dứt sự kiểm soát đối với phong trào cách mạng trên toàn Đông Dương. Tài liệu này tuyên bố “Đảng Việt Nam giữ quyền giám sát hoạt động của các đảng anh em ở Lào và Cam-pu-chia-a.” Và mặc dù các nguồn tin của Việt Nam sau này xác nhận rằng quan niệm về một liên bang Đông Dương (lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Ma Cao năm 1935) đã được công khai từ bỏ lại Đại hội năm 1951, nhưng tài liệu tịch thu được này lại nói ngược lại, rằng mặc dù có ba đảng riêng biệt, “sau này, nếu điều kiện cho phép, ba đảng cách mạng ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chi-a sẽ có thể thống nhất lại để thành lập một đảng duy nhất : Đảng liên bang Việt-Khơ-me-Lào”

    Quyết định duy trì quan hệ chặt chẽ giữa ba nước, đoàn kết thống nhất trong Liên hiệp Pháp chứng tỏ rằng giới lãnh đạo Đảng nhận thấy tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương như một khối thống nhất. Trong một cuốn sách học của Đảng mà người Pháp thu được năm 1950, ba nước được miêu tả như một khối thống nhất từ quan điểm đến địa lý, kinh tế, chính trị và chiến lược. Tài liệu này nói rằng các phong trào cách mạng ở ba nước được định hướng giúp đỡ lẫn nhau trong mọi lĩnh vực để tiến hành cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và xây dựng “nền dân chủ mới” trong tương lai.

    Dấu ấn của Hồ Chí Minh có thể được tìm thấy trong nhiều tài liệu được Đại hội thông qua. Các cộng sự của ông đã chiếu theo ý kiến kiên quyết của Hồ Chí Minh cần phải đặt mục tiêu phản đế lên trên phản phong ở Đông Dương và công nhận cần phải hiệu triệu những phần tử ôn hoà trong xã hội Việt Nam. Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuộc cách mạng hai giai đoạn (dù có ngắn đến đâu) và sự cần thiết phải áp dụng ý thức hệ cách mạng vào điều kiện cụ thể ở mỗi nước, các đảng viên đã hưởng ứng khuynh hướng thực dụng, điều luôn là ý tưởng của ông từ những ngày đầu tiên của phong trào.

    Tuy nhiên, khó tránh khỏi kết luận là Bắc Kinh cũng có ảnh hưởng chính đằng sau những quyết định tại Đại hội II. Bằng việc quyết định lập lại Đảng Cộng sản như một “lực lượng đưa đường chỉ lối” hiện hữu thúc đẩy cách mạng Việt Nam, người Việt Nam đã đáp lại chỉ trích từ Trung Quốc và Liên Xô rằng cuộc đấu tranh của họ từ trước đến giờ vẫn thiếu màu sắc Mác-xít cần thiết. Việc sử dụng thuật ngữ “nền dân chủ mới” là một sự bắt chước trực tiếp từ một mô hình mới được chính người Trung Quốc áp dụng, trong khi nhấn mạnh đến “sự lớn mạnh” của cách mạng từ giai đoạn một sang giai đoạn hai, họ nhấn mạnh đến những quan ngại từ phía Mát-xcơ-va và Bắc Kinh rằng Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn chưa chính thống trong các hoạt động của mình.

    Phản ứng của Hồ Chí Minh trước các quyết định tại Đại hội có lẽ lẫn lộn. Là một người có đầu óc thực tế, ông hiểu tầm quan trọng của việc xoa dịu Bắc Kinh để khuyến khích sự ủng hộ của Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam và ít người sánh được với ông về khả năng quỵ luỵ trước Mao Chủ tịch và các cộng sự hãnh tiến của Mao. Nhưng chắc ông cũng lo lắng về hiểm hoạ của những ảnh hưởng thái quá của Trung Quốc và nhận thức được rằng nhiều yếu tố trong mô hình Trung Quốc – cụ thể là nâng cao vai trò của Đảng, sự nhấn mạnh ngày càng nhiều tới cải huấn tư tưởng và sự trừng phạt nặng nề giành cho những ai bị tình nghi là phản động – có thể sẽ không thành công trên mảnh đất nhiệt đới của xứ Đông Dương thuộc Pháp này. Những bản năng bao quát của ông chắc chắn đã phản kháng khi biết rằng nhiều người yêu nước Việt Nam sẽ bị đẩy ra khỏi hàng ngũ của Mặt trận Việt Minh và rơi vào tay kẻ thù.

    Những lo lắng của ông Hồ không qua được mắt những nhà quan sát thời đó và có nhiều lời đồn rằng mặc dù Hồ Chí Minh được khẳng định là Chủ tịch Đảng, cuộc họp đã đánh dấu một thất bại lớn của ông Hồ và ảnh hưởng của ông trong phong trào cách mạng Việt Nam. Theo các nguồn tin tình báo Pháp, một trong những kết quả của Đại hội là thay thế ảnh hưởng của những người ôn hoà như Hồ Chí Minh bằng những thành phần cứng rắn đứng đầu là trường Chinh – người vừa được bầu lại vào vị trí Tổng Bí thư Đảng và một nguồn tin báo chí tại Sài Gòn thậm chí đưa tin rằng ông Hồ đã bị tử hình theo lệnh của Võ Nguyên Giáp. Các nguồn thạo tin tại Hà Nội thừa nhận rằng Đại hội thể hiện thất bại của Hồ Chí Minh và thắng thế của những người như Trường Chinh – những người quyết tâm đi theo lời khuyên của Trung Quốc và áp dụng đường lối cứng rắn hơn đối với cách mạng Việt Nam. Một Uỷ ban Trung ương mới gồm 29 uỷ viên đã được bầu ra (thành phần chủ yếu là những nhà cách mạng lão thành đã hoạt động tích cực trong Đảng từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai). Uỷ ban Trung ương lại bầu ra một Ban Chấp hành (bắt chước theo mô hình của Liên Xô là Bộ Chính Trị), gồm 7 đảng viên hàng đầu của Đảng và một uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị sẽ điều khiển công việc của Đảng và chính phủ.

    Các thành viên chính của tổ chức này được mọi người coi là “tứ trụ” là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh. Tóm tắt tiểu sử đăng trên báo Nhân dân của Đảng tháng ba mô tả Trường Chinh như kiến trúc sư và người lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong khi Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc cách mạng.

    Sau khi ông Giáp thất bại trong cuộc tấn công ở đồng bằng sông Hồng, cuộc xung đột dần lắng xuống và trở thành cuộc chiến cân bằng. Năm 1951, hầu hết các cố gắng của Việt Minh tập trung vào phía Bắc. Sau thất bại của cuộc tiến công của ông Nguyễn Bình mùa hè năm 1950, các nhà chiến lược Việt Minh tạm gác cuộc đấu tranh ở Nam Bộ. Ông Bình tổ chức những cuộc tuần hành lớn ở Sài Gòn chống lại chiến tranh và những khó khăn kinh tế và xã hội do chiến tranh gây ra. Ông coi đó là một phần chiến lược của mình. Nhân dân, đặc biệt là công nhân và sinh viên, phải chịu cảnh lạm phát và quân dịch, đã tham gia vào các cuộc tuần hành nhưng nhiều người trung dung cảm thấy đường đột vì các cuộc tuần hành này có khả năng dẫn đến bạo lực và không ủng hộ phong trào. Nguyễn Văn Tâm, Thủ tướng mới của Bảo Đại, trước là Tổng trưởng cảnh sát được mọi người gọi là “mãnh hổ Mai Lai” vì đã áp đặt mạnh mẽ những hoạt động nổi dậy ở miền Nam, phá vỡ bộ máy của Việt Minh tại Sài Gòn và đến tháng 8, bộ máy Việt Minh hầu như đã chấm dứt hoạt động. Để chỉ đạo hoạt động cách mạng ở miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam thành lập Trung ương Cục (tiếng Anh gọi là COSVN) và đặt trực tiếp dưới sự kiểm soát của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

    Chiến trường Nam Bộ hầu như không hoạt động, ông Giáp và cộng sự của ông chuyển cố gắng của mình sang Lào và Cam-pu-chi-a cũng như vùng núi Tây Bắc Bắc Bộ. Mục tiêu của ông Giáp là giữ chặt lực lượng quân sự của Pháp và buộc Pháp phải dàn trải quân khắp Đông Dương. Điều này tạo điều kiện cho Việt Minh có thể chọn được điểm yếu của quân Pháp. Việt Minh có thể tấn công công khai lực lượng thù địch và rồi có thể giáng cho lực lượng này thất bại nhuc nhã.

    Hoà Bình là một thời cơ như vậy. Quân Pháp cho rằng thành phố Hoà Bình nằm ở ngoại vi đồng bằng sông Hồng là ngã ba trọng yếu nối tổng hành dinh của Việt Minh ở Việt Bắc với miền Trung và miền Nam, nguồn cung cấp tân binh và lương thực chính. Hồ Chí Minh đã nói với cộng sự của mình: “Ruộng lúa là chiến trường”. Các đơn vị Pháp chiếm thành phố tháng 11 năm 1951 và với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc, Việt Minh tấn công mạnh vào các vị trí của Pháp ở khu vực này. Chiến sự dồn dập – như nhà sử học Béc-na Phôn gọi là cối xay thịt – đã diễn ra sau đó và quân Pháp đã bị bỏ vị trí của mình tháng 2 năm 1952, rút quân về đồng bằng. Vào lúc đó, tướng Đơ Lát về Pháp và chết vì ung thư vào tháng giêng. Đến thời điểm này, cách nhìn lạc quan trong các phần tử thân Pháp ở Đông Dương do tính năng động của ông Đơ Lát đem lại đã biến mất. Trận Hoà Bình được coi là thất bại lớn của Pháp; sứ quán Mỹ ở Sài Gòn báo cáo những người quốc gia chủ nghĩa không cộng sản nản lòng và ngày càng tin rằng đến mùa hè Việt Minh sẽ chiếm Hà Nội.

    Theo lệnh của Đơ Lát, quân Pháp xây dựng một loạt đồn bốt hòng ngăn chặn Việt Minh xâm nhập đồng bằng, những phòng tuyến Đơ Lát cũng không hữu hiệu hơn phòng tuyến Ma-gi-nô của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Việt Minh bỏ qua các đồn bốt đó hoặc tấn công và đánh chiếm từng đồn một. Đến cuối năm 1952, các đơn vị Việt Minh đã có thể tự do di chuyển trong vùng quanh Hà Nội, tổ chức cách mạng đã được thành lập trong nửa số làng ở vùng đồng bằng. Chiến thắng Hoà Bình mở ra triển vọng lớn.

    Mùa thu năm ấy, các nhà chiến lược Việt Minh đã mở một mặt trận mới ở vùng Tây Bắc xa xôi. Quân Pháp đã chiếm giữ vùng rộng lớn đầy núi cao và thung lũng nhỏ hiểm trở từ khi cuộc chiến bắt đầu. Vào mùa thu năm 1952, theo gợi ý của cố vấn Trung Quốc, các nhà chiến lược Việt Minh bắt đầu soạn thảo kế hoạch tấn công vào đồn bốt quân Pháp ở vùng này chuẩn bị cho một chiến dịch ở Trung và Bắc Lào. Làm như vậy, Việt Minh đã đánh lạc hướng lực lượng địch chú ý tới vùng đồng bằng, càng làm cho quân địch dễ bị tấn công hơn. Tháng 9, Hồ Chí Minh bí mật đi Bắc Kinh tham khảo ý kiến về chiến dịch này. Ông còn đi tiếp Liên Xô, tham dự Hội nghị lần thứ 19 Đảng Cộng sản Liên Xô. Vào cuối tháng 9, kế hoạch tấn công căn cứ của Pháp tại Nghĩa Lộ được thông qua. Ông Hồ về Việt Nam tháng 12.

    Vào giữa tháng 10 năm 1952, ba sư đoàn của Việt Minh tấn công căn cứ của Pháp ở Nghĩa Lộ. Các đơn vị của Pháp rút lui về vị trí đóng quân gần đó ở Nà Sản và Lai Châu, bỏ vị trí của mình ở Sơn La, cách Nghĩa Lộ 65 cây số về phía Tây. Quân Việt Minh chiếm Sơn La, tập trung tấn công Nà Sản nhưng không thành công và tổn thương hàng ngàn quân. Nhưng thất bại không chiếm được Nà Sản chỉ là tạm thời. Vào đầu mùa thu sau, Việt Minh tập kết và tiến quân sang phía bên kia biên giới Lào, chiếm Sầm Nưa và đe doạ kinh đô Luông Pra-băng. Và rồi sau khi buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng của mình, quân Việt Minh trở về Việt Bắc.

    Trong suốt giai đoạn này, Hồ Chí Minh vẫn là người vô hình đối với thế giới bên ngoài, một nhân vật huyền bí không được nguồn tin đáng tin cậy nào của phương Tây nói đến từ mùa thu năm 1947. Ở Hà Nội, có một số người dựa trên tin là ông ốm liên miên trong thời gian sau Chiến tranh thế giới thứ, đoán rằng ông đã chết và thậm chí còn bị đày ở Trung Quốc vì chống lại sự có mặt ngày càng tăng của Quân đội nhân dân Trung Hoa. Các nguồn tin tình báo của Pháp khẳng định rằng ông vẫn sống dựa vào bức ảnh của báo Nhân Đạo chụp khoảng tháng 7 năm 1952. Cuối cùng Giô-dép Xta-rô-bin, phóng viên tờ Công nhân hàng ngày đã gặp ông tại một địa điểm bí mật ở Việt Bắc tháng 3 năm 1953 và đăng bài phỏng vấn này lên báo của các nước nói tiếng Anh.

    Tuy nhiên, ở vùng giải phóng, Hồ Chí Minh là người ai cũng biết đến, ông là nhà chiến lược chiến tranh, cổ động viên chính cho sự nghiệp cách mạng. Tháng 2 năm 1952, một tù binh Pháp được thả cho biết rằng người ta thấy ông Hồ ở khắp nơi, ở mặt trận, ở trong làng, trên đồng ruộng và trong các cuộc họp cán bộ địa phương. Ăn mặc như một nông dân, ông liên tục tiếp cận những người theo ông, đùa với họ và khuyến khích họ hy sinh tất cả vì mục tiêu chung. Mặc dù điều kiện sống ở vùng giải phóng có phần tốt hơn nhưng những tháng cuối cùng của Chiến tranh thế giới thứ hai, quân Pháp vẫn liên tục ném bom vùng này và cứ ba đến năm ngày thì ông Hồ phải thay đổi chỗ ở một lần để tránh bị phát hiện và bắt. Mặc dù đã hơn 60 tuổi, ông vẫn đi bộ 50 cây số mỗi ngày qua những đường núi ngoằn nghèo, trên lưng địu một gùi hàng. Ông dậy sớm tập thể dục. Sau khi làm việc, vào buổi tối ông chơi bóng chuyền, bơi và đọc sách.

    Theo những tin tức lẻ tẻ của những người đào nhiệm hay tù binh được thả, tinh thần trong vùng giải phóng suy giảm và số người phàn nàn về điều kiện sống ngày càng tăng. Các nhà lãnh đạo Việt Minh đã buộc phải áp đặt lại chế độ lao động bắt buộc trong những vùng thuộc quyền kiểm soát của mình để thực hiện những dự án công. Theo chế độ này, người làm việc không được nhận lương ngoài một lượng lương thực rất nhỏ đủ ăn. Giới trí thức ngày càng lo sợ những buổi học chính trị và tự phê trong khi thuế thì cao, lao động tự nguyện và các trận ném bom không ngừng của quân Pháp làm nhân dân mất tinh thần. Tuy vậy, hầu hết các nhà quan sát đều cho rằng đa số cư dân địa phương tiếp tục ủng hộ Việt Minh vì đã có những cố gắng giành lại độc lập từ quân Pháp.

    Chiến tranh leo thang, việc huy động quân và cung cấp lương thực ngày càng khó khăn hơn. Đến thời điểm này, nguồn nhân lực từ nông thôn hầu như đã cạn và bộ máy Việt Minh ở những thành phố lớn hầu như đã bị phá vỡ và Đảng buộc phải sử dụng các phương pháp mạng mẽ hơn để bắt lao động và bắt lính ở nông thôn. Có tin không chính thức là một số nông dân phải chuyển đi sinh sống ở vùng khác để trốn nghĩa vụ. Trong những năm đầu của cuộc xung đột, những đóng góp bằng thóc của nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, sau này chính quyền buộc phải đánh thuế nông nhiệp là 15% hoa màu thu hoạch được hàng năm.

    Một trong những khó khăn để huy động giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân vùng nông thôn là thái độ bàng quan của nhiều nông dân đối với cuộc đấu tranh bởi vì họ không thấy được ý nghĩa của cuộc đấu tranh này đối với họ. Vào cuối những năm 40 đã có những biện pháp giảm địa tô, lãi suất tiền vay và phân phối lại đất của những người cộng tác với Pháp cho dân nghèo, nhưng những biện pháp này có kết quả rất hạn chế. Do vậy, nhiều địa chủ cảm thấy hoàn toàn an tâm khi không chú ý gì đến chỉ thị của Việt Minh hoặc tiếp tục ủng hộ quân Pháp trong một số trường hợp ở ngay trong vùng do cách mạng kiểm soát.

    Đến thời điểm Hội nghị toàn quốc lần thứ hai của Đảng đầu năm 1951, những khó khăn này trở nên nghiêm trọng, cần phải có hành động và Trung ương Đảng đã thông qua một số biện pháp sửa đổi nhỏ. Nhưng những biện pháp quyết định vẫn không thể có được vì Đảng cố thực hiện chiến lược tạo dựng một mặt trận đoàn kết rộng rãi nhất có thể được chống kẻ thù chung là đế quốc. Mặc dù phương pháp giải quyết này chính là của Hồ Chí Minh, ngay cả Trường Chinh trong báo cáo của mình tại Đại hội đã thừa nhận rằng nhiệm vụ trọng yếu hiện tại là phản đế. Mặc dù phản phong cũng là nhiệm vụ rất quan trọng và “phải được thực hiện đồng thời với nhiệm vụ phản đế”, ông nói, nhiệm vụ này phải được thực hiện “từng bước” nhằm duy trì đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh chung. Do vậy, chính phủ đã không thực hiện chính sách trưng thu và phân phối lại toàn bộ đất đai do giai cấp địa chủ sở hữu. Tuy vậy, đến năm 1952, một số lãnh đạo có ảnh hưởng của Đảng đã bắt đầu lập luận rằng cần có những biện pháp triệt để hơn nữa để giành được sự ủng hộ của người nghèo ở nông thôn.

    Tháng 1 năm 1950, một chỉ thị mới được công bố. Dựa trên kinh nghiệm của Trung Quốc trong thời kỳ nội chiến ác liệt nhất, chỉ thị này thông báo giảm tô mạnh và trưng thu đất của địa chủ không hợp tác tích cực trong kháng chiến. Toà án cải cách ruộng đất gồm nông dân cấp tiến được thành lập ở cấp xã tiến hành điều tra sở hữu đất đai trong xã để có thể phân chia lại. Các buổi phê bình công khai tương tự như các buổi “ôn nghèo kể khổ” ở Trung Quốc đã được tổ chức trong các xã giải phóng, khuyến khích người nghèo chỉ trích thái độ độc tài của các phần tử giàu có trong cộng đồng. Có những tin cho rằng trong một số trường hợp, do cố vấn Trung Quốc hối thúc, các nhà hoạt động Việt Minh đã hành quyết ngay những người bị buộc tội là phạm “tội phản dân”. Như tác giả Dương Văn Mai mô tả trong cuốn sách đầy hấp dẫn về những điều đã xẩy ra đối với gia đình bà trong cuộc xung đột. Cán bộ cải cách ruộng đất bắt giam những địa chủ bị buộc là đàn áp dân ngèo. Và rồi:

    “Họ xử địa chủ tại phiên toà không chính thức, được chuẩn bị cẩn thận để những phiên toà này thể hiện ý chí của nhân dân. Khoảng 10 nông dân nghèo từng chịu đau khổ nhất và căm thù địa chủ nhất được chọn và chuẩn bị sẵn từ trước để tố cáo địa chủ trước toà. Khi nông dân lần lượt tố cáo dịa chủ ở toà, các nông dân ngèo khác sẽ hô to: “địa chủ cút đi” để tăng bầu không khí thù địch. Nếu là án tử hình, địa chủ sẽ bị hành hình ngay tại chỗ. Nếu là án tù, họ sẽ bị chuyển đi nơi khác. Tài sản của địa chủ phạm tội bao gồm đất đai, nhà cửa, trâu bò kéo và công cụ bị trưng dụng và phân phối lại cho những nông dân thiếu thốn nhất”.

    Các nhà lãnh đạo Đảng hy vọng rằng những biện pháp như vậy sẽ làm nông dân nghèo nhất phấn khởi và khuyến khích họ tham gia kháng chiến. Ngày 4 tháng 6 năm 1953, đài phát thanh của Việt Minh đã truyền đi một bức thư mà theo đài là của một phụ nữ nông dân gửi cho Hồ Chí Minh:

    ‘Trong thời gian bị Pháp đô hộ, tôi và con tôi không có cơm ăn và cũng chẳng có áo mặc. Con của tôi phải đi ở đợ và tôi phải mót khoai và tìm củ mài để sống qua ngày…Cuối năm 1952, nông dân bắt đầu đấu tranh chống địa chủ bất lương và sấu xa…Nhờ có Chủ tịch, chúng tôi mới có cuộc sống dễ chịu. Chúng tôi không bao giờ quyên ơn này”.

    Với các phần tử cấp tiến thì những biện pháp này chưa đủ vì số nông dân không có ruộng đất ở vùng giải phóng dù đã giảm nhưng vẫn ở mức 15% dân số. Tại Hội Nghị Nông nghiệp toàn quốc tháng 11, Trường Chinh đề xuất phải có chính sách cứng rắn hơn và đệ trình dự án luật cải cách ruộng đất mới cho phép tịch thu ruộng đất và tài sản của toàn bộ giai cấp địa chủ.

    Thái độ của Hồ Chí Minh với dự án luật này chưa bao giờ rõ ràng, mặc dù rất có thể là ông đã có lập luận chống lại chương trình cải cách ruộng đất được tiến hành chặt chẽ đến mức phân hoá các phần tử trung dung. Tuy nhiên, nhu cầu về nhân lực của cách mạng cuối cùng đã thắng thế. Trong một diễn văn đọc trước Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vài tuần sau Hội nghị Nông nghiệp toàn quốc, ông Hồ công nhận rằng các chính sách trước đó của chính phủ chú ý quá nhiều đến quan điểm của giai cấp địa chủ mà không chú ý đầy đủ đến mỗi quan tâm của nông dân. Tháng sau, luật cải cách ruộng đất mới quy định thực hiện việc giảm tô và trưng thu đất đai của toàn bộ giai cấp địa chủ. Địa chủ được xếp là tiến bộ về mặt chính trị sẽ được đền bù bằng công trái nhà nước, nhưng vẫn phải từ bỏ toàn bộ ruộng đất của mình ngoài phần cần thiết để sống. Địa chủ bị buộc tội là cường hào ác bá sẽ bị trừng trị. Mục tiêu của luật mới này không những chỉ nhằm giành được sự ủng hộ của nông dân mà còn phá bỏ quyền lực của giai cấp địa chủ ở nông thôn. Tuy chương trình cải cách ruộng đất quy định tiến hành cải huấn cho địa chủ không bị buộc tội là phản dân, trên thực tế những quy định này không được các cán bộ đầy tham vọng cấp xã chú ý đến. Lần đầu tiên kể từ cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh năm 1930-1931, Đảng đã quyết định mở cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn.

    Tháng 1 năm 1953, Ai-xen-hao trở thành Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ. Trong khi tranh cử, ông đưa ra Cương lĩnh “đẩy lùi cộng sản” và lãnh đạo Đảng Cộng Hoà chỉ trích việc mất Trung Hoa và tình thế tiến thoái lưỡng nam ở Triều Tiên và coi đó là di sản của Tổng thống Dân chủ trước đó. Trong diễn văn tình hình liên bang đầu tháng 2, Ai-xen-hao hầu như chẳng đề cập đến Đông Dương, mà chỉ nói rằng cuộc chiến tranh Triều Tiên là “một phần của cuộc tấn có tính toán trước của kẻ địch ở Đông Dương và Ma-lai-xi-a và một phần của tình hình chiến lược rõ ràng bao gồm Đài Loan và lực lượng Quốc dân Đảng đang chiếm giữ tại đó”. Trong khi hội đàm với Thủ Tướng Pháp Rơ-nê May-ê tại Nhà Trắng cuối tháng 3. Tổng thống Mỹ mới cho biết rằng ông sẵn sàng tăng viện trợ cho quân Pháp với điều kiện là nếu quân Pháp chứng tỏ ý chí giải quyết vấn đề mạnh bạo hơn trong công cuộc tìm kiếm thắng lợi cuối cùng ở Đông Dương.

    Tuy nhiên, Pháp từ lâu đã từ bỏ ý định này. Ngay từ đầu tháng 12 năm 1949, tướng Các-păng-chi-lê đã cảnh báo Tổng thống Vanh-xăng Ô-ri-ô là nhiều nhất thì Pháp cũng chỉ có thể đạt được một giải pháp chính trị. Việc quân Pháp rút khỏi vùng biên giới một năm sau đó thể hiện sự chấp nhận ngầm quan điểm bi quan của Các-păng-chi-ê. Việc cử tướng Đơ-Lát Đơ Tát-xi-nhi chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương cuối năm 1950 đã làm cho mọi người tin rằng quân Pháp có thể thắng cộng sản, việc tướng Tát-xi-nhi về nước và cử tướng Xa-lăng thay thế một năm sau đã làm cho các tướng lĩnh và các nhà chính trị Pháp chỉ còn thấy giải pháp chính trị mà thôi.

    Để nhận viện trợ của Mỹ nhằm cải thiện vị thế của mình trước khi có giải pháp thương lượng, quân Pháp cần phải chứng minh rằng họ đã có cách giải quyết vấn đề mạnh hơn. Trách nhiệm thuyết phục Nhà trắng tăng viện trợ quân sự của Mỹ nay thuộc về chỉ huy mới của Pháp là tướng Hăng-ri Na-va. Là tổng tham mưu trưởng lực lượng NATO của Pháp tại châu Âu, Na-va hoàn toàn không phải là người Oa-sinh-tơn ưa để thay Xa-lăng vì ông có tiếng là thận trọng và thậm chí không quyết đoán. Sau khi được cử làm chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp, Na-va đã cố giảm bớt mối nghi ngờ về mình bằng cách đưa ra một chiến lược đầy tham vọng giành thế chủ động trong chiến trận Đông Dương.

    Việc May-ê tỏ ra có vẻ có lập trường mạnh bạo đối với Đông Dương có kết quả rất hạn chế ở OA-sinh-tơn và Oa-sinh-tơn vẫn nghi ngờ ý định của Pháp. Đầu tháng 8 năm 1953, một bài báo của tạp chí Đời sống chỉ trích mạnh mẽ những nỗ lực của Pháp ở Đông Dương và khẳng định rằng Pháp “đã thua”. Tuy vậy, chính quyền mới ở Oa-sinh-tơn không có mấy lựa chọn nữa. Tham mưu trưởng liên quân đã đồng ý với kế hoạch Na-va và tháng 9 chính quyền Ai-xem-hao ký hiệp ước mới tăng viện trợ của Mỹ cho lực lượng viễn chinh Pháp. Tuy vậy, Pa-ri đánh giá tình hình không khả quan. Rơ-nê Pơ-lê-ven, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp, cảnh báo rằng kế hoạch Na-va là không thực tế và tháng 7 sứ quán Mỹ tại Pa-ri cho biết chính phủ Pháp đã không chấp nhận đề nghị của tướng Na-va chuyển từ châu Âu sang thêm 12 tiểu đoàn. Sự ủng hộ của dân chúng đối với cuộc chiến tranh giảm sút nhanh chóng và khi tin tức về hiệp định viện trợ được thông báo tại Pa-ri ngày 29 tháng 9, những người chỉ trích cuộc chiến tranh lại nói rằng máu của người Pháp đang được đổi lấy đô-la-Mỹ.

    Kế hoạch Na-va dự kiến sẽ phát huy tác dụng vào mùa thu và mùa hè năm 1954. Trong thời gian này, quân Pháp sẽ thực hiện chính sách phòng ngự, đồng thời củng cố vị trí của mình ở đồng bằng sông Hồng và các khu vực trọng yếu khác ở Việt Nam. Một trong những khu vực trọng yếu này là ở vùng Tây Bắc xa xăm, khu vực bị các đơn vị Việt Minh chiếm giữ từ mùa thu năm 1952 làm bàn đạp tấn công Lào. Tháng 11 năm 1953 theo lệnh của Pa-ri phải bảo vệ thủ đô Luông pha bang của Lào khỏi sự đe doạ của địch, Na-va quyết định chiếm giữ cứ điểm Điện Biên Phủ, một huyện lỵ nhỏ trong thung lũng núi xa xăm gần biên giới với Lào và coi đó là cách làm gián đoạn liên kết giữa Trung và Bắc Lào của Vịêt Minh. Huyện lỵ này trước đây đã bị Việt Minh chiếm giữ trong chiến dịch Tây Bắc. Giờ đây , quân Pháp nhảy dù xuống để chiếm lại.

    Trong khi tướng Na-va cố thực hiện giai đoạn đầu chiến lược của mình, các nhà chiến lược Việt Minh cũng vạch ra kế hoạch tác chiến cho chiến dịch năm 1953. Tại một cuộc họp Trung ương đầu năm , các nhà hoạch định chính sách của Đảng đã quyết định tránh đối đầu công khai với lực lượng thù địch trong tương lai gần đồng thời tìm điểm yếu trong lá chắn của địch, đặc biệt là ở Lào, Cam-pu-chi-a và vùng Tây Bắc. Chiến lược này không thay đổi trong cả năm, thậm chí ngay cả khi Na-va đã quyết định một cách rõ ràng là phải tập trung lực lượng ở đồng bằng sông Hồng để ngăn chặn mối đe doạ của Việt Minh đối với vùng phụ cận Hà Nội. Ông Võ Nguyên Giáp đề xuất tiến hành chiến dịch lớn ở đồng bằng với mục tiêu cuối cùng là đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, những cố vấn Trung Quốc lại muốn có chiến lược thận trọng hơn tập trung vào vùng núi Tây Bắc. Hồ Chí Minh ủng hộ ý kiến của các cố vấn Trung Quốc và Bộ Chính trị đã chấp thuận ý kiến này vào tháng 9. Kế hoạch này dự kiến sẽ được khẳng định tại một cuộc họp của Quận uỷ Trung ương tháng 11.

    Tin quân Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ đến tổng hành dinh của Việt Minh trong lúc các nhà chỉ huy quân sự đang chuẩn bị trình Quân uỷ Trung ương kế hoạch tấn công Pháp ở Lai Châu, vị trí quân sự biệt lập cách Điện Biên Phủ 50 cây số về hướng Bắc. Với các nhà lãnh đạo Việt Minh, nếu Việt Minh chiếm lại căn cứ này thì sẽ tác động tới tinh thần quân Pháp và chuẩn bị cho những bước tiếp theo trong những năm tới. Khu vực này cũng có những lợi thế chiến lược. Cách Hà Nội 320 cây số, quân Pháp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp viện cho Điện Biên Phủ.

    Mặt khác, đánh Điện Biên Phủ sẽ là lần đầu tiên Việt Minh tấn công trực diện một căn cứ được lực lượng Pháp bảo vệ vững chắc. Tuy vậy, Điện Biên Phủ nằm ở thung lũng, gần biên giới với Trung Quốc và tổng hành dinh Việt Minh ở Việt Bắc cho phép Việt Minh dễ dàng chuyển khối lượng lớn vật dụng từ Trung Quốc. Sau khi tính toán kỹ lưỡng các khả năng và được cố vấn Trung Quốc và cấp trên ở Bắc Kinh khuyến khích, ngày 6 tháng 12, lãnh đạo Đảng quyết định tập trung nỗ lực trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong năm đó , lãnh đạo Đảng bắt dầu bí mật chuyển ba sư đoàn chủ lực mới được thành lập ở vùng núi quanh Điện Biên Phủ trong khi các đơn vị khác tiến vào Bắc Lào để đánh lạc hướng và buộc quân Pháp phải dàn trải lực lượng của mình.

    Tại sao các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại đột nhiên quyết định kêu gọi khẩn thiết đồng minhViệt Minh tham gia vào cuộc đụng đầu lớn với quân Pháp? Nghĩ cho cùng quyết định tấn công Điện Biên Phủ sẽ buộc Trung Quốc phải tăng viện trợ cả về chất và lượng; điểm mấu chốt dẫn đến thành công sẽ là khả năng pháo cao xạ của Việt Minh có thể làm yếu đi hoặc ngăn được quân Pháp tiếp viện và cung ứng cho khu vực này khi chiến sự leo thang. Mặc dù Bắc Kinh đã viện trợ cho Việt Minh trong cuộc chiến suốt ba năm và thấy được điểm lợi là vừa hoàn thành nghĩa vụ quốc tế Trung Quốc và bảo vệ biên giới phía Nam chống lại sự kiểm soát của đế quốc, trong những tháng đó các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu suy nghĩ. Tháng 7, ngừng bắn đã có hiệu lực ở bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc đã trả giá cao cho hành động can thiệp của Quân Giải phóng Nhân dân và đã có dấu hiệu chứng tỏ các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tìm cách cải thiện quan hệ với phương Tây để giảm bớt nguy cơ xung đột trong tương lai và tạo điều kiện cho chính phủ chuyển những nguồn lực hiếm hoi cho kế hoạch 5 năm tới. Trong môi trường mới, cách nhìn nhận ngày tận thế của Mao Trạch Đông về chiến tranh với đế quốc tất yếu ở châu Á đã mất đi sức mạnh. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 24 tháng 8, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Chu Ân Lai tuyên bố rằng “các vấn đề khác” có thể được bàn đến tại Hội nghị hoà bình nhằm chấm dứt cuộc xung đột ở Triều Tiên. Tháng 12, ông thảo luận với các thành viên của một phái đoàn Ấn Độ về ý tưởng có một thoả thuận chung dựa trên những điều mà sau này trở thành “năm nguyên tắc chung sống hoà bình” giữa các quốc gia. Oa-sinh-tơn đã đáp lại một cách tế nhị khi Bộ trưởng Ngoại giao Đa-lét, trong một diễn văn cho đội quân lê dương Mỹ đầu tháng chín, đã gián tiếp nói rằng “Hoà Kỳ sẵn sàng xem xét một thoả thuận đàm phán để chấm dứt xung đột ở Đông Dương”.

    Mát-xcơ-va cũng ngày càng quan tâm nhiều tới việc chấm dứt xung đột ở Đông Dương. Thủ tướng Liên Xô mới, ông Gioóc-gi Ma-len-cốp, đã trở thành nhân vật trên chính trường sau khi Giô-dép Xta-lin chết tháng ba. Ông có lý do phải có quan hệ tốt với phương Tây, kể cả việc phải giảm bớt ngân sách quốc phòng đã phình to để tập trung nguồn vốn hiếm hoi vào các dự án kinh tế. Cuối tháng 9, Liên Xô đề nghị họp hội nghị năm nước lớn nhằm giảm bớt tình hình căng thẳng quốc tế. Một vài ngày sau, Trung Quốc cũng làm như vây.

    Quân Pháp chiếm Điện Biên Phủ đúng lúc các nhà lãnh đạo Trung Quốc (giống các nhà lãnh đạo Liên Xô) quyết định mở cuộc tấn công hoà bình nhằm đưa lại giải pháp đàm phán ở Đông Dương. Thắng lợi của Việt Minh ở Điện Biên Phủ có thể sẽ làm tình hình trong khu vực căng thẳng thêm khiến Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp. Mặt khác, điều này có thể làm tăng thêm phong trào chống chiến tranh ở Pháp và tạo điều kiện cho một hiệp định hoà bình có lợi cho Việt Minh và Trung Quốc. Với Bắc Kinh, họ sẵn sàng chấp nhận nước cờ rủi ro này.

    Trong khi Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông chắc hẳn đã biết ơn Trung Quốc vì đã tăng cường giúp đỡ chiến dịch Tây Bắc, trước một loạt biểu hiện mong muốn có đàm phán hoà bình của các nước trên thế giới, Tổng hành dinh Việt Minh chắc đã có phản ứng thận trọng. Trong những tháng đầu của cuộc chiến khi Việt Minh rõ ràng yếu hơn kẻ thù của mình, ông Hồ đã bằng mọi cách cố gắng đạt được một giải pháp thoả hiệp. Điều kiện trên mặt trận ngày càng được cải thiện và Pháp rõ ràng không còn tìm kiếm một thắng lợi hoàn toàn thì rất có thể các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng không mặn mà gì nữa với một thoả hiệp. Trong khi nói chuyện với ông Lê-ô Phi-ghe-rơ của Đảng Cộng sản Pháp tháng 3 năm 1950, ông Hồ nhấn mạnh rằng tuy vẫn muốn có một giải pháp thông qua thương lượng nhưng các nhà lãnh đạo Đảng không muốn có thoả hiệp lớn. Ông Trường Chinh thậm chí còn có thái độ thù địch hơn. Trong diễn văn kỷ niệm sáu năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tháng 9 năm 1951, ông Trường Chinh cảnh báo rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không bị dụ dỗ vào bàn đàm phán và nhất mực cho rằng cần phải “xoá bỏ mọi ảo tưởng của những kẻ cơ hội về đàm phán hoà bình với kẻ thù”. Khi Pa-ri có những bước thăm dò về một giải pháp thoả hiệp cuối năm 1952, Việt Nam Dân chủ Cộng hóa đã không để ý tới. Đến tháng 9 năm 1953, Hãng thông tấn (TASS) của Liên Xô đã đưa tin rằng trong diễn văn kỷ niệm lần thứ 8 ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng chỉ có thắng lợi trên chiến trường mới đem lại hoà bình.

    Tuy nhiên, vài tuần sau các nhà lãnh đạo Đảng Việt Nam quyết định theo đề nghị của Mát-xcơ-va và Bắc Kinh là tìm một giải pháp chính trị. Trong một bài phỏng vấn ngày 20 tháng 10 với phóng viên tờ Expesse của Thuỵ Điển, ông Hồ tuyên bố rằng chính phủ sẵn sàng tham dự hội nghị quốc tế nhằm tìm giải pháp hoà bình cho Đông Dương. Ông Hồ nói “Nếu chính phủ Pháp mong muốn đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam thông qua thương lượng, thì nhân dân và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng xem xét đề nghị của Pháp”. Cuộc phỏng vấn này được báo chí thế giới đưa tin nhiều lần. Ít lâu sau, Bắc Kinh công khai bày tỏ sự dồng ý trong một xã luận của báo Nhân dân Nhật báo. Theo một nguồn ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn, đề nghị tiến hành đàm phán hoà bình của ông Hồ đã gây ra một sự “khó hiểu, kinh ngạc và sợ hãi” trong những người Việt không cộng sản ở Sài Gòn.

    Là người có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết rằng một giải pháp thông qua thương lượng là một khả năng tiến tới chấm rứt chiến tranh. Việc Hoa Kỳ tháng 7 năm 1953 quyết định tìm cách chấm dứt xung đột ở Triều Tiên là dấu hiệu an ủi cho thấy rằng đế quốc sẵn sàng nhượng bộ khi gặp phải khó khăn, tin tức này đã làm Việt Minh hy vong rằng Đông Dương có thể có một kết cục tương tự. Nhưng trong một bài diễn văn đọc trước một nhóm trí thức ở Việt Bắc sau đó vài tuần, ông Hồ lại cảnh báo rằng không nên có ảo tưởng là hoà bình sẽ đến một cách dễ dàng. Cũng như người Mỹ, người Pháp không sẵn sàng có nhượng bộ lớn trên bàn đàm phán trừ khi thua trên chiến trường. Ông cảnh báo rằng quân địch “đang bẫy chúng ta bằng mồi, nếu chúng ta vội vã như đàn cá và quên phải cảnh giác để tự vệ, chúng sẽ đánh bại”. Do vậy, điều quan trọng là phải cảnh giác và tiếp tục đấu tranh, thậm chí ngay cả khi Mỹ quyết định tham gia xung đột.

    Trong tình hình như vậy, thậm chí ngay cả khi ông tỏ ý sẵn sàng tham gia hoà đàm, ông Hồ chắc phải có chút nghi ngờ vì điều kiện cho thắng lợi chưa hoàn toàn chín muồi như ông đã nêu với cộng sự của mình trong cuộc gặp tháng 11. Đồng thời, thái độ của Liên Xô và Trung Quốc là đáng lo ngại. Ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là cầm chừng, và do vậy không hy vọng gì nhiều từ Mát-xcơ-va. Nhưng sự ủng hộ vững chắc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một phần trọng yếu trong chiến lược của Việt Minh, do vậy bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ Bắc Kinh sẵn sàng thoả hiệp vấn đề này vì lợi ích dân tộc của họ chắc sẽ làm ông Hồ và cộng sự của ông ở Việt Bắc càng lo lắng hơn.

    Mặt khác, Hồ Chí Minh biết rằng Việt Minh không thể tiếp tục đấu tranh lâu dài nếu không có sự hỗ trợ hoàn toàn của Trung Quốc. Đây không phải là lần đầu ông Hồ chấp nhận phải nhượng bộ để tiếp tục chiến đấu. Về phần mình, Mát-xcơ-va và Bắc Kinh hầu như chẳng cần sự đồng ý của Hà Nội để bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của mình. Tại một Hội nghị tổ chức đầu năm 1954 ở Béc-lin, đại biểu các nước lớn thoả thuận rằng một hội nghị quốc tế khác sẽ được tổ chức tại Giơ-ne-vơ tháng 4 để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoà bình thế giới. Tuy chính quyền Ai-xen-hao khó chịu, Đông Dương và tình hình ở Triều Tiên đều nằm trong đề mục thảo luận. Tháng ba, một phái đoàn Việt Nam đến Bắc Kinh tham khảo ý kiến các quan chức Trung Quốc và xây dựng một chiến lược chung tại Giơ-ne-vơ. Ít lâu sau, một phái đoàn Việt Nam do Hồ Chí Minh dẫn đầu đi Bắc Kinh và Mát-xcơ-va để hoạch định chiến lược đàm phán chung với các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô. Dựa trên kinh nghiệm đàm phán với Mỹ nhằm chấm dứt xung đột ở Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Xô khuyên Việt Nam phải có mục tiêu “thực tế” tại Hội nghị Giơ-ne-vơ.

    Hai ngày sau khi Hội nghị Giơ-ne-vơ được công bố triệu tập, nguồn tin tình báo Pháp cho hay đơn vị Việt Minh ở thượng Lào đã chuyển quân theo hướng đông về Điện Biên Phủ. Mặc dù hoạt động của Việt Minh còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như Bắc Bộ, Tây Nguyên, Lào và hành lang Hà Nội-Hải Phòng-vào đầu tháng 3, tài liệu do Pháp bắt được cho thấy rằng Việt Minh đang chuẩn bị tấn công lớn ở vùng Tây Bắc và cuộc tấn công này sẽ phối hợp với cuộc đàm phán sắp tới tại Giơ-ne-vơ. Có thêm những dấu hiệu chứng tỏ viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Minh đã tăng nhiều, tăng khả năng Việt Minh thắng trận.

    Lần nay, nguồn tin tình báo của Pháp đã đúng. Bắt đầu từ tháng 12, các đơn vị Việt Minh đã dần tập trung ở vùng núi bao quanh căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ, trong khi hàng ngàn dân công được huy động để chuyển đạn dược và pháo cao xạ từ biên giới Trung Quốc đến khu vực này. Một người tham gia đã kể lại cho một nhà báo Mỹ:

    “Chúng tôi phải vượt núi, băng rừng, ban đêm thì hành quân còn ban ngày thì ngủ để tránh bom của kẻ thù. Có lúc chung tôi ngủ hầm, có lúc chúng tôi ngủ ngay cạnh đường. Mỗi chúng tôi đeo súng, đạn và ba-lô. Chúng tôi có chăn, màn và một bộ quần áo. Mỗi người đều có đủ gạo ăn một tuần và được nhận thêm tại các trạm dọc đường. Chúng tôi ăn rau và măng lấy trong rừng và thỉnh thoảng dân làng lại cho chúng tôi thịt. Tôi đã tham gia Việt Minh chín năm rồi nên quen như vậy”.

    Để mang lại điều thuận lợi cần thiết trên chiến trường nhằm đạt được một giải pháp hoà bình tại bàn hội nghị, trong vài tháng liền Trung Quốc tăng viện trợ quân sự. Theo một nguồn tin của Trung Quốc, hơn 2.00 xe tải, 10.000 thùng dầu, hơn 100 súng ca-nông, 60.000 đạn cao xạ, 3.000 súng và khoảng 1.700 tấn ngũ cốc đã được chuyển cho quân đội Việt Nam cố thủ quanh Điện Biên Phủ. Để khuyến khích cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam cố đạt được thắng lợi quân sự, Chu Ân Lai Gửi thông điệp sau: “ Nhằm giành thắng lợi trong lĩnh vực ngoại giao, chúng ta có thể cần phải tính đến việc giành thắng lợi mạnh ở Việt Nam trước đình chiến ở Triều Tiên”. Hồ Chí Minh hiểu rõ điều này. Trong một bức thư gửi ông Giáp tháng 12, ông viết: “Chiến dịch này rất quan trọng, không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt chính trị, không chỉ vì lý do trong nước mà còn vì lý do quốc tế nữa. Do vậy, toàn thể nhân dân ta, toàn thể lực lượng vũ trang ta và toàn thể Đảng ta phải đoàn kết để thực hiện việc này.”

    Với ông Hồ và các cộng sự của ông, vấn đề không còn là liệu có tấn công cứ điểm quân Pháp hay không mà làm thế nào mà tấn công được. Ông Võ Nguyên Giáp vốn thận trọng ủng hộ kế hoạch làm suy yếu quân địch, sử dụng pháo binh bắn phá sân bay nhỏ ở thung lũng Điện Biên Phủ và cắt đường tiếp tế của quân Pháp. Quân Việt Minh sau đó có thể dần vô hiệu hoá hỏa lực của quân Pháp và chiếm từng cứ điểm bên ngoài căn cứ. Theo các nguồn tin Việt Nam, tướng Hoa Quốc Thanh, cố vấn cao cấp của trung Quốc, đã ủng hộ cách giải quyết khác, tiến hành cuộc tấn công thần tốc dựa trên chiến thuật “biển người” đã được các đơn vị giải phóng sử dụng rất có hiệu quả chống lại quân của Liên hợp quốc tại Triều Tiên.

    Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh vào Điện Biên Phủ bắt đầu vào giữa tháng một. Việt Minh đã tập trung 23 tiểu đoàn chính quy bao gồm 50.000 quân ở vùng núi quanh cứ điểm. Số quân này đối chọi với kẻ địch gồm 16.000 quân. Ngoài lực lượng chính quy, Việt Minh có hơn 55.000 quân hỗ trợ và khoảng 100.000 dân công. Nhiều dân công là phụ nữ ở các tỉnh miền trung đã phải đi qua khu vực địch chiếm ở đồng bằng sông Hồng để đến được khu tập kết dọc biên giới Trung Quốc. “Đội quân tóc dài” này mang vác pháo và phương tiện chiến tranh khác hàng trăm dặm đường địa hình khó khăn đến khu vực căn cứ. Mỗi dân công chuyển trung bình 15 cân hàng qua 16 cây số đường rừng mỗi đêm. Tuy hầu hết hàng cung cấp là xăng dầu và đạn dược, nhưng cũng còn có những khẩu pháo lớn của Liên Xô được chuyển từng bộ phận từ biên giới Trung Quốc ở Lạng Sơn, cách hơn 300 cây số.

    Trong giai đoạn đầu, những người tấn công đã theo lời khuyên của Trung Quốc sử dụng chiến thuật “biển người”, nhưng tổn nặng nề đến mức cuối tháng một, Bộ Tư lệnh Việt Nam (theo kêu gọi khẩn thiết của Bắc Kinh) đã đánh giá lại tình hình và quyết định chuyển sang cách đánh thận trọng hơn. Trong vài tuần sau đó, quân Việt Minh đào mấy trăm cây số giao thông hào để tiến vào hệ thống phòng thủ bên ngoài của Pháp mà không bị hoả lực của Pháp khống chế. Đồng thời quân Việt Minh cũng đào một loạt đường hầm quanh cứ điểm đã bị bao vây. Pháo được dân công chuyển từ biên giới Trung Quốc từng phần đến đã được lắp ráp lại tại chỗ và đặt bên trong đường hầm; pháo có thể di động nhanh giữa các địa điểm khác nhau, ngăn không cho quân Pháp dưới cứ điểm phát hiện chính xác điểm bắn.

    Lúc đầu, hàng tiếp tế và quân tiếp cận đến bằng đường không, nhưng rồi sân bay bên ngoài căn cứ không thể sử dụng được nữa vì bị bắn phá rất ác liệt. Máy bay hạ cánh để dỡ đồ tiếp tế hầu như bị pháo của Việt Minh từ núi bao quanh cứ điểm bắn phá. Ít lâu sau, phi công Pháp buộc phải bay vội qua thung lũng và thả dù tiếp tế và tiếp viện. Cuối cùng hoả lực của Việt Minh mạnh đến mức quân tiếp viện nhảy dù xuống thường chết trước khi xuống được đến đất.

    Tình hình càng nguy hiểm, quân Pháp càng khẩn thiết cầu cứu viện trợ của Mỹ. Vào giữa tháng 3, Pa-ri cử tướng Pôn Ê-ly đến Oa-sinh-tơn yêu cầu Mỹ tiến hành không kích để giảm căng thẳng cho cứ điểm của Pháp và bảo vệ cho cứ điểm này khỏi nguy cơ sụp đổ. Đề nghị này được đô đốc A-thơ-Rét-pho, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân và Phó Tổng thống Nich-xơn ủng hộ. Trong một cuộc nói chuyện với Đại sứ Pháp Hăng-ri Bô-nê ngày 28 tháng 4, Ních-xơn tuyên bố “ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Đô đốc Rét-pho và ủng hộ máy bay Mỹ can thiệp ồ ạt để cứu Điện Biên Phủ”. Nhưng Tổng thống Ai-xen-hao, do ý nguyện tham gia cuộc chiến trên bộ ở châu Á của ông đã giảm vì kết cục không dứt khoát của hành động can thiệp tại bán đảo Triều Tiên, lại chần chừ không muốn đưa quân vào Đông Dương nếu không bảo đảm rằng cuộc chiến đấu sẽ được thực hiện trên cơ sở đa phương và với điều kiện là Pháp phải hứa sẽ trao quyền độc lập hoàn toàn cho ba nước Đông Dương. Trong chuyến đi Luân Đôn, Pa-ri, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét phát hiện ra rằng cả Anh lẫn Pháp đều không đồng ý với điều kiện của Mỹ; Ai-xen-hao sau đó đã không chấp nhận yêu cầu của Pháp cung cấp yểm trợ bằng máy bay tuy vẫn thăm dò khả năng Mỹ can thiệp. Ai-xem-hao cũng chần chừ không muốn có một giải pháp thoả đáng trên bàn hội nghị.

    Đầu tháng 5, Việt Minh thâm nhập vào tuyến phòng thủ bên ngoài của cứ điểm Điện Biên Phủ và bắt đầu bắn pháo vào các điểm bên trong. Theo nguồn tin của Trung Quốc, cuối cùng lòng tin của các nhà hoạch định kế hoạch chiến tranh của Việt Minh bị nao núng vì tổn thất lớn và mối đe doạ can thiệp của Mỹ. Với sự cổ vũ mạnh mẽ của Bắc Kinh, Việt Minh cuối cùng quyết định tấn công toàn bộ cứ điểm giành thắng lợi. Cuộc tấn công diễn ra ngày 6 tháng 5. Ông Võ Nguyên Giáp đã miêu tả một cách ngắn gọn là “bộ đội tấn công từ mọi phía, chiếm tổng hành dinh của địch và bắt sống toàn Bộ tham mưu” Quân Pháp thất bại hoàn toàn. Hơn 1.500 quân lính Pháp bị chết, 4.000 bị thương và số còn lại bị bắt làm tù binh hay mất tích. Khoảng 70 quân Pháp thoát trở về phòng tuyến của mình. Tổn thất của Việt Minh lớn hơn nhiều, 25.000 bị chết và bị thương, trong đó có 10.000 bị chết.

    Ngày 7 tháng 5, một ngày sau khi quân Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ, đàm phán hoà bình để giải quyết cuộc xung đột Đông Dương bắt đầu như đã định tại Giơ-ne-vơ. Tham dự hội nghị có đoàn đại biểu của Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng như đại diện chính phủ Bảo Đại, đại diện của chính phủ hoàng gia Cam-pu-chi-a và Lào, bấy giờ gọi là nước liên hiệp. Các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thể hiện cảnh báo trước đây của Hồ Chí Minh cho rằng thắng lợi sẽ không dễ dàng, đến Hội nghị với thái độ thận trọng tuy nhiên họ cảm thấy rằng đó là cơ hội có những bước tiến quan trọng trong cuộc đấu tranh để hoàn toàn thống nhất đất nước.

    Tại phiên khai mạc Hội nghị, phái đoàn Pháp đã nêu điều kiện cho một giải pháp, kêu gọi cả hai bên tập kết quân dưới sự giám sát của Uỷ ban Kiểm soát quốc tế. Ông Phạm Văn Đồng, đứng đầu đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (cũng như tại Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô năm 1946) chấp nhận đề nghị của Pháp cần có ngừng bắn trước khi có giải pháp về các vấn đề chính trị, nhưng trong tất cả các lĩnh vực khác, điều kiện (do Bộ Chính trị soạn thảo) của ông khác hẳn với đề nghị của Pháp. Ông đòi quốc tế công nhận chủ quyền và độc lập hoàn toàn của ba nước Đông Dương, rút hết quân đội nước ngoài và tổ chức tuyển cử tự do dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Ngoài ra, ông còn yêu cầu đại diện của phong trào cách mạng Lào và Cam-pu-chi-a (mọi người vẫn gọi là Pa-thet Lào và Khơ-me đỏ) được dự Hội nghị với tư cách là đại diện của nhân dân hai nước này. Ông Đồng đã đồng ý xem xét khả năng gia nhập Liên hiệp Pháp dựa trên cơ sở tự nguyện và công nhận quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp tại ba nước Đông Dương.

    Pa-ri không còn khả năng mặc cả được gì. Các nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán rằng Hà Nội có thể thất thủ nếu Việt Minh tấn công mạnh. Oa-sinh-tơn cũng có quan điểm bi quan như vậy. Tại một buổi thông báo tình hình của Hội nghị an ninh quốc gia ngày 8 tháng 5, giám đốc CIA A-len Đun dự rằng với 5.000 chiếc xe tải, quân Việt Minh có thể di chuyển dễ dàng từ Điện Biên Phủ đến đồng bằng Bắc Bộ trong vòng từ hai đến ba tuần. Mặc dù lực lượng vũ trang của Pháp ở đồng bằng là 200.000 quân so với 76.000 quân chủ lực của Việt Minh, hầu hết quân Pháp có tinh thần suy sụp và nằm bẹp trong đồn xung quanh toàn là dân cư thù địch hoặc không quan tâm gì. Còn quân đội quốc gia Việt Nam do chính phủ Bảo Đại thành lập sau khi ký Hiệp ước Ê-li-dê, như tướng Na-va gọi họlà “lũ ô hợp”.

    Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp khó khăn nghiêm trọng tại Hội nghị. Mặc dù đại diện Việt Minh đã gặp đại diện của Trung Quốc và Liên Xô trước Hội nghị để soạn thảo chiến lược đàm phán chung, điều rõ ràng là cả Mát-xcơ-va và Bắc Kinh đều không muốn ủng hộ Việt Minh tiếp tục cuộc chiến, và họ cũng chẳng sẵn sàng đáp ứng hoàn toàn mọi yêu cầu của Việt Minh. Cả hai đều chú ý đến lợi ích an ninh của chính mình tại Giơ-ne-vơ và đều mong tránh phải đụng đầu với Hoa Kỳ. Sau khi các cuộc tranh cãi ban đầu lắng đi, rõ ràng cả Ngoại trưởng Liên Xô, ông Vi-a-chê-láp Mô-lô-tốp và trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Hội nghị, ông Chu Ân Lai đều mong có thoả hiệp dựa trên việc chia cắt Việt Nam thanh hai khu vực tập kết, một do Việt Minh chiếm giữ và một do chính phủ Bảo Đại và những người ủng hộ chính phủ này chiếm giữ. Hơn nữa, sau thời gian đầu ủng hộ quan điểm của Việt Minh về Cam-pu-chi-a và Lào, Ngoại trưởng Chu Ân Lai nói rõ với ông Phạm Văn Đồng là Trung Quốc không ủng hộ yêu cầu của Việt Nam dân chủ Cộng hoà đòi Pa-thét Lào và Khơ-me đỏ tham gia Hội nghị như là đại diện chân chính của nhân dân Lào và Căm pu chia. Ông Chu Ân Lai còn cảnh báo vấn đề này sẽ gây nguy cơ đối với quá trình đạt đến giải pháp và dẫn đến can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Ông tin rằng tốt hơn là chấp nhận trung lập hóa hai quốc gia này với chính phủ hoàng gia hiện hành. Để khuyến khích Việt Nam Dân chủ cộng hòa chấp nhận, ông Chu Ân Lai đồng ý kiên quyết lập trường phải cho lực lượng Pa – thét Lào có một khu vực tập kết sau khi xung đột kết thúc. Ông Phạm Văn Đồng rõ ràng là đã lưỡng lự do [?] đồng ý.

    Nhiều năm sau các nguồn chính thức của Việt Nam lại cho rằng cách Chu Ân Lai cư xử tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là do Trung Quốc muốn kéo Lào và Cam-pu-chi-a vào khu vực ảnh hưởng của mình. Mặc dù hầu như không có bằng chứng gì chứng tỏ điều này là đúng, rất có thể Bắc Kinh đã coi hai nước này có tầm quan trọng thiết yếu đối với an ninh của mình ở khu vực và do vậy không muốn có một Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, lý do chính là ngăn không cho đàm phán hoà bình sụp đổ loại bỏ khả năng Mỹ thiết lập căn cứ ở hai nước. Chắc chắn vì những lý do này mà ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Đồng chấp nhận thoả hiệp, một quan điểm mà phái đoàn Liên Xô ủng hộ mạnh mẽ.

    Giải quyết xong vấn đề Lào và Cam-pu-chi-a, Hội nghị tạm nghỉ. Trong khi đó đoàn đại biểu Pháp và Việt Nam Dân chủ cộng hoà bắt đầu chú ý đến chi tiết của giải pháp ở Việt Nam. Trong hội đàm riêng về quân sự với Pháp, đại biểu Việt Minh nói rõ ràng họ muốn có một khu vực lãnh thổ liền kề nhau làm khu vực tập kết quân và những người theo họ bao gồm đồng bằng sông Hồng, kể cả Hà Nội và Hải Phòng. (Một nhà đàm phán cao cấp của Việt Minh nói: “ Chúng tôi phải được Hà Nội, chúng tôi phải có đường thoát”). Quân Pháp không muốn mất Hà Nội, nhưng lại nói một cách dán tiếp rằng họ muốn được rảnh tay ở phía Nam và ít nhất là một khu vực riêng ở phía Bắc để chuyển quân và dân ra khỏi vùng đồng bằng.

    Do vậy, cuộc tranh luận tập trung vào đường phân chia hai khu vực tập kết và việc thực hiện những thảo thuận chung. Lúc đầu, ông Phạm Văn Đồng đòi đường phân chia phải ở vĩ tuyến 13 trong khi Pháp muốn đường này ở ngay phía Nam đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Để giám sát Hiệp định, đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trong nước giám sát nhưng Pháp (với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ) yêu cầu phải thành lập Uỷ ban Giám sát quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc.

    Trong khi hai phái đoàn Pháp và Việt Nam tranh cãi về chi tiết, Chu Ân Lai về Bắc Kinh tham khảo ý kiến của Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo chính phủ khác. Trên đường về, ông dừng chân tại Ấn Độ, ông yêu cầu Thủ tướng Gia-oa-hắc-la Nê-ru ủng hộ lập trường của Trung Quốc tại bàn Hội nghị. Để giảm bớt lo lắng của Nê-ru về khả năng toàn bộ Đông Dương sẽ sớm rơi vào tay Cộng Sản (và do vậy rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc), Chu Ân Lai hứa rằng toàn bộ quân Việt Minh sẽ rút khỏi Lào và Cam-pu-chi-a, và hai nước này sẽ có chính phủ độc lập do họ tự chọn. Về tình hình Việt Nam, ông bảo đảm với các nhà lãnh đạo Ấn Độ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng bất kỳ thoả thuận nào chia cắt Việt Nam thành hai miền, ông tuyên bố thêm rằng chủ nghĩa xã hội không phải để “xuất khẩu”. Trong một thông báo đưa ra sau một loạt các cuộc gặp gỡ, hai nhà lãnh đạo đã khẳng định ủng hộ khái niệm năm nguyên tắc chung sống hoà bình và coi năm nguyên tắc này là cơ sở thích hợp cho quan hệ quốc tế ở châu Á và thế giới.

    Dừng chân ngắn ở Răng-gun, ông đã thảo luận với Thủ tướng Miến Điện, ông U Nu. Sau đó ông Chu Ân Lai về Bắc Kinh và đi thẳng đến Lôi Châu, nơi đã từng là đại bản doanh của Trương Phát Khuê ở Nam Trung Quốc. Ở Lôi Châu, ông gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Cuộc gặp này không được mấy ai chú ý. Một tuyên bố báo chí sauđó của Tân Hoa Xã chỉ nói rằng “Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tich Hồ Chí Minh đã trao đổi toàn bộ ý kiến về Hội nghị Giơ-ne-vơ, vấn đề khôi phục hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan”. Tuy nhiên, một nguồn tin Trung Quốc gần đây cho biết ông Chu đã thuyết phục được ông Hồ thấy sự cần thiết phải có một giải pháp thoả hiệp ở Giơ-ne-vơ để tránh can thiệp trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến. Hai vị lãnh tụ đã thoả thuận chấp nhận vĩ tuyến 16 làm đường phân giới giữa hai khu tập kết. Hai vị lãnh tụ cũng thoả thuận chấp nhận việc thành lập chính phủ không cộng sản ở Lào và Cam-pu-chi-a, với điều kiện Pa-thét Lào cũng có một khu vực tập kết nhỏ. Ông Hồ cũng đồng ý đưa ra tuyên bố chung nói rằng ba nước Đông Dương sẽ tuân thủ năm nguyên tắc cùng chung sống hoà bình. Để đổi lại, Chu Ân Lai hứa Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong những hiệp định viện trợ ký tại Bắc Kinh ngày 7 tháng 7, Trung Quốc cam kết tăng thêm viện trợ thương mại và kinh tế. Những nguồn tin chính thức ở Việt Nam chỉ đưa tin cụt lủn về kết quả cuộc gặp. Báo Nhân dân của Đảng ghi nhận một cách không rõ ràng rằng “việc khôi phục hoà bình ở Đông Dương không thể chỉ do một bên quyết định”

    Sau những cuộc tham khảo ý kiến ngắn ở Bắc Kinh, Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ trong khi các đại biểu đang giải quyết nốt những vẫn đề tồn đọng, hiệp định đã được ký kết ngày 21 tháng 07 năm 1954. Một Uỷ ban Quốc tế sẽ giám sát Hiệp định. Uỷ ban này bao gồm Ấn Độ, Ca-na-da và Ba Lan. Một tuyên bố chính trị không mang tính ràng buộc kêu gọi chính quyền ở hai khu vực tập kết tiến hành hiệp thương và tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước hai năm sau. Điểm khó khăn cuối cùng là thảo thuận thiết lập đường phân giới giữa hai khu vực tập kết tại vĩ tuyến 17. Khi Phạm Văn Đồng có vẻ chần chừ không chấp nhận nhượng bộ, ông Chu lập luận rằng cho phép Thủ tướng Pháp, ông Pi-e Men-đéc-xơ Phơ-ran-xơ, giữ thể diện của mình là giá nhỏ phải trả cho việc quân Pháp tút. Ông Chu còn nói “Khi quân Pháp rút hoàn toàn, toàn bộ Việt Nam là của các bạn”

    Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông thì có những tiến triển bất lợi ngay sau khi Hội nghị kết thúc. Chính quyền Ai-xen-hao đã lo ngại theo dõi đàm phán tại Giơ-ne-vơ và quyết định không chấp nhận các điều kiện của Hiệp định trừ khi ít nhất một phần của Việt Nam vẫn an toàn. Vì điều khoản về thống nhất hoàn toàn đất nước thông qua tuyển cử tổ chức năm 1956 mở ra khả năng cộng sản thắng lợi hoàn toàn, Oa-sinh-tơn cho thấy là sẽ không đồng tình với tuyên bố chính trị và sẽ không cam kết ủng hộ Hiệp định Giơ-ne-vơ. Phái đoàn của Bảo Đại cũng làm như vậy và không chịu chấp thuận tuyên bố chính trị, lập luận rằng quyết định chia cắt đất nước là của một nước lớn thuộc địa chứ không phải là nguyện vọng của nhân dân. Một vài ngày sau khi hội nghị kết thúc, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đa-lét thông báo tại một cuộc họp báo rằng Mỹ sẽ gây dựng sự phát triển của một nhà nước không cộng sản ở Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chi-a. Tuyên bố này tuyệt nhiên không hề là dấu hiệu tốt lành cho cuộc tổng tuyển cử trong tương lai.

    Nhiều nhà quan sát tại hội nghị đã nhận thấy thái độ cay cú của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước việc Trung Quốc và Liên Xô phản bội lợi ích của mình. Nhớ lại điều này, Vương Bình Nam, một nhà ngoại giao Trung Quốc sau này nói rằng một số đại biểu “hy vọng sẽ thống nhất Việt Nam được ngay”.

    Thái độ cay cú này rõ ràng không chỉ là thái độ của đoàn đại biểu Việt Nam mà còn thể hiện ở trong nước Việt Nam. Tình hình này rõ ràng nghiêm trọng đến mức Hồ Chí Minh cũng bắt đầu chú ý. Trong báo cáo chính trị cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam vài ngày trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông Hồ viết:

    “Mốt số người say sưa với thắng lợi liên tục của chúng ta, muốn tiếp tục chiến đấu đến cùng với bất kỳ giá nào; họ chỉ thấy cây mà không thấy rừng; tập trung vào việc quân Pháp rút, họ không thấy âm mưu của chúng; họ thấy Pháp nhưng không thấy Mỹ; họ thiên về hành động quân sự và coi nhẹ ngoại giao. Họ không biết rằng chúng ta đang đấu tranh tại các hội nghị quốc tế cũng như tại chiến trường để đạt được mục tiêu”.

    Hồ Chí Minh tranh luận với những người “muốn có kết quả nhanh, không biết rằng cuộc đấu tranh giành hoà bình là khó khăn và phức tạp.” Điều họ không thấy là ba nước đã có những bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho các nước Đông Dương. Tuy nhiên, bây giờ cần có một chiến lược, vì quân Mỹ đã kiên quyết phá hoại khả năng hoà bình can thiệp và biện hộ cho xung đột ở Đông Dương. Do hoàn cảnh mới, khẩu hiệu hiệu cũ “Kháng chiến đến cùng” phải được thay thế bằng khẩu hiệu “Hoà bình, đoàn kết, độc lập, dân chủ”. Một chính sách như vậy góp phần cô lập Hoa Kỳ (nay trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương) trên trường quốc tế và đánh bại âm mưu thâm độc của chúng.

    Hồ Chí Minh công nhận rằng giá phải trả cho hoà bình là sự chia cắt đất nước, Ông nhất mực cho rằng việc thiết lập khu vực tập kết không có nghĩa là đất nước bị chia cắt vĩnh viễn mà chỉ là tạm thời.

    Do việc hoạch định và trao đổi vùng, một số vùng tự do trước đây sẽ bị địch tạm chiếm; nhân dân sẽ không bằng lòng; một số người sẽ chán nản và bị địch lừa bịp. Chúng ta phải làm cho đồng bào rõ là thử thách họ sẽ trải qua là vì lợi ích toàn đất nước, vì lợi ích lâu dài của chúng ta và sẽ là một sự nghiệp vinh quang mà cả nước đều biết ơn.

    Hồ Chí Minh hứa rằng, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự ủng hộ của các dân tộc trên thế giới , độc lập hoàn toàn và đoàn kết dân tộc chắc chắn sẽ đạt được.

    Kêu gọi cộng sự của mình trong Đảng chấp nhận một giải pháp thông qua đàm phán về thực chất không phải là chiến thắng hoàn toàn, Hồ Chí Minh chắc chắn đã nghe theo lời khuyên của Chu Ân Lai. Ông Chu Ân Lai đã khẩn thiết kêu gọi ông Hồ chấp nhận một giải pháp như vậy trong cuộc gặp gỡ ở Lôi Châu trước đó vài ngày. Tuy vậy, thái độ sẵn sàng chấp nhận hoà bình trong nhân nhượng trên đường đến thắng lợi cuối cùng làm chúng ta nhớ lại cách giải quyết vấn đề của ông trong những dịp trước đó, đặc biệt là vào cuối chiến tranh Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh nhận thấy rằng độc lập dân tộc và thống nhất đất nước không thể đạt được một cách riêng rẽ, nhưng phải đạt được trong bối cảnh những thay đổi phức tạp diễn ra trên trường quốc tế.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi