Chương II: Con ngựa lửa

  • Bởi tqvn2004
    03/09/2009
    0 phản hồi
    Chủ đề: 

    Mặc dù hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau khi rời Sài Gòn không được ghi lại đầy đủ, các bằng chứng cho thấy Thành đã lênh đênh trên biển trong gần hai năm sau. Thế giới bên ngoài Việt Nam đã tác động tới suy nghĩ và thái độ của Thành về cuộc sống. Hơn một thập kỷ sau, Thành bắt đầu viết những bài báo cho các nhà xuất bản ở Pháp. Những bài viết xúc động lòng người của Thành về những điều tồi tệ trong cuộc sống ở những thành phố cảng thuộc địa ở châu Á, châu Phi, và Châu Mỹ La–Tinh đã kể lại nỗi thống khổ trong cuộc sống cũng như sự đối xử dã man tàn bạo của kẻ áp bức Châu Âu đối với người dân bản xứ. Vào đầu thế kỷ hai mươi, nhiều nơi trên thế giới đã rơi vào ách thuộc địa và các thành phố cảng ở Châu Phi và Châu Á tràn ngập công nhân cảng, phu kéo xe tay và những người lao động chân tay, tất cả đều làm theo lệnh của người da trắng. Có thể trong thời gian ở nước ngoài những cở sở của sự nghiệp cách mạng sau này của Thành đã được hình thành.

    Cuộc hành trình trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Tơ-rê-vin từ Sài Gòn đi Mác-xây mất vài tuần. Điều kiện ngoài khơi rất khó khăn; con tàu quá nhỏ so với một tàu chở khách xuyên đại dương, chỉ dài khoảng 100 mét và nặng chưa tới 6.000 tấn. Trong các cuốn tự thuật, là nguồn thông tin duy nhất về cuộc đời ông trong thời kỳ đó, Thành kể lại rằng những cơn bão với những ngọn sóng “cao như núi“ đôi khi suýt nữa hất Thành khỏi tàu. Những ngày Thành sống trên biển thường rất dài và đơn điệu. Thành dậy từ sáng sớm và chỉ hoàn thành công việc sau khi trời tối. Nhiều năm sau như Thành kể lại bằng ngôi thứ ba:

    Người phụ bếp đã phải làm việc hàng ngày như sau: Từ bốn giờ sáng lau chùi bếp chính, sau đó nhóm lửa đun nước trên bếp, bỏ than vào lò, nhặt rau, làm thịt, cá, chuẩn bị đá, v.v.v trong hầm lạnh. Công việc rất nặng nhọc vì trong bếp rất nóng còn trong khoang thì rất lạnh. Công việc đặc biệt khó khăn khi tàu bị tròng trành mỗi khi biển động và người phụ bếp phải vác trên vai một túi nặng leo lên thang tàu“.

    Tuy nhiên , Thành dường như vẫn chịu đựng tất cả cùng với sự hóm hỉnh và lòng nhiệt tình. Trong một lá thư gửi cho một người quen ở Sài Gòn, Thành đã đùa: “ Người anh hùng vui vẻ suốt ngày làm những gì anh ta cảm thấy thích, đánh bóng nhà vệ sinh và buồng tắm, dọn sạch những bô đựng phân“. Sau khi làm hết công việc của mình vào khoảng 9 giờ tối, Thành đọc sách hoặc viết lách đến tận nửa đêm, hay thỉnh thoảng giúp những người không biết chữ trên tàu viết thư cho gia đình. Nhà nông học kiêm nhà báo Bùi Quang Chiểu, sau này là lãnh đạo của một trong những tổ chức đối lập chính của phong trào cộng sản của Hồ Chí Minh, kể lại rằng ông đã gặp Thành trong chuyến đi và hỏi tại sao một người thông minh như thế lại kiếm một công việc nặng nhọc như vậy. Thành chỉ cười và nói Thành muốn tới Pháp để tìm cách lật ngược quyết định của triều đình cách chức cha Thành.

    Sau khi dừng lại ở Xin-ga-po, Cô–lông–bô và Po–sét, tàu A–mi–ran La-tút-sơ Tơ-rê-vin cập cảng Mác-xây ngày 6 tháng bảy năm 1911. Tại đó Thành nhận được tiền công – khoảng mười quan Pháp, số tiền chỉ đủ Thành ăn ở vài ngày trong một khách sạn rẻ tiền . Thành rời khỏi tàu cùng với một ngưòi bạn để được nhìn thấy những hình ảnh đầu tiên về nước Pháp . Lần đầu tiên Thành thấy tàu điện (“những căn nhà di động “như những người Việt Nam lúc đó gọi). Và cũng là lần đầu tiên Thành được gọi là “ông” khi dừng lại uống một ly cà-phê trong một quán cà-phê nằm trên đường Can-nơ-bi-e-rơ nổi tiếng của thành phố. Ngay khi đó Thành đã phát hiện ra rằng ở Pháp cũng có người nghèo giống như ở vùng Đông Dương thuộc Pháp. Sau này cũng như bây giờ , Mác-xây vẫn là một thành phố nhộn nhạo , đường phố đầy những thuỷ thủ , những tên ma cà bông , lái buôn và những tên trộm thuộc tất cả các dân tộc. Trông thấy các cô gái diếm lên tàu với các thuỷ thủ, Thành đã nói với bạn: “Tại sao người Pháp không truyền bá văn minh cho đồng bào của họ trước khi họ làm như vậy với chúng ta?“./.

    Thành quay trở lại tàu trước khi tàu rời đi Lơ Ha –vrơ; tàu đã tới Lơ Havrơ ngày 15 tháng bảy . Vài ngày sau tàu tới Đân-cớc , sau đó trở lại Mác-xây và cập cảng thành phố vào giữa tháng chín. Tại đây , Thành đã viết một bức thư gửi Tổng Thống Cộng Hoà Pháp. Sự kiện này rất lạ do vậy cần in lại toàn văn bức thư:

    Mác-xây ngày 15 tháng 9 năm 1919

    Thưa Ngài Tổng thống,

    Tôi rất vinh dự đề nghị ngài giúp đỡ để tôi có thể được nhận vào học tại Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú.

    Tôi đang làm việc cho công ty Sác-giơ Rê–uy–ni (A-mi-ran- La-tút-sơ Tơ-rê-vin) để sinh sống. Tôi hoàn toàn không có nguồn giúp đỡ và tôi rất muốn được đi học. Tôi mong muốn có thể giúp nước Pháp trong vấn đề có liên quan tới đồng bào tôi đồng thời có thể tạo thuận lợi cho đồng bào tôi thông qua việc truyền đạt lại kiến thức.

    Tôi sinh ra tại tỉnh Nghệ An, Trung Kỳ. Tôi hy vọng ngài ủng hộ đề nghị của tôi. Tôi xin gửi tới ngài Tổng thống lời cảm ơn trân trọng nhất.

    Nguyễn Tất Thành
    Sinh tại Vinh, 1892
    Con trai Nguyễn Sinh Huy (tiến sỹ văn chương)
    Sinh viên Tiếng Pháp và Trung Quốc

    Trường thuộc địa được thành lập vào năm 1885 để đào tạo các công chức của chính phủ tại các vùng thuộc địa của Pháp, trường có “một khoa bản xứ” dạy các vấn đề liên quan đến thuộc địa với khoảng hai mươi học bổng dành cho các sinh viên từ vùng Đông Dương thuộc pháp. Một số học giả băn khoăn không hiểu tại sao một người trẻ tuổi như Nguyễn Tất Thành là người kịch liệt phản đối sự thống trị của người Pháp trên đất nước minh lại muốn học tại trường thuộc địa để phục vụ nước pháp, họ đã phỏng đoán rằng có thể Thành đã có ý định đổi lòng yêu nước lấy sự nghiệp trong bộ máy chính quyền Pháp. Tuy nhiên, nhìn và việc học trước đây của Thành tại trường Quốc Học Huế thì hành động của Thành không có gì là ngạc nhiên. Mặc dù thái độ thù nghịch của thành đối với chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương dường như là rất rõ ràng, Thành vẫn chưa quyết định cụ thể phải đi bằng con đường nào để giải phóng đất nước. Theo thành kể lại, Thành rất muốn tiếp tục học để nâng cao hiểu biết về tình hình thực tế. Theo một bức thư viết vào năm 1911, Thành đã nói với người chị rằng Thành hy vọng tiếp tục được học ở Pháp và trở về Đông Dương trong vòng năm hoặc sáu năm. Hơn nữa , như trong bức thư Thành gửi cho tổng thống pháp đã nêu rõ mục tiêu cuối cùng của Thành là trở thành người có ích cho đất nước. Có lẽ là, và không phải là lần cuối, Thành che giấu ý định thật sự của mình để đạt đươc mục đích cuối cùng.

    Từ Mác xây, Thành trở lại Sài Gòn trên con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Tơ-rê-vin. Thành đã rời tàu khi tàu tới nơi vào giữa tháng mười và cố liên hệ với cha. Sắc vẫn chưa tìm được công việc ổn định từ khi bị triều đình cách chức và có thể bị bắt trong một lần vì say rượu. Sau khi làm việc trong một thời gian dài tại đồn điền cao-su ở Thủ Dầu Một, gần biên giới Cam-pu-chia, ông Sắc bắt đầu bán thuốc bắc trên khắp Nam kỳ. Mặc dù có thể ông Sắc sống ở đâu đó trong vùng phụ cận Sài Gòn khi con trai tới, không có dấu hiệu nào chứng tỏ cả hai cha con biết nhau ai đang ở đâu. Ngày 31 tháng mười năm 1911, Thành viết thư gửi toàn quyền Pháp ở Trung Kỳ giải thích rằng Thành và cha bị ly tán vì cảnh bần cùng trong hơn hai năm và gửi kèm theo mười lăm đồng cho cha . Thành đã không nhận được thư trả lời .

    Từ Sài Gòn, Thành quay trở lại Mác-xây, tại đó Thành được biết đơn xin học của mình tại Trường Thuộc địa đã bị từ chối. Đơn xin học đã được gửi tới giám hiệu nhà trường và họ trả lời rằng chỉ các thí sinh được toàn quyền Đông Dương giới thiệu mới được nhận vào học, một quy định rõ ràng đã loại Thành khỏi việc được xét đơn. Sau đó, Thành quyết định trở lại tàu cho tới khi tàu rời đi xưởng sửa chữa tại Lơ Ha-vrơ. Hầu hết các thuỷ thủ nhận làm việc trên một con tàu khác và trở lại Đông Dương ; Thành đã trở lại Lơ Ha-vrơ và nhận làm vườn tại nhà một chủ tàu ở Xanh A-đrét–xơ , một bãi biển nghỉ mát (sau này được Cơ-Lốt Mô-nê, hoạ sĩ người Pháp, theo trường phái ấn tượng vẽ lại trên vải ) chỉ cách thành phố vài dặm về phía tây. Trong lúc rảnh rỗi , Thành đọc các tạp chí trong tủ sách và học tiếng Pháp với con gái của người chủ tàu . Thỉnh thoảng Thành vào thành phố nói chuyện với những người Việt Nam . Có thể Thành đã tới Pa-ri gặp Phan Châu Trinh . Theo một số tài liệu , cha của Thành đã đưa cho Thành thư giới thiệu gửi người bạn cùng đỗ phó bảng trước khi Thành rời Việt Nam . Sau khi được trả tự do ở nhà tù Đông Dương , ông Trinh đã tới Pa -ri vào khoảng mùa xuân năm 1911. Nếu họ gặp nhau , hẳn họ đã trao đổi về những tin vui từ Trung Quốc . Những người cách mạng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên đã lật đổ triều đình nhà Thanh và thành lập một nền cộng hoà kiểu phương Tây .

    Thành sống rất vui vẻ với gia đình nhà chủ , và gia đình nhà chủ đã giúp Thành trở lại làm việc cho công ty Sác-giơ Rê-uy-ni trên một con tàu tới châu Phi . Mặc dù một người bạn đã nói với Thành rằng châu Phi nóng hơn nhiều so với Việt Nam , Thành vẫn thích đi đó đây (“ Tôi muốn được nhìn thấy thế giới” – Thành đáp lại ) và vẫn quyết định đi . Vài tháng sau , Thành đã tới nhiều nước châu Phi và châu Á , trong đó có An-giê-ri, Tuy-ni-di, Ma-rốc, Ấn Độ , Đông Dương, Ả – rập Xê-út , Xê-nê-gan, Xu-đăng, Đa-hô-mây và Ma-đa-ga-xca.

    Thành rất thích thú khi thấy và học hỏi thêm nhiều điều khi tàu cập bến. Thành đã kể lại trong hồi ký của mình :

    “Ba quan sát tất cả những gì xung quanh . Mỗi khí con tàu cập bến , Ba tranh thủ tham quan thành phố . Khi trở lại tàu , trong khi túi Ba toàn những bức ảnh và những bao diêm bởi vì Ba rất thích sưu tập những thứ đó “.

    Thành thường nhớ lại hình ảnh ghê rợn chế độ thuộc địa. Tại Đắc–ca, Thành đã nhìn thấy những người châu Phi bị chết đuối khi người Pháp ra lệnh cho họ bơi ra những con tàu trong bão. Sau này Thành viết :

    “ Người Pháp ở Pháp là người tốt. Nhưng những tên thuộc địa Pháp rất dã man và vô nhân đạo. Ở đâu cũng vậy. Ở trong nước tôi đã chứng kiến điều này ở Phan Rang. Người Pháp phá lên cười trong khi đồng bào tôi bị chết đuối vì họ. Đối với những tên thuộc địa Pháp, cuộc sống của một người châu Á hay châu Phi không đáng giá một xu“.

    Trong những năm tháng lênh đênh trên biển, Thành đã tới một số bến cảng vùng Tây bán cầu. Nhiều năm sau, Thành nói với một người quen là người Cu ba rằng Thành đã tới Ri-ô đơ Gia–nê–rô và Bu-ê-nốt Ai–rét. Đôi khi tàu của Thành dừng lại ở các thành phố cảng dọc bờ biển phía Đông Hoa Kỳ trong đó có thành phố Nữu Ước, nơi Thành đã quyết định rời tàu đi tìm việc làm. Sau đó Thành đã trở lại Hoa Kỳ một vài tháng.

    Hồ Chí Minh ở Hoa Kỳ vẫn là một trong những thời kỳ bí ẩn và khó hiểu nhất trong toàn bộ cuộc đời ông. Theo ông kể lại với những người quen, ông đã ở một thời gian tại Nữu Ước, ông sửng sốt nhìn những ngôi nhà chọc trời ở khu Man-hát-tan. Đi dạo với bạn bè ở khu vực Trung Hoa đã gây cho ông một ấn tượng là những người nhập cư châu Á ở Hoa Kỳ dường như có đủ các quyền lợi pháp lý theo luật pháp nếu như không phải là trên thực tế. Ông đã lao động (ông giải thích là để kiếm tiền, với đồng lương bốn mươi đô-la một tháng) và làm một người giúp việc cho một gia đình giàu có nhưng vẫn có thời gian dự các cuộc họp của những người hoạt động xã hội là người da đen như tổ chức Vì sự tiến bộ chung cho người da đen ở Hác-Lem, một tổ chức được thành lập dưới sự tài trợ của một người theo chủ nghĩa dân tộc da đen sinh ra ở Gia-mai-ca là Mác-cốt Ga-vi. Nhiều năm sau Thành đã nói với một đoàn các nhà hoạt động vì hoà bình tới thăm Hà Nội vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam ác liệt nhất rằng ông rất xúc động bởi nỗi thống khổ của người da đen trên toàn thế giới và những đóng góp rất nhiều cho phong trào của họ“. Khi được một đại biểu trong đoàn hỏi tại sao ông đã tới Nữu Ước, ông trả lời rằng lúc đó ông nghĩ rằng Hoa Kỳ phản đối chủ nghĩa đế quốc phương tây và có thể sẵn sàng giúp đỡ nhân dân Việt Nam lật đổ chế độ thuộc địa của Pháp. Nhưng cuối cùng ông đã kết luận rằng ở đó không hề có sự giúp đỡ nào.

    Trong những năm sau , Hồ Chí Minh thường nói rằng ông cũng đã từng sống ở Bô-xtơn, nơi ông làm đầu bếp trong một thời gian ngắn tại khách sạn Pác-cơ Hau-sơ, và đã tới một số bang ở miền nam trong một chuyến đi ngắn, tại đó ông đã chứng kiến đảng 3K hành hình người da đen. Sống ở Mát–xcơ-va trong những năm 20, ông đã viết một bài báo kể lại những sự việc đó với những chi tiết sinh động. Thật không may, không một chi tiết nào về chuyến đi của ông tới Hoa Kỳ có thể chứng thực. Hầu như chỉ có một bằng chứng duy nhất không thể chối cãi khẳng định ông đã có mặt tại nước Mỹ là hai bức thư ông đã giử đi. Bức thư thứ nhất, được ký tên Pôn Tất Thành giử toàn quyền Pháp tại Trung Kỳ ngày 15 tháng 12 năm 1912 với dấu bưu điện của thành phố Nữu Ước. Bức thư thứ hai là một tấm bưu thiếp từ Bô-xtơn gửi cho Phan Châu Trinh ở Pháp; bức thư có nói rằng đang làm phụ bếp trong khách sạn Pác-cơ Hau-sơ.

    Rất có thể Thành rời Hoa Kỳ năm 1913. Thành công nhận, thời gian Thành ở Hoa Kỳ ảnh hưởng rất ít đến thế giới quan của Thành khi ông nói với nhà báo người Mỹ An-na Lu-i-dơ Xtrong rằng trong khi ông ở Hoa Kỳ ông chẳng biết gì về chính trị. Sau một lần dừng chân khác ở Lơ Ha–vrơ, Thành đã tới nước Anh để học tiếng Anh. Trong một bức thư ngắn gửi cho Phan Châu Trinh ở Pháp, Thành đã kể rằng trong bốn tháng rưỡi vừa qua Thành đã ở Luân Đôn học tiếng Anh và giao lưu với những người nước ngoài. Trong vòng bốn hoặc năm tháng nữa, Thành viết “Cháu hy vọng được gặp lại chú”. Bức thư không đề ngày, tuy nhiên bức thư đó phải được viết trước khi nổ ra cuộc chiến tranh vào tháng tám năm 1941 vì trong thư Thành hỏi ông Trinh dự định nghỉ hè ở đâu.

    Trong bức thư thứ hai, Thành nhận xét về xuất phát điểm của sự kiện sau này là Chiến tranh thế giới thứ nhất. Thành nói rằng bất kỳ nước nào cố gắng can thiệp vào vấn đề này thì sẽ bị kéo vào cuộc chiến tranh và kết luận: “Cháu cho rằng trong vòng ba hoặc bốn tháng nữa, tình hình châu Á sẽ thay đổi, và sẽ thay đổi rất mạnh. Tình hình sẽ tồi tệ hơn đối với những người phải chiến đấu và tập hợp lực lượng. Chúng ta chỉ có một cách là đứng sang một bên”. Có thể Thành đã lường trước được rằng cuộc chiến sẽ dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa Pháp.

    Trong bức thư gửi Phan Châu Trinh, Thành cũng đã nói rằng Thành cũng phải làm việc cơ cực để khỏi bị đói. Việc làm đầu tiên của Thành là dọn tuyết ở một trường học, sau này trong cuốn tự thuật Thành đã viết “một công việc thật nặng nhọc”. “Người tôi đầy mồ hôi trong khi chân và tay thì lạnh cóng. Rất khó để có thể đập vỡ đóng tuyết đống băng vì rất trơn. Sau tám giờ làm việc tôi gần như kiệt sức và đói”. Thành nhanh chóng từ bỏ công việc này để làm một người đun lò hơi. Tuy nhiên, công việc này còn tồi tệ hơn:

    “Từ năm giờ sáng, tôi và một người bạn khác phải xuống tầng hầm để nhóm lửa. Suốt cả ngày chúng tôi phải cho than vào lò. Thật là khủng khiếp. Tôi không bao giờ biết những người ở tầng trên đang làm gì vì tôi chưa bao giờ lên trên đó cả. Người cùng làm việc với tôi là người ít nói, có lẽ anh ta bị câm. Cả ngày làm việc anh ta không nói một câu. Anh ta hút thuốc trong khi làm việc. Mỗi khi anh ta cần tôi giúp anh ta chỉ ra hiệu chứ không nói. Dưới hầm rất nóng còn bên ngoài thì rất lạnh. Tôi không có đủ quần áo nên đã bị cảm lạnh”.

    Cuối cùng thì Thành đã tìm được việc làm trong nhà bếp của khách sạn Dơ-ray-tàn Cót ở trung tâm Luân Đôn. Sau đó Thành chuyển sang khách sạn Các-tơn và làm việc cho đầu bếp nổi tiếng Ô-guýt-xtơ Ét-cóp-phi-ê. Nếu như trong cuốn tự thuật của Hồ Chí Minh là chính xác thì Thành thật sự đã là một đầu bếp:

    “Mỗi chúng tôi đều phải thay nhau dọn dẹp. Những người bồi bàn sau khi phục vụ khách phải dọn dẹp tất cả bát đĩa và chuyển xuống bếp qua một cái thang máy. Sau đó công việc của chúng tôi là tách riêng đồ sứ và đồ bạc để rửa. Khi tới phiên của Ba, anh ta rất cẩn thận. Thay vì đổ đi tất cả đồ ăn thừa, thường là một phần tư con gà hoặc một miếng thịt lớn, v.v. , Ba giữ chúng sạch sẽ và chuyển lại vào bếp. Nhận thấy điều này đầu bếp ét-cóp-phi-ê đã hỏi Ba : “Tại sao anh không đổ thức ăn thừa vào sọt rác như những người khác ?”.

    “Không nên đổ thức ăn đó đi. Ông có thể mang cho những người nghèo”.

    “Anh bạn trẻ thân mến, hãy nghe tôi”. Đầu bếp ét-cóp-phi-ê hình như rất vui mỉm cười và nói: “ Hãy dẹp những ý tưởng cách mạng của anh sang một bên và tôi sẽ dậy anh nghệ thuật nấu ăn, nó sẽ mang lại cho anh rất nhiều tiền. Anh có đồng ý không ?”.

    Đầu bếp ét-cóp-phi-ê đã không tiếp tục để cho Ba rửa bát đĩa và cho Ba làm việc tại bộ phận làm bánh với mức lương cao hơn.

    Đây quả là một sự kiện lớn trong nhà bếp vì đó là lần đầu tiên một vị vua bếp”làm một việc như vậy.

    Trong lúc rảnh rỗi Thành đã dùng số tiền ít ỏi của mình để học tếng Anh với một thầy giáo người Ý, như Thành kể lại, thường ngồi “trong hai Pác-cơ với quyển sách và một cái bút chì trên tay”. Thành cũng đã trở thành người hoạt động trong các tổ chức chính trị, rất nhiều tài liệu cho thấy Thành đã tham gia các hoạt động công đoàn và trở thành thành viên của Hiệp hội công nhân hải ngoại, một tổ chức bí mật bao gồm chủ yếu những người lao động Trung Quốc ở nước ngoài mong muốn cải thiện điều kiện trong các nhà máy ở Anh. Thành đã tự tuyên bố là đã tham gia những cuộc biểu tình trên đường phố ủng hộ nền độc lập của Ai-len cũng như những sự nghiệp khác của phe phái cánh tả. Có thể trong thời gian này, lần đầu tiên Thành được biết đến các tác phẩm của Các Mác, nhà cách mạng người Đức.

    Cao hơn sự nghiệp trên, Thành còn canh cánh nỗi thống khổ của đất nước. Trong bài thơ ngắn đề trên tấm bưu thiếp gửi cho ông Trinh, Thành viết:

    “Trước trời trước biển

    Với ý chí của một anh hùng

    Phải tranh đấu cho đồng bào mình”.

    Nhưng Thành đâu hay, những bức thư của ông gửi cho ông Trinh đã rơi vào tay nhà cầm quyền Pháp. Cuối mùa hè năm 1941, ông Trinh và người đồng sự thân tín của mình, luật sư Phan Văn Trường đã bị chính quyền pháp bắt giữ do bị nghi ngờ là đã tiếp xúc với các điệp viên Đức. Tuy sau đó họ được trả tự do vì thiếu chứng cớ, cảnh sát pháp đã lục lọi căn phòng của họ ở Pa-ri và phát hiện ra các bức thư của một người Việt Nam tên là Nguyễn Tất Thành ngụ tại số 8 đường XTê-phan, đường Tốt-tin-ham Cót, Luân Đôn. Trong khi điều tra cảnh sát còn phát hiện thấy trong một bức thư gửi cho ông Trinh (hiện không còn nữa), Tất Thành đã phàn nàn về điều kiện ở Đông Dương và hứa rằng trong tương lai sẽ tìm cách tiếp tục công việc của Trinh. Theo yêu cầu của Đại sứ quán Pháp tại Luân Đôn, cảnh sát Anh tiếp tục tìm kiếm nhưng không tìm đươc ai có tên như vậy ở địa chỉ trên. Họ đã tìm thấy hai anh em, tên là Tất Thành và Thành, tại một địa chỉ khác. Những người này lại là sinh viên cơ khí và vừa rời đi học ở Bét-phót, và đương nhiên họ không tham gia các hoạt động chính trị .

    Những năm tháng trong thời chiến ở Vương Quốc Anh là thời kỳ ít có tư liệu nhất về cuộc đời của Thành. Những tư liệu về các hoạt động của Thành chủ yếu dựa trên những cuốn tự thuật của Thành những năm sau này. Một số nhà sử học không tin rằng Thành đã hư cấu ra chuyện này nhằm tăng lòng tin của mọi người vào một nhà cách mạng có nguồn gốc từ giai cấp lao động . Điều này rất có thể không đúng vì Thành thường không mấy khi che giấu về bản thân gia đình mình, là con của một nho sĩ. Mặc dù thực tế cho thấy không thể chứng kiến được những giai thoại trong thời kỳ này, có những bằng chứng rõ ràng cho thấy Thành đã sống tại Luân Đôn mặc dù thực chất những hoạt động của Thành tại đó như thế nào thì vẫn còn là điều bí ẩn.

    Việc xác định ngày Thành quay lại Pháp cũng là một số vấn đề gây tranh cãi. Chính quyền Pháp không hề biết việc Thành có mặt ở Pháp cho tới tận mùa hè năm 1919 khi Thành tham gia một sự kiện đã làm cho Thành trở thành một người nổi tiếng nhất trên đất Pháp. Trong tự thuật của mình , Hồ Chí Minh viết ông đã quay trở lại Pháp trong lúc chiến tranh. Một số người quen của ông ở Pa-ri cho rằng Thành đã quay trở lại Pháp vào năm 1917 hoặc 1918 và một mật vụ cảnh sát theo dõi Thành vào năm 1919 lại báo cáo rằng Thành đã đến Pháp từ lâu. Hầu hết các tài liệu lại cho rằng thời điểm đó là vào tháng 12 năm 1917.

    Đông cơ quay trở lại Pháp của Thành không rõ ràng mặc dù sự thay đổi này là lô-gích, xét trên khía cạnh mục tiêu dân tộc ông đã đề ra. Trong thời gian chiến tranh hàng ngàn người Việt Nam buộc phải làm việc trong các công xưởng của Pháp để thay thế cho các công nhân Pháp tham gia quân đội. Từ khoảng dưới 100 người năm 1911 con số người Việt Nam sống tại Pháp đã tăng rất nhanh trong thời chiến. Đối với một người yêu nước quyết tâm giải phóng đất nước mình thì Pháp là nơi thích hợp để hoạt động và tuyển mộ những người cùng chí hướng. Thành coi ông Phan Châu Trinh và đồng sự của ông Trinh là ông Phan Văn Trường là địa chỉ liên lạc để qua đó thâm nhập vào thế giới của những người nhập cư hoạt động chính trị Việt Nam ở Pa-ri. Do nổi tiếng khi viết thư cho Pôn Be năm 1906, Trinh được công nhận là người lãnh đạo cộng đồng người nhập cư tại Pháp. Sau khi bị bắt do bị nghi ngờ là mưu phản khi cuộc chiến bắt đầu, Trinh đã rất thận trọng mặc dù đã có lời đồi đại cho rằng Trinh vẫn hoạt động tích cực trong phong trào Việt Nam độc lập .

    Sau khi đến Pháp, Thành lập tức tham gia vận động công nhân Việt Nam. Bạo loạn chính trị đã xảy ra do chiến tranh tàn bạo kéo dài; năm 1917, binh biến đã xảy ra trong quân đội Pháp, và các phần tử cấp tiến đã bắt đầu các chiến dịch chống chiến tranh và tổ chức các công đoàn trên khắp cả nước. Công nhân các nhà máy và các xưởng đóng tàu tại các nước thuộc địa do lương thấp và điều kiện sống tồi tệ đã hưởng ứng sự vận động đó. Một chiến sĩ trẻ Việt Nam với nhiệt huyết chống thực dân đã đóng một vai trò rất hữu ích trong các hoạt động đó.

    Thành bắt đầu tham gia các hoạt động đó như thế nào vẫn còn chưa rõ. Có thể là Thành đã trở lại Pa-ri với tư cách là đại biểu Hiệp Hội Công nhân hải ngoại để thiết lập liên lạc với các nhóm công nhân tại Pháp. Trong trường hợp này, có thể Thành đi đi về về giữa hai nước một số lần. Hoặc có thể đơn giản là Thành đã thiết lập được mối quan hệ độc lập với một số nhân vật lãnh đạo cánh tả ở Pa-ri là những người đã tận dụng lòng nhiệt tình của Thành để hỗ trợ các hoạt động của họ .

    Bô-rít Xu-va-rin, hồi đó là một nhà hoạt động xã hội cấp tiến ở Pa-ri sau này là nhà viết sử có tiếng, kể lại rằng ông đã gặp Thành lần đầu tiên ngay sau khi Thành tới Luân Đôn và cho rằng đó là vào năm 1917. Thành đã tìm được một chỗ tạm trú trong một khách sạn bẩn thỉu trong một ngõ cụt ở khu Mông-mác-tơ-rô và bắt đầu tham dự các cuộc họp của một chi bộ địa phương của Đảng Xã hội Pháp; chính tại đó Thành đã gặp Xu-va-rin là người đã giới thiệu thành với Lê-ô Pôn-đét, người sáng lập ra nhóm có tiếng nói là câu lac bộ Phô-bua. Thành bắt đầu có mặt trong các cuộc họp thường niên hằng tuần của câu lạc bộ bàn về nhiều vấn đề khác nhau từ các vấn đề chính trị cấp tiến cho tới tâm lý học và những điều huyền bí. Các cuộc họp này diễn ra tại nhiều phòng họp khác nhau ở Pa-ri. Thành lúc đó rất bẽn lẽn (Xu-va-rin kể lại rằng Thành là “một người đàn ông trẻ rụt rè , khiêm tốn, rất nhã nhặn, ham học hỏi”) đến nỗi những người tham dự cuộc họp gán cho Thành một cái tên “Người câm của Mông-mac-tơ-rơ.”

    Tuy nhiên, cuối cùng Pôn-đét đã khuyến khích Thành nói trước đám đông để xua tan sự rụt rè. Lần đầu tiên, Thành đã rất lo lắng nên đã nói lắp. Mặc dù chỉ có ít người hiểu được những gì Thành nói, họ đã rất thông cảm với chủ đề của Thành. Khi Thành phát biểu song, mọi người đã vỗ tay nhiệt liệt. Sau đó Thành đã được mời phát biểu tiếp.

    Thông tin của Xu-va-rin trùng hợp với thông tin của Lê-ô Pôn-đét là người đã nói với tác giả người Mỹ Xten- lây Các-nâu rằng ông đã gặp Thành lần đầu tiên tại một cuộc họp của câu lạc bộ Phô-bua. Tại đó ông nhớ lại “anh biết kkông có một dáng dấp của danh hài Sác-lơ phảng phất quanh anh ta vừa buồn vừa khôi hài”. Pôn-đet có ấn tượng về đôi mắt sáng và sự khao khát hiểu biết những điều xung quanh của Thành. Thành đã vượt qua sự ngại ngùng của mình và tham gia tích cực vào các cuộc bàn luận trong các cuộc họp hàng tuần của câu lạc bộ. Một lần Thành đã chỉ trích quan điểm của một người ủng hộ thuật thôi miên, Thành cho rằng nhà cầm quyền thuộc địa Pháp thường sử dụng thuốc phiện và rượu để thôi miên những người dân ở Đông Dương. Thành bắt đầu làm quen với các nhà lãnh đạo của phong trào cấp tiến và trí thức ở Pa-ri như nhà văn thuộc đảng xã hội Pôn-Lu-i, nhà hoạt động quân sự Giắc-cơ Đô-ri-ô và nhà viết tiểu thuyêt cấp tiến Hăng-ri Bác-buyt là người có các tác phẩm mô tả sinh động điều kiện cùng cực của các binh lính ngoài mặt trận.

    Lúc này , Nguyễn Tất Thành đã gần 30 tuổi. Kinh nghiệm quốc tế mới chỉ dừng ở việc dạy học, nấu ăn và một vài công việc làm thuê. Có lẽ Thành đã gặp rất nhiều khó khăn để có thể tìm được một việc làm tại Pháp vì Thành không có giấy phép lao động. Có nhiều tài liệu nói rằng Thành bán đồ ăn Việt Nam, các biển hàng sản xuất và dạy tiếng Trung Quốc và làm nến. Cuối cùng Thành đã nhận được công việc sửa ảnh (tô màu cho những bức ảnh đen trắng, lúc đó là một sự cách tân phổ biến) trong cửa hiệu do Phan Châu Trinh quản lý. Lúc rỗi Thành thường tới phòng đọc thư viện Quốc gia hoặc thư viện Sóoc-bon. Thành là một người ngốn sách và ngoài những tác phẩm của Bác-Buýt, Thành đặc biệt thích những tác phẩm của Sếch xpia, Sác-lơ Đích-ken, Vich-to Huy-gô, Ê-min Đô-la, Lê-ông Tôn-xtôi và Lỗ Tấn. Thực sự Thành sống chỉ với một chiếc va -li và thường chuyển từ một khách sạn hay một căn phòng xoàng xĩnh sang một khu khác của người lao động trong thành phố.

    Pa-ri sau chiến tranh là một nơi thú vị đối với người châu Á trẻ tuổi quan tâm đến chính trị. Thủ đô của nước Pháp vẫn được coi như trung tâm chính trị và văn hóa của thế giới Phương Tây. Nhiều trong số những nhân vật cấp tiến nổi tiếng của thế kỷ mười chín đã sống và hoạt động tại Pa-ri, sự hung tàn của cuộc chiến vừa qua đã tiếp thêm sinh lực cho những người kế thừa tư tưởng của họ tiếp tục cuộc khẩu chiến chống lại hệ thống tư bản chủ nghĩa. Dọc theo tả ngạn sông Xen, những trí thức và sinh viên Pháp và thế giới tập trung trong các quán cà phê và nhà hàng thảo luận về vấn đề chính trị và vạch kế hoạch cho các cuộc cách mạng. Một số người đó được bí mật tuyển mộ làm điệp viên cho Pháp để theo dõi các đồng nghiệp của mình và báo cáo lại bất kỳ hoạt động lật đổ nào cho cảnh sát.

    Trong số các cộng đồng sống lưu vong tại Pa-ri sau chiến tranh, người Việt Nam là một trong những cộng đồng đông đảo nhất. Khi chiến tranh kết thúc có khoảng năm mươi nghìn người Việt Nam tại Pháp. Phần lớn làm việc tại các nhà máy nhưng có vài trăm người, thường là con cái các gia đình giàu có, được đi học, bởi bầu không khí chính trị hóa cao trong cộng đồng trí thức ở Pháp, những sinh viên này đã đủ độ chín muồi tham gia những cuộc vận động về chính trị. Mặc dù tinh thần dân tộc vẫn rất mạnh mẽ trong người Việt Nam sống tại Pháp, có rất ít vận động để biến tinh thần đó thành sự nghiệp đấu tranh giành độc lập. Trong chiến tranh, Pháp khẳng định rằng bổn phận của mỗi công dân của đế quốc thuộc địa rộng lớn là bảo vệ mẫu quốc, kết quả là một số phần tử hiếu chiến cho rằng họ phải đổi sự ủng hộ người Pháp ở châu Âu lấy quyền tự trị nhiều hơn hoặc thậm trí còn độc lập hoàn toàn cho Việt Nam sau chiến tranh. Nhiều người khác còn đi xa hơn nữa, thân với mật thám Đức với hy vọng là thất bại của Pháp sẽ phá bỏ bộ máy cai trị ở nước ngoài và dẫn tới việc lật đổ chính quyền thuộc địa.

    Dường như người Pháp có bằng chứng cho thấy rằng Phan Châu Trinh và cộng sự của mình là Phan Văn Trường có thể đã thử cả hai khả năng. Sinh năm 1878 tại Hà Đông gần Hà Nội , ông Trường được đào tạo trở thành một luật gia. Ông sống tại Pháp từ năm 1910 và đã trở thành một công dân Pháp. Trước khi xảy ra chiến tranh, ông Trường và ông Trinh đã thành lập Hội người Việt Nam lưu vong. Ông Trinh, con người đầy ý tưởng , chưa bao giờ biểu lộ có nhiều năng lực trong tổ chức chính trị. Hội , được gọi là Hội đồng Thân ái, không được sự công nhận rộng rãi của người Việt Nam sống trong và ngoài Pa-ri và chỉ có khoảng 20 thành viên hầu như không có hoạt động gì . Tuy nhiên người ta đồn rằng , tin đồn này được cơ quan mật thám Pháp coi là thật, hai người đã suy ngẫm tổ chức một phong trào nhằm thúc đẩy một cuộc tổng nổi dậy ở Việt Nam . Chính vì vậy ngay khi chiến tranh bắt đầu , họ đã bị giam giữ trong thời gian ngắn vì bị nghi ngờ là đã tham gia các hoạt động mưu phản . Chính vì họ bị bắt nên những bức thư của Thành đã rơi vào tay của nhà cầm quyền . Sau khi được trả tự do , Trinh và Trường tránh không thách thức chính quyền thuộc địa ở Đông Đương – và phải một thập kỷ thì mới có người đưa ra được thách thức đối với chính quyền . Cho dù bởi người Pháp đã có các hành động ngăn chặn có hiệu quả hay vì thiếu năng lực mà cộng đồng người Việt Nam tại Pháp hầu như chẳng làm gì trong thời gian chiến tranh để thúc đẩy sự nghiệp dành độc lập dân tộc , trên thực tế , cộng đồng người Việt Nam đã dậm chân taị chỗ về chính trị .

    Thành đã nhanh chóng làm thay đổi tình hình. Mãi đến năm 1919, mặc dù Thành đã làm quen được với một vài nhân vật quan trọng trong phong trào chống thuộc địa của Việt Nam, thành tích chính trị của Thành mới chỉ là làm phiên dịch trong thời gian ngắn cuộc biểu tình của nông dân Huế. Bề ngoài không gây ấn tượng, ăn mặc xuềnh xoàng, Thành không phải là một người được những người qua đường bình thường chú ý tới. Tuy nhiên, bạn bè của Thành nhớ lại rằng Thành có một đặc điểm thể chất chứng tỏ Thành không phải là một con người bình thường – đôi mắt đen rực sáng mỗi khi Thành nói chuyện và dường như đi sâu vào tâm hồn người nghe . Một người quen thậm chí còn nói rằng tính mãnh liệt của Thành làm cho Thành e sợ .

    Mùa hè đó, được hai đồng sự lớn tuổi đồng ý, Thành đã lập một tổ chức mới của người Việt Nam sống tại Pháp; Hội những người yêu nước An Nam. Vì Thành chưa được nhiều người biết tới, ông Trinh và Phan Văn Trường trong danh sách là những người lãng đạo của tổ chức, nhưng Thành, với tư cách là thư ký, hiển nhiên là người lãnh đạo. Những thành viên ban đầu của tổ chức có thể là những người trí thức, nhưng người ta kể rằng Thành đã sử dụng những mối liên hệ của mình để chiêu mộ một số người lao động Việt Nam, trong đó có một số thủy thủ ở các cảng biển Tu-lông, Mác-xây và Lơ Ha-vrơ.

    Bề ngoài, Hội không theo đuổi các mục tiêu cấp tiến. Thực ra, những người sáng lập hội đã hy vọng tránh các mục tiêu này để có thể giành được sự ủng hộ rộng lớn của cộng đồng người Việt và tránh bị nhà chức trách nghi ngờ. Việc dùng từ An Nam thay cho từ truyền thống “Việt Nam” trong tên gọi của hội có lẽ là một thông điệp gửi tới chính quyền là Hội sẽ không tạo ra một mối nguy hiểm thực sự cho chính quyền thuộc địa.

    Thành lập các tổ chức như vậy khi đó là thích hợp. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pa-ri trở thành trung tâm vận động thế giới của các nhóm chống thực dân. Các cuộc tranh luận về chủ nghĩa thực dân diễn ra thường xuyên trong Quốc hội Pháp. (Trong một bài phát biểu tại Hà Nội tháng tư năm 1918, viên toàn quyền Đông Dương giỏi hùng biện An-be Xa-rô, sau này tiếp tục giữ chức vụ này lần thứ hai trong một thời gian ngắn, đã hứa với nhân dân Việt Nam rằng họ sẽ sớm được thấy các quyền chính trị của mình được mở rộng. Vấn đề này cũng được nêu ra vào tháng giêng năm 1919 khi các nhà lãnh đạo các cường quốc Đồng minh thắng trận họp tại Điện Véc-xây để thương lượng thỏa ước hòa bình với các cường quốc trung tâm bại trận và đưa ra các nguyên tắc điều phối quan hệ quốc tế trên thế giới sau chiến tranh. Tổng thống Mỹ Út-râu Uyn-xơn đã khích lệ tinh thần các dân tộc dưới ách thuộc địa trên toàn thế giới bằng việc đưa ra tuyên bố 14 điểm nổi tiếng trong đó kêu gọi trao quyền tự quyết cho tất cả các dân tộc.

    Vào đầu mùa hè, một số tổ chức của những người theo chủ nghĩa dân tộc có trụ sở tại Pa-ri đã phát hành các bản tuyên ngôn công khai cho mọi người biết mục tiêu của mình. Thành và các đồng sự trong Hội những người yêu nước An Nam đã quyết định tranh thủ thời cơ đưa ra một bản yêu sách. Với sự hỗ trợ của Phan Văn Trường, Thành đã soạn yêu cầu 8 điểm kêu gọi các nhà lãnh đạo đồng minh tại Véc-xây vận dụng ý tưởng của Tổng thống Uyn-xơn vào các vùng thuộc địa của Pháp ở Đông Nam châu Á. Với tiêu đề “Yêu sách của nhân dân An Nam”, bản yêu sách có thái độ tương đối ôn hòa; không đề cập độc lập dân tộc nhưng yêu cầu quyền độc lập chính trị cho người Việt Nam và quyền tự do dân chủ truyền thống như quyền lập hội, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí và tự do đi lại, ân xá cho các tù nhân chính trị, bình đẳng giữa người Việt Nam và người Pháp ở Việt Nam và bãi bỏ lao dịch và các hình thức thuế đáng ghét đánh vào muối, thuốc phiện và rượu. Bản yêu sách đề ngày 18 tháng sáu năm 1919 và tác giả của bản yêu sách là Nguyễn Ái Quốc, ở 56 đường Mơ-xi-ơ Lơ Pơ-ranh-xơ dưới danh nghĩa Hội những người yêu nước An Nam. Cho dù đối với một độc giả Việt Nam, cái tên Nguyễn Ái Quốc chỉ là biệt danh có nghĩa là “Nguyễn yêu nước” thì không ai biết được con người thực của tác giả ngoài một nhóm cộng sự của ông.

    Đã có nhiều tranh luận diễn ra giữa những người viết tiểu sử về Hồ Chí Minh và những người nghiên cứu lịch sử hiện đại Việt Nam về việc liệu Nguyễn Tất Thành có phải là tác giả của bản yêu sách đó không hay đó là nỗ lực chung của một số thành viên trong nhóm người Việt tại căn hộ của Phan Châu Trinh tại biệt thực Đề Gô-bơ-lanh. Nhà chức trách Pháp lúc đó rất bối rối; họ chưa bao giờ biết tới cái tên đó. Một số phỏng đoán rằng tác giả thực sự chính là Phan Văn Trường người được coi là “thế lực xấu xa” đứng đằng sau nhóm và là thành viên khôn ngoan nhất. Tuy nhiên, trong hồi ký của mình, Hồ Chí Minh đã xác nhận rằng ông chính là tác giả “bản yêu sách” mặc dù ông cũng xác nhận rằng Phan Văn Trường đã giúp ông soạn thảo yêu sách bằng tiếng Pháp để dễ hiểu.

    Cho dù Thành có là tác giả bản yêu sách hay không có lẽ không quan trọng bằng việc Thành là người chịu trách nhiệm chính công bố bản yêu sách. Vài tháng sau, người ta đã xác minh được tên Nguyễn Ái Quốc, một biệt danh Thành sử dụng với niềm kiêu hãnh trong ba thập kỷ sau. Thành đã tự tay chuyển bản yêu sách tới các thành viên quan trọng trong Quốc hội và tới Tổng thống Pháp, Thành cũng đã đi dọc các hành lang trong cung điện Véc-xây để gửi bản yêu sách tới các phái đoàn của các cường quốc lớn. Để đảm bảo bản yêu sách phát huy hết tác dụng, Thành đã thu xếp xuất bản bản yêu sách trên tờ Nhân đạo, một tờ báo cấp tiến ủng hộ chủ nghĩa xã hội. Thành cũng đã gửi tiền ủng hộ của các thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động để in thêm sáu nghìn bản và phân phát trên các đường phố Pa-ri.

    Bản yêu sách đã không nhận được hồi âm chính thức từ phía nhà chức trách Pháp. Mặc dù vấn đề thuộc địa vẫn là chủ đề chính vẫn được tranh lụân tại Quốc hội và cũng đã gây ra nhiều tranh cãi trong Hội nghị hòa bình Véc-xây, và khi kết thúc hội nghị những người tham gia hội nghị đã không đưa ra được một hành động cụ thể để giải quyết vấn đề. Đại tác Hau-xơ, cố vấn cao cấp của Tổng thống Uyn-xơn trong phái đoàn Mỹ tại Véc-xây, đã trả lời ngắn gọn thư của Nguyễn Ái Quốc, thông báo đã nhận được thư và cảm ơn tác giả đã gửi thư nhân dịp thắng lợi của đồng minh. Lá thư thứ hai ngày hôm sau chỉ nói rằng thư của Nguyễn Ái Quốc có thể được trình cho Tổng thống Uyn-xơn xem xét. Từ đó không thấy phái đoàn Mỹ trao đổi lại về vấn đề này. Trên thực tế, Út-râu Uyn-xơn đã gặp phải sự chống đối quyết liệt đối với tuyên bố mười bốn điểm của mình tại Véc-xây và buộc phải nhượng bộ để đạt được một hiệp định hòa bình, một quyết định đã gây tức giận và thất vọng trên toàn thế giới thuộc địa.

    Tuy nhiên, bản yêu sách đã gây hoảng sợ trong giới chức Pa-ri. ngày 23-6 Tổng thống Pháp gửi thư cho An-be Xa-rô, nay đã trở lại Pa-ri sau khi hết nhiệm kỳ làm toàn quyền Đông Dương, nói rằng ông đã nhận được bản yêu sách và yêu cầu Xa-rô nghiên cứu vấn đề và tìm hiểu về tác giả bản yêu sách. Tháng Tám năm đó, viên toàn quyền tại Bắc Kỳ đã gửi điện về Pa-ri thông báo rằng yêu sách đã được rải khắp các đường phố Hà Nội và được báo chí địa phương bình luận. Đến tháng chín, Thành đã chấm dứt những phỏng đoán về tác giả của bản yêu sách, bằng công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc trong cuộc trả lời nhà báo Mỹ đóng tại Pa-ri làm việc cho một tờ báo của Trung Quốc. Tuy nhiên, Thành làm như vậy mà không tiết lộ tên thật của mình. Cũng trong thời gian đó, Thành đã làm quen với Pôn Ác-nu, một cảnh sát có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động của người Việt Nam nhập cư ở Pa-ri. Khi dự một buổi nói chuyện của một viện sĩ người Pháp từng chỉ trích chính sách thuộc địa ở Đông Dương, Ác-nu đã nhìn thấy một người đàn ông trẻ sôi nổi đang phân phát những tờ truyền đơn. Sau vài lần nói chuyện trong một quán cà-phê gần nhà hát Ô-pê-ra, Ác-nu đã liên lạc với Bộ Thuộc địa và gợi ý An-be Xa-rô thu xếp gặp anh ta.

    Ngày 6-9, Thành được Bộ Thuộc địa nằm trên đườngU-đi-nô triệu đến phỏng vấn trong khi đó mật vụ của cảnh sát bí mật hoạt động trong cộng đồng người Việt Nam lưu vong đã chụp ảnh Thành và bắt đầu dò la tin tức về thực danh của Thành.

    Rất khó có thể biết được liệu Nguyễn Ái Quốc, như Thành từ đó thường xưng như vậy, đã thực sự hy vọng rằng những yêu sách về công lý và quyền tự quyết cho nhân dân Việt Nam sẽ được đáp lại, hay Nguyễn Ái Quốc chỉ dựa vào tác động của bản yêu sách để truyền bá sự nghiệp chống chủ nghĩa thực dân và cấp tiến hóa cộng đồng người Việt ở Pa-ri.

    Không thể không cho rằng Nguyễn Ái Quốc lúc đầu đã hy vọng rằng bản yêu sách của mình có thể đem lại những thay đổi tích cực ở Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc lạc quan và dường như luôn tin tưởng vào những điều tốt đẹp nhất của con người kể cả kẻ thù của mình. Thái độ đó không chỉ giành cho đồng bào của Nguyễn Ái Quốc, hay thậm chí cho những người châu Á, mà còn cho cả những người châu Âu. Trong một chuyến đi ngắn tới Đức, Thuỵ Sĩ và I-ta-li-a trong khoản thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đã nói với một người bạn rằng: “Tất cả đều là người. Mọi nơi chúng ta đều gặp những người tốt và những người xấu, thật thà và dối trá. Nếu chúng ta là người tốt chúng ta sẽ gặp được những người tốt ở khắp mọi nơi.” Nguyễn Ái Quốc tin rằng chính mối quan hệ thuộc địa đã làm mất phẩm chất và làm đồi bại bản chất con người. Tuy nhiên, rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc đã rất thất vọng vì yêu sách của mình không được đáp lại: một thập kỷ sau Nguyễn Ái Quốc đã phàn nàn với các cộng sự của mình rằng nhiều người đã thất vọng vì “bài hát quyền tự do” của Út-râu Uyn-xơn.

    Cũng có thể là như những người Việt Nam khác, Thành đã bị những lời lẽ của viên Toàn quyền An-be Xa-rô thuyết phục. Trong cuộc phỏng vấn của Thành với phóng viên Mỹ của tờ tạp chí Trung Quốc Yi Che Pao tháng chín, Thành đã phàn nàn về những điều kiện tồi tệ tại Đông Dương, nhưng thừa nhận rằng bước đi đầu tiên là đạt được quyền tự do ngôn luận giáo dục người dân và sau đó phấn đấu cho quyền tự trị và độc lập dân tộc.

    Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy sự kiên nhẫn và lạc quan của Thành chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Ngày hôm sau cuộc phỏng vấn với Xa-rô, Thành đã gửi cho Xa-rô một bản sao yêu sách với thư kèm theo có nội dung:

    “Như chúng ta đã trao đổi ngày hôm qua, tôi xin gửi ngài bản yêu sách. Bởi ngài đã nói với tôi rằng ngài sẵn sàng nói chuyện thẳng thắn nên tôi mạnh dạn yêu cầu ngài cho chúng tôi biết tám yêu sách của chúng tôi đã được giải quyết như thế nào… Bởi tôi cho rằng tám yêu cầu đó vẫn chưa được giải quyết, không có yêu cầu nào được giải quyết thỏa đáng.

    Tôi xin gửi tới Ngài Toàn quyền lời chào trân trọng.

    Nguyễn Ái Quốc.”

    Vài ngày sau, hai mật vụ của cảnh sát được giao nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động và hoạt động chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Đến tháng mười hai Nguyễn Ái Quốc đã tạm thời được xác định là Nguyễn Tất Thành, con trai của viên quan bị cách chức Nguyễn Sinh Sắc và cũng là người đàn ông trẻ đang lẩn trốn từng bị trục xuất khỏi trường Quốc học Huế vì các hoạt động nổi loạn năm 1908.

    Bất kể động cơ trong việc công bố và vận động thực hiện yêu sách là gì, Nguyễn Ái Quốc đã làm mọi người biết đến sự nghiệp phấn đấu cho quyền tự quyết của người Việt Nam. Tin tức về yêu sách đã nhanh chóng lan rộng trong cộng đồng người Việt Nam ở Pháp và đã tác động mạnh đến đồng bào của Nguyễn Ái Quốc. Những người yêu nước cao tuổi rất ngạc nhiên vì sự táo bạo của người thợ sửa ảnh trẻ tuổi. Những người trẻ hơn thì biểu lộ thái độ nhiệt tình hăng hái trong sự nghiệp đấu tranh. Những người thận trọng hơn thì cho rằng Nguyễn Ái Quốc là một “người ngôn cuồng” và bắt đầu lảng tránh Nguyễn Ái Quốc. Họ rỉ tai nhau, anh có thể trông cậy gì vào một con trâu ương ngạnh Nghệ An?

    Nản chí về những yêu sách đòi độc lập dân tộc đã khiến rất nhiều trì thức yêu nước ở các nước thuộc địa ở châu Á và châu Phi theo đuổi chính trị cấp tiến. Dù rất có thể là Hồ Chí Minh cũng không phải là một ngoại lệ, trong trường hợp của ông rõ ràng là ông đã quan tâm tới chính trị xã hội chủ nghĩa trước khi soạn thảo yêu sách. Việc ông tham gia vào các hoạt động công đoàn khi sống ở Anh có thể đã tạo cho ông những mối liên hệ giúp ông trở thành người hoạt động tích cực trong các tổ chức tương tự ngay sau khi ông đến Pháp. Mi-sen Dếch-chi-ni, lúc đó là đảng viên Đảng Xã hội Pháp đã gặp Nguyễn Tất Thành vào cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất và nhận thấy rằng Thành đã quen biết với những nhân vật có ảnh hưởng lớn của Đảng Xã hội Pháp như Mác-xen Ca-sanh, Pôn-Vai-ăng Cu-tuy-ri-ê, Lê-ông Blum, Ê-đu-a Ê-ri-ô, Hăng-ri Bác-buýt và Giăng Lông-ghê, cháu nội của Các Mác. Qua các đầu mối của Đảng Xã hội Pháp, cuối cùng Thành đã có được các giấy tờ tùy thân và giấu phép lao động. Tuy nhiên, theo Dếch Chi-ni thì Thành chưa được công nhận là đảng viên chính thức của Đảng Xã hội Pháp cho tới khi Thành chứng tỏ mình là Nguyễn Ái Quốc vào tháng sáu năm 1919. Là tác giả của bản yêu sách nổi tiếng, Đồng chí Nguyễn (hay ông Nguyễn như người ta đôi khi gọi) rất được mọi người kính trọng.

    Hồ Chí Minh có lẽ được những người theo chủ nghĩa xã hội chú ý tới vì, theo ông, họ “thông cảm với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức”. Đồng thời, khuynh hướng tư tưởng của ông thiên về chủ nghĩa xã hội có thể được nhìn nhận như kết quả tất yếu của việc ông căm ghét chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Như những người châu Á khác, kinh nghiệm đầu tiên của ông với hệ thống tư bản chủ nghĩa là kết quả của sự bóc lột của bọn thực dân trên đất nước ông đã gây ra những hậu quả tàn khốc đối với cuộc sống của nhiều đồng bào ông. Quan điểm đó càng được củng cố trong những năm tháng ông lênh đênh trên biển, từ hải cảng này đến hải cảng khác trên khắp thế giới thuộc địa, và có lẽ trong cả thời gian sống ở Anh và Hoa Kỳ. Nhiều năm sau đó ông thường chỉ trích bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Mỹ, mặc dù đôi khi ông biểu lộ sự thán phục đối với tính năng động và khả năng của người Mỹ. Có thể là, giống như những người theo chủ nghĩa Dân tộc châu Á khác, sự quan tâm ban đầu của ông tới chủ nghĩa xã hội là kết quả của việc phát hiện ra sự đối nghịch giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.

    Tuy nhiên, khuynh hướng của những người theo chủ nghĩa Dân tộc châu Á thiên về chủ nghĩa xã hội không thể hoàn toàn quy về một động cơ cá nhân. Đối với nhiều trí thức châu Á, những nguyên tắc xử thế của những người theo chủ nghĩa xã hội phương Tây phù hợp với những quan điểm họ thừa hưởng hơn là của những người theo chủ nghĩa cá nhân với nguyên tắc xử thế dựa trên lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Và không ở đâu điều này được thể hiện rõ như trong xã hội Nho giáo Trung Quốc và Việt Nam. Người Trung Quốc và Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc xuất thân từ những gia đình Nho giáo thường nhìn thấy cảnh hào nhoáng của những thành phố thương mại mới hơn là cảnh không hợp gu. Theo cách suy nghĩ của những người Nho giáo, nền công nghiệp phương Tây dễ dàng sinh ra thói tham lam và tự phụ. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh nỗ lực cộng đồng, lối sống giản đơn, đồng đều về của cải và cơ hội, tất cả những điều này có tác động mạnh tới đời sống Nho giáo. Trong bối cảnh đó, sự chuyển đổi về mặt triết học từ Khổng Tử sáng Mác dễ hơn nhiều sang A-đam Xmít và Giôn Xtiu-uất Min là những người luôn coi trọng chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân không quen thuộc với người châu Á.

    Năm 1920, ông Nguyễn bắt đầu thường xuyên tham dự các cuộc họp của Đảng Xã hội Pháp và của Tổng Liên đoàn Lao động cũng như của Liên đoàn Nhân quyền (một tổ chức không khác Hội Quyền Tự do Dân sự Mỹ), và đóng một vai trò tích cực hơn trong các cuộc tranh luận chính trị. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy ông đã bắt đầu nhận ra thái độ của các đồng sự rất đáng giận. Đối với Nguyễn Ái Quốc, vấn đề cốt lõi của thời đại là các dân tộc thuộc địa bị chủ nghĩa đế quốc phương Tây bóc lột. Ông phát hiện ra rằng đối với hầu hết những người quen Pháp của ông, chủ nghĩa thực dân chỉ là một mặt của một vấn đề lớn hơn – vấn đề chủ nghĩa tư bản thế giới. Mác có thiên hướng lấy châu Âu làm trung tâm và hầu hết những người theo Mác ở châu Âu đã đi theo hướng của ông. Sau cùng, thuộc địa đã đem lại sự giàu có cho nước Pháp và công việc cho công nhân Pháp. Chính vì vậy, ông Nguyễn nhận được rất ít sự hưởng ứng khi nêu ra các vấn đề thuộc địa tại các cuộc họp chính trị. Điều này dẫn tới việc trong cơn thất vọng ông đã to tiếng với một đồng sự “Nếu như anh không tố cáo chủ nghĩa thực dân, nếu như anh không đứng về phía các dân tộc thuộc địa, làm sao anh có thể làm cách mạng được?”

    Chia rẽ nghiêm trọng đã xảy ra trong hàng ngũ phong trào chủ nghĩa xã hội giữa những người lãnh đạo ôn hòa như Giăng Lông-ghê và Lê-ông Blom và những người cứng rắn hơn như Mác-xen Ca-sanh và Pôn Vai-ăng Cu-tuy-ri-ê là những người dường như có những cái nhìn cấp tiến hơn về tương lai xã hội loài người. Nguyễn Ái Quốc đứng về phía những người cấp tiến. Một trong những vấn đề mà hai phe có quan điểm khác nhau là cuộc cách mạng Bô-sê-vích. Một nhóm những người chủ trương hành động trong đảng bắt đầu hợp nhất lại ủng hộ một số sáng kiến quan trọng: phản đối dàn xếp hòa bình Véc-xây; thành lập phong trào chủ nghĩa xã hội quốc tế mới tiến bộ hơn (năm 1889, Quốc tế thứ nhất của Mác được thay thế bằng Quốc tế thứ hai ôn hòa hơn nhằm tiến tới chủ nghĩa xã hội thông qua con đường nghị viện), thông cảm với các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa và tích cực ủng hộ cách mạng Bôn-sê-vích. Cuối năm 1919, Đảng Xã hội Pháp đã thành lập một ủy ban ủng hộ Quốc tế thứ Ba mới của Lê-nin có lập trường nghiêng về việc cần phải tiến hành bạo động cách mạng và thành lập chuyên chính vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã đóng một vai trò tích cực trong các hoạt động đó và thường tham dự các cuộc họp nhằm quyên góp tiền bảo vệ cách mạng Xô-Viết trước kẻ thù tư bản.

    Nguyễn Ái Quốc vẫn còn thiếu kinh nghiệm về chính trị cấp tiến thế giới. Một số đồng sự của ông trong những năm đầu đó sau này kể lại rằng vào lúc Nguyễn Ái Quốc hầu như không biết gì về lý thuyết hay về sự khác biệt giữa Quốc tế thứ hai và Quốc tế thứ ba. Một lần Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu Giăng Lông-ghê giải thích về chủ nghĩa Mác-xít. Lông-ghê lưỡng lự và nói rằng câu hỏi quá phức tạp và gợi ý Nguyễn Ái Quốc đọc bộ Tư bản của Mác. Sau đó Nguyễn Ái Quốc đã tới một thư viện gần Quảng trường I-ta-li để mượn tác phẩm đồ sộ đó để đọc cùng với một số tác phẩm Mác-xít khác. Sau này trong cuốn tự thuật của mình ông kể lại rằng ông đã dùng cuốn Tư bản làm gối.

    Tuy nhiên, chính tác phẩm nổi tiếng của Lê-nin “Luận cương về các vấn đề Dân tộc và Thuộc địa” gửi cho Đại hội Quốc tế Cộng sản II mùa hè năm 1920 đã khiến cho Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đơn thuần đến với thiên hướng xã hội chủ nghĩa trở thành một người cách mạng Mác-xít. Trong một bài báo viết cho một nhà xuất bản Liên-Xô năm 1960, Nguyễn Ái Quốc đã xác nhận rằng trong các cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ Quốc tế thứ hai và thứ ba trong Đảng Xã hội Pháp ông đã “không thể hiểu được hết” diễn biến của các cuộc tranh luận. Sau này, vào giữa tháng bảy năm 1920, một người đã đưa cho ông bản “luận cương” của Lê-nin trên báo Nhân đạo. Ông kể lại việc này một cách sôi nổi:

    “Luận cương có những thuật ngữ chính trị rất khó hiểu Tuy nhiên, khi đọc đi đọc lại cuối cùng tôi đã hiểu được ý chính của bản luận cương. Sự xúc động, nhiệt huyết, tầm nhìn rộng và niềm tin của bản luận cương đã thấm đẫm trong tôi. Tôi mừng phát khóc. Mặc dù ngồi một mình trong phòng tôi đã nói to như đang phát biểu trước công chúng: Đồng bào ơi! Đây là cái chúng ta cần, đây chính là con đường giải phóng chúng ta”.

    Ngay sau đó, ông đã gửi một bức thư cho Ủy ban Đoàn kết với Quốc tế ba yêu cầu được kết nạp. Đơn xin gia nhập của ông đã được chấp thuận. Bỏ qua vấn đề ý thức hệ, thông điệp của Lê-nin rất đơn giản và rõ ràng. Trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa ở các nước công nghiệp phát triển, các Đảng Cộng sản ở phương Tây cần phải phối hợp chặt chẽ với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc ở các thuộc địa tại châu Á và châu Phi. Lê-nin cho rằng nhiều trong số các phong trào này do tầng lớp trung lưu cầm lái và về lâu dài tầng lớp này không ủng hộ cách mạng xã hội. Do đó, bất kỳ sự liên minh nào với các nhóm của những người theo chủ nghĩa dân tộc thuộc giai cấp tư sản cần phải được tiến hành một cách thận trọng và chỉ với điều kiện là các đảng Cộng sản địa phương phải duy trì được bản sắc riêng của mình và được tự do hành động. Tuy mặc dù có những hạn chế như vậy Lê-nin cho rằng các phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á và châu Phi là liên minh tất yếu, mặc dù chỉ là tạm thời, của những người cộng sản chống lại kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc trên thế giới. Chính việc các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây tìm kiếm thị trường và tài nguyên ở các nước kém phát triển đã duy trì và tránh được sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới.

    Ách thống trị đế quốc tại các thuộc địa không những trì hoãn ngày mà cách mạng xã hội tiêu diệt bất công và bất bình đẳng tại phương Tây mà còn ngăn chặn sự trỗi dậy của các lực lượng tiến bộ trong các xã hội châu Á và châu Phi. Bị ngăn cản không được đóng một vai trò tích cực trong sự phát triển thương mại và công nghiệp trong xã hội do ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc phương Tây đưa lại, giai cấp tư sản địa phương vẫn còn yếu và chưa phát triển; do vậy giai cấp tư sản không thể thực hiện được vai trò tiến bộ của mình trong việc tiến hành cách mạng tư sản chống lại các thế lực phong kiến trong xã hội là bước đầu cần thiết dẫn tới chủ nghĩa cộng sản trên thế giới . Giai cấp tiểu tư sản ở các nước thuộc địa cần đến sự giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ khác – như tầng lớp nông dân nghèo và giai cấp vô sản ở thành thị còn mỏng nhưng đang lớn mạnh – để lật đổ chế độ phong kiến và mở cửa phát triển thương mại và công nghiệp.

    Trên thực tế, Lê-nin kêu gọi những người cộng sản ở các nước phương Tây sát cánh với những người theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Á và châu Phi trong sự nghiệp cách mạng chung. Liên minh này chỉ là tạm thời; khi chủ nghĩa đế quốc và các đồng minh phong kiến trong các xã hội kém phát triển bị lật đổ, phong trào cộng sản cần phải tự tách mình khỏi liên minh với các lực lượng chính trị tư sản lúc này ngày càng trở nên phản động, và cần phải đấu tranh để tiến tới giai đoạn thứ hai của cuộc cách mạng, giai đoạn xã hội chủ nghĩa.

    Lê-nin đã đề nghị giúp đỡ nhân dân Việt Nam và các dân tộc khác khi họ đang rất cần. Lê-nin đã thể hiện rất rõ quan điểm – đây cũng là cốt lõi đối với thế giới quan của Nguyễn Ái Quốc – cho rằng các khu vực thuộc địa là một tuyến phòng thủ quan trọng của hệ thống tư bản trên thế giới. Mất đi những cái vòi bạch tuộc của chủ nghĩa thực dân ở các thuộc địa rộng lớn, hệ thống tư bản có thể bị lật đổ.

    Những người theo chủ nghĩa xã hội ở Pa-ri, trừ một số ít người, đều có xu hướng nói mà không làm. Lê-nin không phải là một nhà lý thuyết mà là một con người hành động. Đối với Nguyễn Ái Quốc, Lê-nin là một người gây cảm hứng đặc biệt và là người đáng để ông phụng sự.

    Được những người quen Pháp như nhà báo cấp tiến Ga-xtông Mông-mút-xô và Giăng Lông-ghê giúp trau chuốt văn phong còn thô và quá thẳng, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết cho các tờ báo cánh tả ở Pa-ri vào cuối mùa hè năm 1919, và tiếp tục là người ủng hộ tích cực sự nghiệp tiến bộ cho tới khi ông rời Pháp gần bốn năm sau. Bài báo đầu tiên của ông với tiêu đề “Vấn đề thuộc địa” được đăng trên tờ Nhân đạo ngày 2 tháng Tám năm 1919, chỉ trích chính sách của người Pháp ở Đông Dương mà theo ông đã không mang lại gì ngoài nỗi thống khổ của nhân dân Việt Nam. Mặc dù trên lý thuyết người Pháp thực hiện sứ mệnh truyền bá văn minh nhưng trên thực tế chính sách giáo dục của họ chỉ là tuyên truyền và làm cho người Việt Nam không sẵn sàng cạnh tranh với những người láng giềng trong tương lai. Trong khi đó, chính phủ Nhật Bản đã khôn ngoan chuẩn bị cho nhân dân của họ phát triển kinh tế. Sau cùng, ông tiên đoán rằng các thương nhân Nhật Bản sẽ tới Đông Dương và làm cho cuộc sống của người Việt Nam thậm chí còn khó khăn hơn.

    Nguyễn Ái Quốc đã có lý. Cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, hệ thống giáo dục được người Pháp áp dụng nhằm trang bị cho nhân dân Đông Dương những kiến thức phương Tây chỉ đến được một bộ phận nhỏ dân chúng. Chí có 3.000 trong số hơn 23.000 xã ở Việt Nam có trường theo kiểu phương Tây. Giáo dục truyền thống kinh thi Hán tiếp tục được các nho sĩ dạy ở nông thôn, nhưng sau khi người Pháp bãi bỏ chế độ thi, hệ thống giáo dục này đã mất đi tính hướng nghiệp ban đầu. Giáo dục tại các bậc học cao hơn được giành cho những người Việt Nam sống ở các thành phố nhưng chủ yếu chỉ giới hạn trong một số trường trung học giành cho các công tử và tiểu thư của tầng lớp thượng lưu.

    Thành nói về chiến lược của Xa-rô mở rộng sự tham gia chính trị thực ra chẳng có chính sách nào hết. Khi nhân dân đứng lên phản đối, như năm 1908, họ đã bị đàn áp đẫm máu. Ông kết luận liệu người Pháp có nhận ra rằng đến lúc phải giải phóng những người dân bản xứ và giúp họ sẵn sàng cạch tranh với láng giềng trong tương lai?

    Tiếp sau bài báo đó, Nguyễn Ái Quốc viết tiếp một bài báo khác có tựa đề “Đông Dương và Triều Tiên” trên báo Lơ Pô-puy-le và “Thư gửi Ngài U-tơ-rây” trên cùng tờ báo vào tháng mười. Cũng như bài báo trước, bài báo này, tuy cực lực lên án một số chính sách của Pháp, nhưng khá ôn hòa với những giải pháp được đề xuất. Các bài báo này không nhắc đến việc sử dụng bạo lực hay một liên minh công nông theo chủ nghĩa Lê-nin. Trong bài báo tháng 10, tác giả ưu ái nhắc đến cách chính sách và nhận xét của cựu Thống đốc An-be Xa-rô và tuyên bố phản đối Mô-ri-xơ U-tơ-rây, một quan chức thuộc địa và đại diện của Nam Kỳ trong Quốc hội Pháp, người mà có tin đồn rằng muốn thay Xa-rô làm thống đốc. U-tơ-rây đã chỉ trích Hội những người yêu nước An Nam ở Quốc hội trong khi bác bỏ việc chế độ thực dân Pháp đàn áp người An Nam. Nguyễn Ái Quốc hỏi một cách châm biếm, rằng anh đại diện cho ai? 20 triệu người An Nam mà U-tơ- rây thậm chí còn không biết tên, trừ một số viên chức và một vài cử tri giàu có ở Nam Kỳ? Ông kết luận, giữa quan điểm của U-tơ-rây và Xa-rô có một “khoảng cách lớn.”

    Nghề thợ sửa ảnh Nguyễn Ái Quốc không cần nhiều thời giờ. Trong khi viết những mẩu báo ngắn này, ông cũng bắt đầu chuẩn bị một bản thảo dài hơn có tựa đề Những người bị áp bức, một bài dài phê bình chính sách của Pháp ở Đông Dương. Dường như hiếm khi những nỗ lực viết sách không thành của một tác giả lại được ghi lại một cách kỹ lưỡng như vậy, bởi vì cảnh sát được thông báo rõ về hoạt động của ông qua các báo cáo định kỳ của các điệp viên. Ông bắt đầu viết vào cuối năm 1919 với sự giúp đỡ của một người xuất bản chống thực dân là Pôn Vi-nhơ Đốc-tông và miệt mài với báo và các tạp chí ở Thư viện Quốc gia để thu thập các dữ liệu và trích dẫn có ích. Khi một người quen cảnh báo Quốc vêf những trích dẫn không nêu xuất xứ, ông nói rằng ông hy vọng các nhà xuất bản khác sẽ đòi tiền bồi thường cho những trích dẫn đó, vì điều đó sẽ giúp quảng bá cho quyển sách. Một người khác khuyên ông không nên sử dụng tựa đề mang tính thách thức nhưng ông vẫn khăng khăng giữ nguyên như vậy.

    Theo các báo cáo của cảnh sát, Nguyễn Ái Quốc không đủ kinh phí để xuất bản và định tự mình xuất bản bản thảo đó. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, khi hoàn thành nó, một đêm ông trở về nhà và thấy bản thảo bị ai đó lấy mất. Một số nhà viết tiểu sử cho rằng nó bị cảnh sát đánh cắp. Dường như khả năng này là có, mặc dù hồ sơ cảnh sát không hề đề cập việc này. Mặc dù nội dung không được đề cấp rõ ràng, rất có thể ông đã sử dụng nhiều tư liệu từ những ghi chép của ông trong một cuốn sách ra đời sau đó tên là Bản án chế độ thực dân Pháp được ông cho xuất bản năm 1025. Quyển sách này phê bình mạnh mẽ hơn các chính sách thực dân Pháp và phản ánh rõ nét ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác đối với thế giới quan của ông.

    Nguyễn Ái Quốc đã chuyển đến căn hộ của Phan Châu Trinh ở biệt thự Gô-gơ-lanh vào tháng 7 năm 1919, sau khi xuất bản cuốn yêu sách đối với lực lượng đồng minh ít lâu. Nằm trong một quận trung lưu có đủ tiện nghi gần Quảng trường I-ta-li ở tả ngạn sông Xen, rõ ràng là ở chỗ này khá hơn nhiều so với chỗ ở tồi tàn trước kia của ông. Ông không chỉ ở chung với Phan Châu Trinh mà cả với một số cộng sự khác nữa.

    Truy nhiên, việc chuyển chỗ ở làm nảy sinh một số vấn đề. Tháng 12 năm 1919, một điệp viên cảnh sát trong nhóm người báo cáo rằng một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh tại căn hộ về việc tiếp tục đi theo con đường nào. Quốc tranh luận rằng quan chức Việt Nam nhu nhược như những chú cừu và đã trở thành đồng lõa với người Pháp kiềm chế quần chúng và bóc lột họ. Trinh nói lại rằng quan điểm đó thật là nông cạn. Ông cho rằng người Việt Nam vẫn còn quá yếu và thiếu khả năng để chống lại Pháp. Ông lập luận rằng chống đối ở điểm này đồng nghĩa với tự sát. Ông nhắc nhở: “Anh Quốc, anh còn trẻ và ai cũng thấy là anh bướng bỉnh. Anh muốn 20 triệu đồng bào của chúng ta làm gì khi mà họ không có vũ khí trong tay để chống lại vũ khí khủng khiếp của người châu Âu. Tại sao chúng ta lại tự sát một cách vô ích?”

    Theo Phan Châu Trinh, vẫn cần dựa vào người Pháp để thúc đẩy quá trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam, xã hội vẫn còn chịu ảnh hưởng của bàn tay tử thần của truyền thống Nho giáo. Nhưng Quốc cảm thấy rằng người Pháp là kẻ thù số một và không thể tin cậy để thực hiện lời hứa cải cách của họ. Ông hỏi “Tại sao 20 triệu đồng bao ta lại không làm gì để buộc chính phủ đối xử với chúng ta như đối với người? Chúng ta là người và chúng ta phải sống như người. Bất kỳ ai không muốn đối xử với chúng ta như đồng loại đều là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta không muốn sống chung với họ trên trái đất này. Nếu những người khác không muốn sống chung với ta như với đồng loại, thì thật là chẳng có lý gì để sống cuộc sống nhục nhã và bị xúc phạm trên trái đất này.”

    Về quan điểm cho rằng người Việt Nam phải dựa vào người Pháp để thực hiện cải cách cần thiết, Nguyễn Ái Quốc lập luận rằng Pháp đã chẳng làm gì để giáo dục người dân hay chỉ cho họ cách tự trị. Ông công nhận “Anh lớn tuổi hơn và nhiều kinh nghiệm hơn tôi, nhưng đồng bào của ta đã yêu cầu điều đó trong 60 năm qua và đã nhận được cái gì? Chẳng được gì cả”.

    Mặc dù khác biệt về quan điểm chính trị giữa họ ngày càng tăng, Nguyễn Ái Quốc vẫn tôn trọng Phan Châu Trinh và cố gắng thuyết phục ông thay đổi quan điểm. Có lần ông đã dẫn người đồng chí lớn tuổi hơn đến các cuộc họp cấp tiến ở Pa-ri. Cảnh sát luôn theo sát Quốc và cố thu thập thông tin chính xác về xuất thân của ông. Các nhà chức trách tin rằng Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn Tất Thành đã tham gia vụ bạo động ở Huế mùa hè năm 1908. Họ đã phỏng vấn cha ông, chị gái ông , anh trai ông và tìm kiếm những đặc điểm trên người ông để nhận dạng ông. Thí dụ, họ nghe nói ông có một cái sẹo trên tai do tai nạn lúc nhỏ. Khi ông vào bệnh viên năm 1920 để điều trị khuỷu tay phải, cảnh sát đã cố chụp hình ông.

    Ngày 17-8-1920, An-be Xa-rô, bấy giờ là Bộ trưởng Thuộc địa, đã gửi công văn cho nha cảnh sát yêu cầu cung cấp thêm chi tiết chính xác về Nguyễn Ái Quốc. Xa-rô giải thích theo kiểu chọc tức “ông ta không có quyền làm xáo trộn nền chính trị của chúng ta dưới một cái tên giải”. Tháng sau, Quốc được gọi đến Bộ Thuộc địa một lần nữa để thẩm vấn. Lời tự thuật sau này của ông về việc này:

    “”Một hôm tôi viết một bức thư cho một người hiểu biết văn học và bốn ngày sau, tôi nhận được một bức thư từ Bộ Thuộc địa, do ngài Ghét-xđê ký, trong đó ông ta bảo rằng đã nhận được thư tôi và yêu cầu tôi đến chỗ làm của ông ta. Cái gì, tôi tự hỏi, tôi không biết ông Ghét-xđê! Tôi chưa bao giờ viết thư cho ông ta cũng như cho bất kỳ ai trong Bộ đó. Sau đó tôi nảy ra một ý. Tôi tự nhủ, Ngài Ghét-xđê không biết tôi, vì vậy để làm quen với tôi và mua chuộc tôi, ông ta tìm cớ gọi tôi đến cơ quan của ông ta.”

    Vài ngày sau đó, tôi đến Bộ Thuộc địa. Ngài Ghét-xđê không có ở đó, vì đang công du đến nước Anh. Ông Pa-xki-ê một quan chức cao cấp của Bộ tiếp tôi và hỏi xem tôi có cần gì ở Chính phủ không. Nếu có thì ông ta sẽ cố gắng giúp.

    Tôi trả lời là tôi chẳng cần gì, trừ tám yêu sách mà tôi đã đưa ra ở Hội nghị Hòa bình. Nếu ông có thể can thiệp với chính quyền Pháp để đáp ứng những yêu sách của chúng tôi thì chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn. Ông Pa-xki-ê không trả lời câu hỏi của tôi và chuyển đề tài.

    Không ai biết về phản ứng của Pa-xki-ê đối với cuộc đối thoại này. Nhưng sự phẫn nộ ngày càng gia tăng của các nhà chức trách được thể hiện trong một báo cáo về Nguyễn Ái Quốc do P-e-rơ Ghét-xđê viết cho Bộ trưởng Thuộc địa ngày 12 tháng 10. Quốc đã bị triệu đến nha cảnh sát 3 ngày sau cuộc thẩm vấn ở Bộ này. Tại phòng cảnh sát, ông khai là sinh ngày 15 tháng 1 năm 1894 tại Vinh và cả 6 anh chị em đều đã mất.

    Ghét-xđê giận dữ: “Nguyễn Ái Quốc là ai?”

    “Ông ta thường xuyên thay đổi tên và đang giấu tung tích dưới một cái tên giả mà cái tên đó không thể đánh lừa được bất cứ ai kể cả những người không biết tiếng Việt nhiều lắm. Ông ta cho rằng không có tài liệu nào của các nhà cầm quyền Đông Dương có thể nhận dạng ông ta, nhưng ông ta đã can thiệp vào nền chính trị của chúng ta, tham gia các nhóm chính trị, nói chuyện ở các tổ chức cách mạng và chúng tôi thậm chí còn không biết chúng tôi thuộc nhóm nào. Những thông tin mà ông ta cung cấp rõ ràng là sai sự thật. Thực ra, Ghét-xđê nói, sau những nỗ lực hết mức, các nhà chức trách có bằng chứng rõ ràng là Quốc chính là Nguyễn Tất Thành, “một kẻ khích động nguy hiểm”, đã tham gia cuộc biểu tình ở An Nam vào năm 1908.”

    Trong thời gian hơn một thế hệ, phong trào chủ nghĩa xã hội ở Pháp bao gồm các nhà tư tưởng tiến bộ thuộc nhiều mầu sắc khác nhau: những nhà hoạt động theo Au-gut-xtơ Bơ-Lăng-ki, nhà cách mạng thế kỷ 19, chủ trương tiến hành nổi dậy ngay lập tức và không chú ý gì đến vấn đề xây dựng một xã hội tương lai; các nhà cải cách theo con đường tiệm tiến của Ê-đu-a Béc-xtên và Quốc tế II; những người có quan điểm cấp tiến lý thuyết, xuất phát từ cuộc cách mạng Pháp hơn là từ tư tưởng Các Mác; và những người lãnh đạo công đoàn, những người đã làm dấy lên cuộc đấu tranh giai cấp chống giới chủ nhưng hầu như không dùng đến hệ tư tưởng. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã giáng một đòn mạnh vào lợi ích chung trước đó còn đeo đẳng trong các nhóm hỗn tạp này, và khi Lê-nin đưa ra yêu cầu đối với những người theo Đảng Xã hội ở mọi nơi tham gia một cuộc chiến tranh thần thánh chống chủ nghĩa tư bản, ông đã buộc các đảng viên phải có quan điểm dứt khoát.

    Tại Hội nghị Đảng Xã hội Pháp tổ chức ở Xtra-bua tháng 2 năm 1920, một cuộc tranh luận lớn đã nổ ra về việc liệu gia nhập Quốc tế II tương đối ôn hòa hay gia nhập Quốc tế III mới của Lê-nin. Nguyễn Ái Quốc cũng có mặt nhưng không tham gia thảo luận. Khi bỏ phiếu, đại đa số muốn từ bỏ phe Quốc tế II, nhưng cũng có một đa số tương tự tỏ ý chống việc gia nhập Quốc tế cộng sản III. Cánh tả Pháp không sẵn sàng chọn lựa.

    Trong những tháng sau đó, cuộc thảo luận về con đường tương lai của phong trào xã hội đã trở nên sôi nổi hơn. Mùa hè đó, hai đảng viên xuất chúng, Mác-xen Ca-sanh và Tổng bí thư Lu-i Phơ-rốt-xa tham gia Hội nghị Quốc tế Cộng sản II ở Mát-xcơ-va. Hội nghị này đã thông qua “Luận cương về các vấn đề Quốc gia và Thuộc địa” của Lê-nin. Khi trở về Pháp, họ triệu tập một cuộc mít-tinh lớn ngày 13 tháng 8 để bàn bạc về kết quả của hội nghị. Trong số 30.000 người đứng chật quảng trường Pa-ri ở phía tây thành phố có Nguyễn Ái Quốc. Ông đã nghe Mác-xen lớn tiếng ủng hộ Quốc tế Cộng sản mới của Lê-nin, cho rằng chỉ có Quốc tế Cộng sản mới mới có thể giải phóng các dân tộc nô lệ trên thế giới và tiến hành đấu tranh với tận sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.

    Những lời đó dĩ nhiên được Nguyễn Ái Quốc hoan nghênh, mặc dù có thể ông thấy thất vọng rằng điều kiện thứ tám đối với việc gia nhập Quốc tế Cộng sản mới – kêu gọi các Đảng Cộng sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa tiếp tục đấu tranh tích cực chống lại các chính sách đế quốc của chính phủ – hầu như không được chú ý tại hội nghị. Tuy nhiên, có thể ông cảm thấy phấn khởi vào tháng 9 khi nghe tin về hội nghị của các dân tộc phương Đông được tổ chức sau đó ít lâu tại Bacu, nơi mà Pơ-la-tô-vích, một đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã kêu gọi đấu tranh mạnh mẽ để giải phóng cho các dân tộc bị áp bức ở châu Á.

    Đảng Xã hội Pháp đã dự kiến tổ chức Hội nghị Toàn quốc tại Tua cuối tháng 12 để quyết định khả năng gia nhập Quốc tế Cộng sản của Lê-nin. Trong những tháng trước khi diễn ra hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã dự tất cả các phiên họp cấp quận và nghe tất cả các lập luận từ cả hai phía. Có ba phe trong cùng một đảng, với những người theo trường phái ôn hoà và cấp tiến ở hai thái cực và một nhóm của Giăng Lông-ghê ở giữa. Nguyễn Ái Quốc hầu như không đóng góp ý kiến gì vào các cuộc tranh luận. Khi tham gia tranh luận thì ông bao giờ cũng phàn nàn về việc thiếu quan tâm tới các vấn đề thuộc địa. Theo lời tự thuật của ông thì có lúc ông đã kêu gọi thống nhất múc đích chung:

    “Thưa các bạn, các bạn đều là những người theo chủ nghĩa xã hội tốt. Tất cả các bạn đều muốn giải phóng cho giai cấp công nhân. Cho dù đó là Quốc tế II, Quốc tế hai rưỡi hay Quốc tế III thì tất cả cũng đều nhằm đạt mục tiêu đó. Các Quốc tế này không phải tất cả đều là cách mạng hay sao? Phải chăng không phải tất cả họ đều đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội? Dù bạn muốn Quốc tế này hay Quốc tế nọ thì bạn vẫn phải đoàn kết. Vậy thì tại sao lại phải bàn cãi? Các đồng chí, trong khi chúng ta đang mất thời gian để tranh cãi thì đồng bào của chúng ta đang phải chịu đựng và chết chóc”.

    Khi chọn đại biểu tham gia hội nghị thì ông đã tìm cách để được mời với tư cách là đại diện cho một nhóm nhỏ các đảng viên của Đông Dương.

    “Hội nghị được tiến hành ngày 25 tháng 12 năm 1920 tại một trường học cưỡi ngựa gần Nhà thờ Thánh Giu-li-ăng nam bờ sống Loa. Tòa nhà lớn được treo đầy ảnh chân dung của bậc thầy của chủ nghĩa xã hội như Giăng Giô-rét và biểu ngữ kêu gọi giai cấp công nhân trên toàn thế giới đoàn kết. Bục diễn giả ở trước sảnh là một cái bàn gồm các tấm ván kê trên các giá. 285 đại biểu và các vị khách khác – đại diện cho hơn 178.000 đảng viên trên toàn đất nước – ngồi ở những bàn gỗ dài được sắp xếp theo phe phái chính trị của họ. Nguyễn Ái Quốc ngồi cạnh nhóm cánh tả do Mác-xen Ca-sanh dẫn đầu.”

    Hôm đó cuộc thảo luận bắt đầu với chủ đề chính của chương trình nghị sự là quyết định liệu có gia nhập Quốc tế Cộng sản không. Là người châu Á duy nhất, mặc một bộ đồ sẫm màu quá khổ so với vóc dáng gầy của ông, Nguyễn Ái Quốc dường như lạc lõng trong hàng trăm người châu Âu. Ông gây chấn động ngay tại hội nghị. Trong ngày đầu tiên, một nhà nhiếp ảnh đã chụp ảnh ông và tấm ảnh đó đã được đăng trên số báo ngày hôm sau xuất bản ở Pa-ri có tên là “Buổi sáng“. Cảnh sát được báo về sự hiện diện của ông và đã ngay lập tức xuất hiện với lệnh bắt ông, nhưng một số đại biểu đã vây quanh ông và ngăn không cho họ bắt ông. Cuối cùng cảnh sát đã bỏ cuộc.

    Cũng trong ngày hôm đó, Nguyễn Ái Quốc đã đứng lên phát biểu, ông đã nói trong 15 phút không cần bài chuẩn bị sẵn. Ông đi thẳng vào vấn đề, chỉ trích các chính sách thuộc địa của Pháp về việc đàn áp và bóc lột đồng bào của ông. Ông nói, bất cứ ai phản đối đều bị bắt và số nhà tù còn nhiều hơn số trường học và luôn chật cứng người bị bắt giữ. Người dân không có quyền tự do ngôn luận và quyền tự do đi lại. Họ bị ép hút thuốc phiện và uống rượu để mang lại lợi nhuận cho chính phủ Pháp, vì chính phủ này đánh thuế đối với cả hai mặt hàng trên. Ông nói, những người Pháp theo chủ nghĩa xã hội phải hành động để ủng hộ dân thuộc địa bị áp bức.

    Về điểm này, Nguyễn Ái Quốc bị Giăng Lông-ghê ngắt lời. Nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa phản đối rằng ông đã lên tiếng ủng hộ người bản xứ. Quốc đã trả lời bằng một giọng hài hước về quan niệm của Mác về chuyên chính vô sản “Tôi áp đặt chuyên chính im lặng”, và nói thêm rằng Đảng phải thúc đẩy mạnh mẽ tuyên truyền chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước thuộc địa. Ông nói rằng quyết định gia nhập Quốc tế cộng sản khẳng định rằng Đảng đã dự đoán đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. Ông kết thúc với một lời kêu gọi: “Nhân danh toàn nhân loại, nhân danh tất cả những người theo phe xã hội chủ nghĩa cả cánh tả và cánh hữu, chúng tôi kêu gọi các bạn, các đồng chí hãy cứu chúng tôi.”

    Sau khi Nguyễn Ái Quốc kết thúc bài phát biểu, Giăng Lông-ghê lại tiếp tục phát biểu và khẳng định rằng ông công khai ủng hộ sự nghiệp của người Việt Nam tại Quốc hội và nói thêm rằng vấn đề này đang được thảo luận ở Quốc hội. Nhưng Pôn Vai-ăng Cu-tuy-ri-ê, một ngôi sao đang lên của phong trào cấp tiến, và một trong những người ủng hộ Nguyễn Ái Quốc mạnh mẽ nhất vặn lại rằng điều cần thiết hiện nay không chỉ là cuộc thảo luận tại Quốc hội mà là hành động của Quốc hội vì các dân tộc bị áp bức.

    Ngày 27, Mác-xen Ca-sanh đã chính thức đề nghị Đảng Xã hội Pháp chấp nhận điều kiện của Lê-nin về gia nhập Quốc tế Cộng sản và Nguyễn Ái Quốc đã lên tiếng ủng hộ đề nghị này. Hai ngày sau, bản kiến nghị được hơn 70% số đại biểu ủng hộ. Các đại biểu phản đối việc gia nhập Quốc tế Cộng sản đã ùa ra khỏi phòng họp phản đối. Những người còn lại thì bỏ phiếu từ bỏ Đảng Xã hội Pháp (FSP) và thành lập một Đảng Cộng sản Pháp mới (FCP). Nhưng không có thêm cuộc thảo luận nào nữa về vấn đề thuộc địa và giới lãnh đạo đã bác bỏ một đề nghị, chắc chắn là do Nguyễn Ái Quốc đưa ra, về việc đưa ra một tuyên bố công khai ủng hộ nhân dân các nước thuộc địa.

    Tại Hội nghị Tua, Nguyễn Ái Quốc đã thông báo cho các cộng sự biết rằng ông quyết tâm trở thành một người tích cực phát biểu đòi hỏi quan tâm nhiều hơn nữa đến nhu cầu của nhân dân các nước thuộc địa, coi đó là một nhân tố mang tính quyết định của cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản. Ông đã chứng minh bằng cả những lời bình luận công khai và không công khai rằng ông không chỉ lo lắng về thành công của cuộc cách mạng thế giới mà còn về số phận của đất nước ông. Tinh thần đó đã được phản ánh trong một lời nhận xét của ông với một người quen lúc đó: “Tôi đã không có nhiều tiền để theo học các khóa học tại trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi cơ hội học lịch sử, khoa học xã hội và thậm chí cả khoa học quân sự. Người ta nên yêu thích cái gì? Người ta nên coi thường cái gì? Đối với người Việt Nam chúng tôi, cần phải yêu độc lập, công việc và Tổ quốc.”

    Nhưng chẳng bao lâu sau ông đã mất hy vọng là tất cả các thành viên mới của Đảng mới sẽ theo quan điểm của ông. Tháng 2 năm 1921, ông bị ốm và vào bệnh viện một thời gian. Sau khi ra viện, ông viết một bài báo có tựa đề “Đông Dương” cho tờ Tạp chí Cộng sản số tháng tư. Trong bài báo đó, ông đã chỉ trích các đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp không quan tâm đúng mức tới các vấn đề thúc đẩy cách mạng ở thuộc địa và không nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống. Ông lập luận rằng mặc dù người Pháp đang có làm nản chí người Đông Dương, người Đông Dương không chết và thực ra “người Đông Dương vẫn sống và sẽ sống mãi” – khó có thể là cách diễn đạt của chủ nghĩa Quốc tế vô sản Mác-xít. Bài báo đã cho thấy rõ rằng ông đã từ bỏ hy vọng có thể thay đổi mà không cần đến bạo lực. Trong khi cho rằng Đông Dương vẫn chưa chín muồi để tiến hành cách mạng, chủ yếu là vì dân không được học hành và không có quyền tự do ngôn luận hay hành động – ông lập luận rằng dưới vỏ sự dễ bảo thụ động “có một cái gì đó đang trào dâng và chuyển động rầm rầm và đến thời điểm thích hợp sẽ nổ tung một cách đáng sợ”. Ông lập luận, tiến trình đó có nhanh chóng xảy ra hay không tuỳ thuộc vào giới có học. Ông kết luận rằng “chuyên chế tư bản chủ nghĩa đã chuẩn bị đất trồng; chủ nghĩa xã hội chỉ cần gieo hạt giải phóng.”

    Trong bài báo thứ hai cùng với tựa đề vào tháng năm, Nguyễn Ái Quốc đã thảo luận vấn đề liệu có nên áp dụng chủ nghĩa cộng sản ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không. Đây là một vấn đề rất thích hợp, vì tại thời điểm đó hầu hết những người châu Âu cấp tiến vẫn tin rằng ở hầu hết các nước “lạc hậu”, cuộc cách mạng sẽ bị trì hoãn lâu. Giô-dép Xta-lin cũng đã viết trong một bài báo đăng trên tờ Pra-vơ-đa cùng tháng rằng các quốc gia tiến bộ, sau khi tự giải phóng mình, có nhiệm vụ giải phóng cho các dân tộc “lạc hậu”.

    Trong bài báo của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tranh luận với các quan điểm như vậy, lập luận rằng học thuyết và chiến lược Mác-Lê-nin phù hợp cả ở châu Á và phương Tây. Ông chỉ ra rằng ở Nhật Bản, nước châu Á đầu tiên trở thành nước tư bản chủ nghĩa, một đảng xã hội đã được thành lập. Trung Quốc tuy vẫn phụ thuộc vào châu Âu và Mỹ, vừa thức tỉnh và một chính phủ cách mạng mới do lãnh đạo phe nổi loạn Tôn Dật Tiên cầm đầu ở Nam Trung Quốc hứa hẹn khai sinh “một Trung Quốc được tổ chức lại và vô sản hóa”. Ông dự đoán, có thể một ngày không xa, Nga và Trung Quốc sẽ cùng tiến bước. Các dân tộc khác cũng phải chịu đau khổ, Triều Tiên vẫn nằm dưới ách đô hộ của Nhật Bản, trong khi Ấn Độ và Đông Dương nằm trong tay những kẻ bóc lột Anh, Pháp.

    Dự đoán của Nguyễn Ái Quốc về hợp tác giữa người Trung Hoa và người Nga là mang tính tiên tri. Lúc đó, ông đang bình luận về những sự kiện vừa xảy ra tại Trung Quốc, dẫn đến việc Tôn Dật Tiên liên minh với một nhà lãnh đạo quân sự để thành lập một chế độ cách mạng ở thành phố cảng Quảng Châu ở miền Nam. Ông Tôn đã sống lưu vong trong vài năm, sau khi nhà lãnh đạo chính trị Uân Si-kai làm thất bại nỗ lực của các môn đệ của ông Tôn xây dựng một Trung Quốc phương Tây hóa và tự mình giành quyền kiểm soát. Sau cái chết của Uân năm 1916, Trung Quốc rơi vào rối loạn, với các chỉ huy quân sự tranh quyền kiểm soát nhiều vùng ở Trung Quốc.

    Nguyễn Ái Quốc lập luận rằng có những lý do lịch sử rõ ràng giải thích tại sao chủ nghĩa cộng sản thích nghi ở châu Á dễ dàng hơn ở châu Âu. Theo ông, người châu Á, dù bị người phương Tây coi là lạc hậu, hiểu rõ hơn sự cần thiết phải cải cách toàn diện xã hội đương thời. Họ cũng có thiện cảm đối với ý tưởng cộng đồng và công bằng xã hội. Trung Hoa cổ đại đã thực hiện một “sân chơi bình đẳng” (tiếng Trung Quốc là Jing tian), chia đất nông nghiệp ra thành các phần bằng nhau và để riêng một lô đất làm công thổ. Hơn 4.000 năm trước, triều Hạ đã áp dụng hình thức lao động bắt buộc. Ngay từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, đại triết gia Khổng Tử đã dự đoán trước về Quốc tế Cộng sản và giảng thuyết bình đẳng về tài sản. Vị sư phụ này đã dự đoán, hòa bình thế giới sẽ không có khi chưa thiết lập nền cộng hòa toàn cầu. Ông giảng giải: “Không sợ ít mà chỉ sợ không được phân phối bình đẳng”. Môn đồ Tôn Tử của ông tiếp tục theo học thuyết của thầy, xây dựng một kế hoạch cụ thể để tổ chức sản xuất và tiêu dùng. Trả lời một câu hỏi của nhà cầm quyền, Tôn Tử nói rằng nhu cầu của nhân dân là trên hết, sau đó là nhu cầu của quốc gia, cuối cùng mới đến nhu cầu của đế chế.

    Ông Quốc khẳng định rằng, những truyền thống đó tiếp tục ảnh hưởng đến các xã hội châu Á. Thí dụ, luật pháp Việt Nam hạn chế việc mua và bán đất, và một phần tư tổng số đất canh tác được coi là công thổ. Ông kết luận, do đó ngày mà hàng triệu người châu Á bị áp bức thức tỉnh, họ sẽ trở thành một lực lượng khổng lồ có thể lật đổ chủ nghĩa đế quốc, và họ sẽ giúp những người anh em ở phương Tây thực hiện sứ mạng giải phóng hoàn toàn khỏi sự bóc lột của tư bản. Châu Á sẽ đóng vai trò tích cực trong cách mạng thế giới.

    Nguyễn Ái Quốc cũng dùng ngòi bút của mình để xé toạc những bí ẩn của nền văn minh Pháp rực rỡ. Trong một bài báo viết vào tháng 9 có tựa đề “Nền văn minh ưu việt hơn”, ông chế nhạo ba trụ cột của cách mạng Pháp là tự do, bình đẳng và bác ái, nêu ra những thí dụ về sự tàn ác của Pháp như đã được kể lại trong nhật ký của một người lính Pháp. Trong một bài báo ngắn được đăng vào tháng mười trên tờ Lơ Li-béc-tê, ông kể lại một thí dụ của chính ông rằng khi còn là sinh viên ở Quốc học Huế năm 1908, ông đã chứng kiến một đồng môn bị một giáo viên người Pháp sỉ nhục một cách tàn bạo. Ông nhận xét một cách châm chọc rằng việc này xảy ra ngay dưới tấm bảng được treo ở mọi lớp học là – hãy yêu nước Pháp, nước Pháp bảo vệ bạn.

    Thái độ càng ngày càng trở nên cấp tiến của Nguyễn Ái Quốc làm các nhà chức trách Pháp theo dõi ông rất sát sao. Khoảng đầu năm 1921, một lần nữa ông lại bị triệu đến Bộ Thuộc địa để ông An-be Xa-rô thẩm vấn. Bộ trưởng tuyên bố:

    “Nếu nước Pháp trao trả Đông Dương cho các anh thì các anh cũng không quản lý được vì các anh không có đủ phương tiện”. Quốc trả lời “Trái lại, hãy nhìn vào nước Xiêm và Nhật Bản. Nền văn minh của hai nước này không lâu đời hơn nền văn minh của chúng tôi, thế mà họ vẫn sánh ngang với các nước trên thế giới. Nếu Pháp trả lại đất nước cho chúng tôi, nước Pháp chắc chắn sẽ thấy là chúng tôi biết cách quản lý nó”. Khi nghe những lời này, ông Xa-rô chuyển đề tài.

    Quyết định gia nhập Đảng Cộng sản Pháp của Nguyễn Ái Quốc đã làm tăng thêm sự căng thẳng vốn đã có từ trước ở căn hộ trong biệt thự Gô-bơ-lanh, nơi mà không phải tất cả các đồng sự của ông đều tán thành những ý kiến của ông. Trong thời gian hội nghị Tua, Trần Tiến Nam, một trong những người bạn thân nhất của ông, nói với một người quen nữ rằng các quan điểm cực đoan của Quốc không được những người ở cùng căn hộ đồng tình. Vài tháng sau đó, cảnh sát tiếp tục báo cáo rằng các cuộc tranh luận gay gắt đã thường xuyên nổ ra ở đó.

    Mâu thuẫn giữa Nguyễn Ái Quốc và đồng sự của ông cuối cùng đã lên đến đỉnh điểm vào tháng 7, sau khi đã trở nên căng thẳng hơn trong vài tháng. Ngày 6 tháng 7, ông tham gia một cuộc biểu tình ở Nghĩa trang Pe La-se-dơ, ở một quận của giai cấp công nhân ở phía đông Pa-ri, để tưởng nhớ những người chết vì đàn áp trong thời gian Công xã Pa-ri năm 1871. Quốc đã bị cảnh sát đánh đập dã man nhưng đã thoát được. Tin tức về vụ việc đó đã làm cho một số người quen của ông lo lắng. Vài tuần sau đó, Trần Tiến Nam, một trong những thành viên ôn hòa hơn của nhóm, đã chuyển khỏi căn hộ, cho rằng những quan điểm chính trị của Nguyễn Ái Quốc là quá cấp tiến đối với ông ta.

    Ngày 11 tháng 7 năm 1921, cảnh sát đã báo cáo rằng một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra giữa Nguyễn Ái Quốc và những người bạn của ông. Lần này, cuộc tranh luận đã kéo dài từ 9 giờ tối đến tận sáng sớm hôm sau. Ngày hôm sau, với cảnh sát bám đuôi, Quốc đã rời khỏi căn hộ để đến ở với bạn ông là Võ Văn Toàn ở số 12 đường Buốt. Một tuần sau đó, bạn ông là Pôn Vai-ăng Cu-tuy-ri-ê đã giúp ông tìm một căn hộ nhỏ ở số 9 ngõ Công-poanh, một ngõ cụt ở Ba-ti-nhôn, một khu của giai cấp công nhân ở tây bắc Pa-ri.

    Nơi ở mới của Nguyễn Ái Quốc vô cùng đơn sơ, kém tiện nghi hơn nhiều so với nơi ở tương đối rộng rãi và tiện nghi của ông ở biệt thự Gô-bơ-lanh. Căn hộ một phòng chỉ đủ kê một chiếc giường, một chiếc bàn nhỏ và một tủ quần áo. Cửa sổ duy nhất lại nhìn sang bức tường của nhà kế bên, và ông phải nghển cổ ra khỏi cửa sổ để nhìn trời. Không có điện nên ông phải dùng đèn dầu; không có nước nên ông dùng một cái chậu để rửa mặt và giặt quần áo ở bên ngoài. Để sưởi ấm, ông dùng một viên gạch đã ủ nóng trong lò sưởi của chủ nhà và sau đó gói vào một tờ giấy. Bữa ăn của ông gồm một ít cá muối hoặc thịt hai lần một ngày. Đôi khi ông chỉ ăn một miếng bánh mì và pho mát.

    Việc Nguyễn Ái Quốc chia tay nhóm bạn ở biệt thự Gô-bơ-lanh và chuyển đến nơi ở mới cũng khiến ông phải thay đổi chỗ làm. Ông vẫn làm thợ sửa ảnh cùng với Phan Châu Trinh cho đến tháng 7 năm 1920. Sau đó, theo đơn khai của ông gửi cho cảnh sát ngày 17 tháng 9, ông trở thành một người trang trí tranh tường Trung Quốc cho một người Trung Quốc làm đồ gỗ ở khu La-tinh. Khi những người công nhân ở cửa hàng đình công vào tháng 9, ông nhận một việc mới ở cửa hàng nhiếp ảnh chỉ cách căn hộ mới của ông mấy nhà ở ngõ Công-poanh. Là thợ học nghề, ông chỉ kiếm được 40 quan một tuần.

    Hoàn cảnh túng quẫn của Nguyễn Ái Quốc không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của ông. Ông vẫn thường xuyên tham dự các cuộc họp chính trị, các cuộc biểu diễn nghệ thuật và thường xuyên đến Thư viện Quốc gia. Trong các hoạt động của mình, ông gặp những nhân vật nổi tiếng như ca sĩ, diễn viên Mô-ri-xơ Sơ-va-li-ê và nhà viết truyện ngắn Cô-lét. Theo thông báo của cảnh sát, ông thường tiếp đãi khách thăm, nấu bữa tối gồm rau xanh và xì dầu, pha trà nhài ở bếp lò nhỏ trên một cái bàn ở góc căn hộ. Mặc dù lương của ông sau khi đã trả tiền thuê tháng chỉ còn lại chút xíu, ông vẫn cố gắng đến dự nhiều cuộc họp trên khắp nước Pháp, điều này cho mọi người thấy rằng ông nhận được trợ cấp từ Đảng Cộng sản.

    Việc Nguyễn Ái Quốc chia tay với nhóm Gô-bơ-lanh đã diễn ra nhanh hơn một tuần là do bất đồng về quyết định thành lập Uỷ ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp để thúc đẩy việc học chủ nghĩa Mác-xít ở các thuộc địa của Pháp. Nguyễn Ái Quốc trở thành một thành viên tích cực và giữa tháng 6 năm 1921, ông đưa Phan Châu Trinh đến một trong những cuộc họp của Uỷ ban. Vài tuần sau, ông dự cuộc họp thứ hai tại Phông-ten-nơ-bơ-lô, cách Pa-ri 60 cây số về phía đông nam. Hai ngày sau khi trở về, ông đã có cuộc khẩu chiến cuối cùng tại căn hộ.

    Một trong những kết quả tức thì của việc thiết lập Ủy ban Nghiên cứu Thuộc địa là việc hình thành một tổ chức mới để đại diện cho công dân các nước thuộc địa ở Pháp, đó là Liên hiệp Thuộc địa. Trong vài tháng, Nguyễn Ái Quốc đã cân nhắc việc thiết lập một nhóm như vậy. Trong một cuộc nói chuyện với một người quenkhi nằm ở bệnh viện tháng 2 năm 1921, ông có nhắc đến sự cần thiết phải thiết lập một tổ chức dưới hình thức của một hiệp hội tương hỗ để đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong một vài tháng, Hội những người yêu nước An Nam của ông đã hợp tác không chính thức với một nhóm người Ma-đa-ga-xca là thuộc địa của Pháp và đã thiết lập một uỷ ban hành động để điều phối các hoạt động chính trị chung. Các nhóm tương tự đã được những người châu Phi sống ở Pa-ri và Luân Đôn thiết lập. Giờ đây, theo lệnh của Uỷ ban, hình mẫu hợp tác không chính thức này được thể chế hóa bằng việc thành lập Liên hiệp Thuộc địa, Liên hiệp tự cho mình là có tiếng nói chủ chốt trong việc bảo vệ lợi ích của mọi người dân của các nước thuộc địa đang sinh sống ở Pháp. Được thành lập từ tháng 7 năm 1921, liên minh này có gần 200 thành viên. Hầu hết là từ Ma-đa-ga-xca và Việt Nam, mặc dù có một số là người Bắc Phi và Tây Ấn. Theo bản tuyên ngôn, mục tiêu công khai có tính ôn hòa của tổ chức này là chỉ tìm cách thông báo cho nhân dân các nước thuộc địa về những sự kiện xảy ra ở Pháp và nghiên cứu tất cả các vấn đề chính trị và kinh tế ở các nước thuộc địa – nhưng mục tiêu cuối cùng là tìm cách xóa bỏ hệ thống thuộc địa Pháp.

    Ngay từ đầu, Nguyễn Ái Quốc là động lực chính của tổ chức mới này. Ông được bầu vào Ban điều hành cùng với một số đảng viên có uy tín khác của Đảng Cộng sản Pháp, thí dụ như người đồng hương của ông là Nguyễn Bắc Truyền, Mắc-xơ Bơ-lông-cua, một thành viên người Ma-đa-ga-xca và Hát A-li người An-giê-ri. Ông Quốc là ủy viên của ban điều hành và thường xuyên tham dự các cuộc họp của ban. Các cuộc họp lúc đầu diễn ra ở đại lộ Va-loa, gần công viên Mông-xô. Được Đảng Cộng sản Pháp tài trợ một phần, trụ sở của Liên hiệp này nằm ở số 3 đường Mác-sê đề Pa-tơ-ri-ác-sơ, một con đương hẹp gần ga Ô-xtéc-lít ở tả ngạn sông Xen. Với những nỗ lực đáng kể, ông đã bước đầu hợp nhất được các quyền lợi khác nhau của các nhóm. Theo như báo cáo của cảnh sát Pháp, điều này không dễ thực hiện chút nào. Sự ghen tị và cạnh tranh giữa các nước đã liên tục làm gián đoạn các hoạt động của nhóm, trong khi những người cánh tả gốc châu Âu thỉnh thoảng than phiền rằng họ bị ngăn không cho gia nhập tổ chức này một cách bất công do những hàng rào sắc tộc. Một số thành viên người Việt cáo buộc rằng các hoạt động giao lưu văn hóa được chú trọng quá nhiều và yêu cầu lập lại một tổ chức thuần túy của người Việt. Người châu Phi vặn lại rằng các thành viên châu Á cố chấp và ngạo mạn. Nguyễn Ái Quốc nhận thấy rằng khó có thể đưa những người dân thuộc địa vốn rất khác nhau vào cùng một tổ chức hoạt động có nguyên tắc.

    Số người tham gia các cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp đã giảm dần từ đỉnh cao là 200 người xuống còn 50 người mỗi phiên. Tại phiên họp tháng 2 năm 1923 chỉ còn 27 thành viên tham dự. Có hai thành viên là người Pháp, hai người là phụ nữ, cả hai người này đều được cho là tình nhân của các nhà hoạt động. Nguyễn Ái Quốc cũng có nữ liên lạc viên, mặc dù người ta không rõ những người bạn gái của ông có tham gia các hoạt động cấp tiến hay không. Ông đã có một thành công nhỏ: Phan Văn Trường, một thời đã cộng tác với ông soạn thảo yêu sách gửi các nhà lãnh đạo đồng minh ở Véc-xây, đồng ý gia nhập Liên hiệp.

    Công tác tổ chức Liên hiệp Thuộc địa không phải là hoạt động duy nhất của Nguyễn Ái Quốc trong những năm cuối cùng sống ở Pa-ri. Qua việc liên lạc với các nhân vật cấp tiến Pháp, ông đã nhận biết giá trị của báo chí trong việc tuyên truyền về công cuộc cách mạng; đầu năm 1922, được sự khuyến khích của Ủy ban Nghiên cứu Thuộc địa và các thành viên khác của Liên hiệp Thuộc địa, ông quyết định thành lập một tờ báo mới có mục đích là kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đang sống tại Pa-ri, và cũng là tiếng nói của nhân dân các nước thuộc địa trên khắp đất Pháp. Tờ báo này có tên là Người cùng khổ, được in ở Pháp, nhưng tiêu đề của nó được dịch ra tiếng Trung Quốc và tiếng A-rập. Số báo đầu tiên ra ngày 1 tháng 4 năm 1922, các số tiếp theo ra đều đặn hàng tháng; sau đó, do các khó khăn về tài chính chồng chất nên các số báo phát hành thưa dần. Tờ báo có hình thức và kiểu cách đơn giản, mục đích là thông báo độc giả tin tức và quan điểm về các vấn đề thuộc địa.

    Nguyễn Ái Quốc, hoạt động không mệt mỏi, là chủ biên của tờ báo này. Ông cũng là cây viết chính cho tờ báo và khi không có mặt những người khác thì ông thậm chí còn kiêm vẽ tranh, duyệt báo và chuyển báo đến với người mua định kỳ. Như ông đã kể lại:

    “Có lần tôi vừa là chủ bút kiêm thủ quỹ và nhà phân phối tờ Người cùng khổ vừa là người bán. Các đồng chí từ các nước thuộc địa châu Á và châu Phi viết bài và kêu gọi sự đóng góp, tất cả những việc còn lại đều do tôi đảm nhiệm”.

    Qua các trang báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục cải tiến phong cách viết báo của mình. Trong các bài xã luận – đôi khi mỗi số báo có từ hai đến ba bài xã luận – ông viết về các vấn đề quốc tế. Lúc thì là một bài báo phê phán một khía cạnh nào đó của đời sống thuộc địa, thí dụ như hành động độc ác của chính quyền Pháp ở châu Phi hoặc Đông Dương. Lúc thì là một mẩu chuyện về cuộc sống ở nước Nga, luôn được tả như một bức tranh về cảnh đồng quê thơ mộng, mặc dù là ông tất nhiên là chưa bao giờ đặt chân đến đó.

    Bài viết của ông không có gì là đặc biệt. Ông đã biết được tầm quan trọng của việc dùng lối viết đơn giản và trực tiếp qua việc đọc các tác phẩm của Lê-ông Tôn-xtôi, tác giả của những cuốn tiểu thuyết mà ông ưa thích. Những bài báo của ông cũng không tinh tế. Ông chủ yếu dựa vào các thực tế và con số để đưa ra quan điểm, dường như đối với độc giả, ông là một cuốn từ điển thống kê sống về cuộc sống ở các nước thuộc địa, từ mức thuế thân ở Bờ Biển ngà đến ngân sách thuộc địa giành cho Đông Dương thuộc Pháp. Khi ông không chôn vùi kẻ thù trong đống dữ liệu của mình thì ông sử dụng cách nói châm biếm, nhưng ngôn từ của ông không theo lối mỉa mai, châm biếm của Lỗ Tấn, một nhà văn tài năng của Trung Quốc. Ông có xu hướng bỏ qua lý thuyết và dựa vào việc chỉ trích một cách phẫn nộ và thẳng thắn hệ thống thuộc địa và những tác động tàn bạo đối với những người bị đè nặng bởi sự thống trị.

    Trong những năm sau đó, nhiều nhà nghiên cứu về ông ngỡ ngàng khi thấy một người có sức thu hút cá nhân lớn như vậy và một nhân cách tinh tế lại có một lối viết tẻ nhạt và độc đoán đến là thế. Tuy nhiên, đây chính là điểm mấu chốt của tính cách của ông và hiệu quả chính trị trong nhiều năm. Không giống nhiều nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa Mác khác, Nguyễn Ái Quốc thấy độc giả của mình không chỉ bao gồm chủ yếu là trí thức mà còn có cả dân thường như công nhân, nông dân, bộ đội và nhân viên hành chính. Ông không mong muốn gây ấn tượng đối với độc giả bằng trí tuệ uyên bác của mình mà ông cố gắng thuyết phục họ bằng cách viết đơn giản và sinh động để chia sẻ thế giới quan và quan điểm của ông về phương cách tạo nên thay đổi. Xấu nhất thì bài viết của ông là nhàm chán đối với độc giả tinh tế. Những bài tốt nhất đôi khi có sức mạnh nguyên sơ, nhất là khi ông mô tả nỗi kinh hoàng của hệ thống thuộc địa.

    Người cùng khổ chẳng mấy chốc trở thành nổi tiếng và là tiếng nói chủ chốt ủng hộ những người bị áp bức ở Pháp. Như Nguyễn Ái Quốc đã viết sau này:

    Chúng tôi bán báo cho các công nhân Việt Nam, những người không biết đọc tiếng Pháp, tuy nhiên, họ thích mua bởi vì họ biết rằng tờ báo chống phương Tây và sau khi mua, họ nhờ các công nhân Pháp đọc hộ. Ngoài ta, ở Pa-ri còn có những nơi mà chúng tôi có thể bán báo và có lãi. Bởi vì chúng tôi đều là những người đồng chí, họ bán báo cho chúng tôi và không lấy tiền chênh lệch, họ bán được rất nhiều báo bởi vì trên thực tế mọi số Người cùng khổ in ra đều được Bộ Thuộc địa Pháp mua.

    Bất cứ ai bị bắt quả tang đang đọc báo này sẽ bị bắt ngay lập tức. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách bí mật chuyển báo đến các thuộc địa, lúc đầu ông thu xếp để các thuỷ thủ có thiện cảm với cách mạng mang báo trong hành lý của họ. Khi các nhà chức trách Pháp bắt được thì lại có một cách mới. Cuối cùng, các báo được gửi đi bằng cách nhét vào các đồng hồ trò chơi. Đó là một cách tuyên truyền tốn kém nhưng đạt được mục đích.

    Tuy nhiên thiếu kinh phí vẫn luôn là vấn đề phải lo lắng. Tờ báo nhận được trợ cấp thường xuyên từ Liên hiệp Thuộc địa, nhưng ít nhất nó phải tự trang trải một phần kinh phí. Nhìn chung, tờ báo bán không chạy. Số báo đầu tiên có 300 độc giả đặt báo, nhưng sau đó giảm xuống 200 trong tổng số 1.000 bản in cho mỗi số báo. Một số được bán tại các cuộc họp của Liên hiệp, và và trăm tờ được gửi qua nhiều đường khác nhau đến các nước thuộc địa. Số còn lại được bán tại các cửa hàng nhỏ. Chưa đủ, báo này còn được đem cho không. Cảnh sát vẫn lo ngại về tờ báo mà họ cho là phương tiện tuyên truyền của cộng sản. Tất cả những người đăng ký mua báo dài hạn đều nằm trong sổ đen của cảnh sát.

    Nguyễn Ái Quốc tiếp tục viết bài cho các báo và tạp chí cánh tả khác ở Pa-ri. Ông cũng đã chuyển sang viết truyện. Năm 1922, Khải Định, vua của Việt Nam, được mời sang Pháp nhân một lễ kỷ niệm và dự triển lãm thuộc địa được tổ chức tại Mác-xây từ tháng tư đến tháng tám. Có tin đồn về một vụ ám sát và một số người nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc hoặc Phan Châu Trinh có liên quan đến vụ này. Nhằm tránh dư luận không có lợi, An-be Xa-rô đã cố thuyết phục Phan Châu Trinh không tỏ ra phản đối chuyến thăm đó, nhưng Trinh đã bỏ qua đề nghị đó và viết một bức thư công khai gửi Vua. Trong thư, ông cực lực chỉ trích vai trò của ông ta như một nhà cầm quyền bù nhìn của một nước bại trận. Nguyễn Ái Quốc cũng nhân dịp đó thúc đẩy những mục tiêu của riêng ông, chủ biên các bài báo viết về chuyến thăm này và tự tay viết một bức thư, được công bố vào ngày 9 tháng 8 năm 1922, trên tờ Nhân dân. Bức thư mô tả Khải Định như một thứ đồ trang sức rẻ tiền được trưng bày tại một cuộc triển lãm, được giữ trong một cửa sổ cửa hàng trong khi người dân của ông ta còn ngập ngụa trong vũng bùn. Ông cũng sáng tác một vở kịch có tên Con rồng tre, chế nhạo vị hoàng đế và chuyến đi Pháp theo nghi thức hoàng gia. Vở kịch được những người đương thời mô tả là không thể quên được, được diễn vài ngày ở Câu lạc bộ Phô-bua. Khi tin đó lan sang Đông Dương, nó càng chia rẽ Nguyễn Ái Quốc và cha của ông. Khi được thông báo về các nhận xét của Quốc, ông Sắc đã nói bất cứ người con trai nào không công nhận vua thì cũng chẳng công nhận cha mình.

    “Chuyến thăm của vua Khải Định là cơ hội cuối cùng để Nguyễn Ái Quốc và Phan Châu Trinh cùng đứng về một phe trong một vấn đề chính trị, nhưng họ đã không thể thống nhất về phương thức tốt nhất để giải phóng đất nước. Tháng 2 năm 1922, ông Trinh gửi một bức thư cho người đồng sự trẻ trong khi ông thăm Mác-xây. Bức thư không đả động gì đến sự khác biệt rõ ràng về ý thức hệ giữa hai người mà tập trung vào vấn đề chiến thuật.”

    Trong khi giữ quan điểm của mình là coi trọng việc nêu cao tinh thần và tri thức của người Việt Nam thông qua giáo dục, ông Trinh công nhận rằng ông là người bảo thủ và một “con ngựa đã mệt” khi so sánh với Quốc, một “con ngựa lửa”. Nhưng ông lập luận rằng Quốc đang phí thời gian ở lại nước ngoài và viết những bài báo bằng thứ tiếng mà chẳng mấy người Việt Nam hiểu được. Ông nói, đó là sai lầm của Phan Bội Châu khi ông tìm cách tuyển những người yêu nước sang học ở Nhật Bản. Ông khuyên Quốc nên về nước và kêu gọi người dân trong nước. Ông kết luận, nếu được như vậy thì “tôi tin rằng thuyết mà anh hằng ấp ủ có thể được thấm nhuần trong tâm trí nhân dân chúng ta. Ngay cả nếu anh có thất bại thì những người khác sẽ tiếp tục gánh vác nhiệm vụ đó.”

    Nguyễn Ái Quốc đang quá thiết tha với sự nghiệp đang tiến triển của mình trong phong trào cách mạng Pháp đến mức không lưu ý đến lời khuyên của ông Trinh. Trong vòng vài năm, từ chỗ được ít người biết đến, ông đã trở thành người đi đầu trong phong trào cấp tiến ở Pháp và thành viên có uy tín nhất của cộng đồng người Việt ly hương. Được sự trợ giúp của Gióc-giơ Pi-óc, một trí thức cấp tiến có uy tín có liên hệ với Câu lạc bộ Phô-bua, ông đã trau dồi kỹ năng nói và bắt đầu tham gia tích cực vào các cuộc thảo luận với các đảng viên có uy tín của Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội đầu tiên của Đảng tổ chức ở Mác-xây cuối tháng 12 năm 1921, ông đã phát biểu về vấn đề thuộc địa và được bầu làm đại diện của quận Xen.

    Ngay sau khi Quốc đến Mác-xây để dự Đại hội, hai cảnh sát mặc thường phục tìm cách bắt giữ ông, nhưng ông đã thoát và đến tòa nhà nơi đang diễn ra cuộc họp. Cuối thời gian diễn ra hội nghị, ông được cái đại biểu hộ tống qua nhóm cảnh sát tuần tra đến một nơi bí mật cho tới khi ông có thể trở lại Pa-ri.

    Tại thủ đô, cảnh sát tiếp tục giám sát mọi hành động đi lại của Nguyễn Ái Quốc, và vào tháng 11, có thể do áp lực từ cảnh sát, ông đã bị chủ đuổi việc tại cửa hàng nhiếp ảnh cạnh căn hộ ông ở. Thất nghiệp, ông tìm các công việc khác, nhưng cuối cùng ông đã quay lại với nghề nhiếp ảnh bằng cách thành lập một văn phòng ở ngay căn hộ của ông. Ông chỉ làm việc vào buổi sáng để thời gian còn lại tham gia các hoạt động chính trị.

    Là đảng viên hàng đầu của Đảng Cộng sản Pháp và đại diện có uy tín nhất của các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thu hút sự quan tâm đáng kể của ngành an ninh Pháp. Cảnh sát theo dõi chặt chẽ các hoạt động hằng ngày của ông và hai cảnh sát được cử riêng để theo dõi ông mọi lúc. Ngày 22 tháng 6 năm 1922, An-be Xa-rô một lần nữa mời ông đến Bộ Thuộc địa để thẩm vấn. Trong suốt cuộc gặp, Bộ trưởng hết đe doạ lại mua chuộc ông. Xa-rô mở đầu cuộc nói chuyện bằng việc tuyên bố rằng những kẻ gây rối liên kết với các phần tử “Bôn-sê-vích” ở Pháp đang có dự tính gây rắc rối ở Đông Dương tất yếu sẽ bị đánh bại. Nhưng ông ta nói thêm rằng ông ngưỡng mộ những người như Nguyễn Ái Quốc vì họ có mục đích vững vàng và ý chí đạt mục đích đó. Nhưng với sức mạnh của ý chí thì phải có sự hiểu biết, Xa-rô kết luận, những gì đã qua thì cho qua. “Nếu ông cần bất cứ điều gì thì tôi luôn sẵn sàng phục vụ ông. Bây giờ chúng ta đã biết nhau, ông có thể đề cập thẳng với tôi.” Nguyễn Ái Quốc đứng dậy và cảm ơn Bộ trưởng rồi nói “Mục tiêu chính của cuộc đời tôi và cái mà tôi cần nhất là tự do cho đồng bào tôi. Tôi có thể đi được chưa?”.

    Vài ngày sau, Quốc viết một bức thư gửi Bộ Thuộc địa, thư này được đăng trên tờ Người cùng khổ, Nhân đạo (nay là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp) và Nhân dân. Ông bày tỏ lòng biết ơn về việc các nhà cầm quyền Pháp đã cung cấp cho ông một sĩ quan quân đội phụ tá riêng (rõ ràng là ám chỉ đến sự giám sát của cảnh sát) và nhận xét rằng:

    “Khi mà Quốc hội đang cố tiết kiệm tiền và giảm biên chế hành chính, khi mà thâm hụt ngân sách lớn, khi mà ngành nông nghiệp và công nghiệp thiếu lao động, khi đang có các nỗ lực đánh thuế vào lương công nhân, và khi việc tái ổn định dân số cần có nhiều sức sản xuất, dường như vào lúc đó sẽ là không yêu nước nếu nhận ân huệ cá nhân, ân huệ làm mất quyền lực của các công dân – là các sĩ quan phụ tá – coi vô dụng và tiêu tiền do giai cấp vô sản đã đổ mồ hôi mới kiếm được”.

    Ông nói thêm, để giải quyết vấn đề này, ông thông báo công khai các hoạt động thường ngày của mình:

    Buổi sáng: từ 8-12 giờ ở xưởng

    Buổi chiều: ở tòa báo (tất nhiên của cánh tả) hoặc thư viện.

    Buổi tối: ở nhà hoặc tham dự các cuộc nói chuyện mang tính giáo dục.

    Chủ nhật và các ngày nghỉ: thăm các bảo tàng và các nơi khác.

    Chỉ có vậy.

    Hy vọng rằng cách làm việc thuận tiện và hợp lý này sẽ làm cho Ngài hài lòng, chúng tôi xin gửi lời chào.

    Nguyễn Ái Quốc

    Rất có thể là Xa-rô-ê không thấy bức thư ngắn của Nguyễn Ái Quốc hài hước một chút nào. Rõ ràng là ông tiếp tục quan tâm đến hành tung của ông Quốc. Có lần Xa-rô-ê gửi cho Toàn quyền Mô-ri-xơ Lông Long ở Đông Dương một bức điện, thông báo rằng chính phủ đang xem xét đề nghị bắt Nguyễn Ái Quốc và trả ông về nước. Tuy nhiên, Lông nhìn nhận vấn đề theo một cách riêng, ông lập luận rằng nếu để ông ta ở Pháp thì sẽ dễ theo dõi các hoạt động của ông ta hơn. Khi Xa-rô-ê đề nghị đày ông Quốc ở một trong những vùng chịu ảnh hưởng của Pháp ở nam Trung Quốc, Long trả lời rằng ông Quốc có thể sẽ gây ảnh hưởng đối với các sự kiện ở Đông Dương từ một nơi gần về mặt địa lý như vậy.”

    Cho đến lúc đó, việc quấy rối của các nhà chức trách có thể chỉ gây bực bội không đáng kể cho Nguyễn Ái Quốc. Có thể điều làm cho ông buồn nản hơn là thái độ của nhiều đồng chí của mình đối với cuộc đấu tranh chung. Mặc cho những nỗ lực của ông, người Pháp không có vẻ gì là đang xem xét vấn đề thuộc địa một cách nghiêm chỉnh. Sau sự khởi đầu được quảng cáo rầm rộ, Ủy ban Nghiên cứu Thuộc địa đã thực sự trở nên lỗi thời. Các tờ báo của Đảng hiếm khi đề cập các vấn đề thuộc địa. Ông phàn nàn rằng ngay cả tờ Nhân đạo cũng không dành cho sự nghiệp của nhân dân thuộc địa bị áp bức một vị trí xứng đáng. Ông viết, các tờ báo của giai cấp tư sản chú ý nhiều hơn đến các thuộc địa, và có nhiều chiến sĩ “vẫn nghĩ rằng thuộc địa là một nước có nhiều cát dưới chân và mặt trời trên đầu, một vài cây dừa xanh và người da màu, và thế là hết.”

    Ông Quốc than vãn rằng việc Đảng không giải quyết vấn đề thuộc địa dẫn đến việc thiếu hiểu biết chung giữa giai cấp công nhân Pháp và giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa. Các công nhân Pháp coi dân bản xứ là kém cỏi hơn và không đáng kể, không hiểu biết chứ chưa nói gì đến hành động. Tuy nhiên, ông cũng công nhận rằng thành kiến đến từ cả hai phía. Ở các thuộc địa, tất cả những người Pháp, bất kể thuộc tầng lớp nào, đều bị coi là “những kẻ bóc lột tàn ác”.

    Nguyễn Ái Quốc kiên trì thúc giục những người đồng chí của mình về vấn đề thuộc địa. Tại đại hội Đảng Cộng sản Pháp tổ chức tại Pa-ri tháng 10 năm 1922, ông và các đại diện khác của các lãnh thổ thuộc địa đã trình một nghị quyết thúc giục phong trào Cộng sản thế giới chú ý hơn nữa đến vấn đề thuộc địa. Nhưng ngay cả sau hội nghị Tua và sau khi những người có ý kiến ôn hòa ra đi, thái độ trọng châu Âu vẫn bao trùm trong các phần tử cấp tiến gia nhập Đảng Cộng sản. Đôi khi giới lãnh đạo có những cố gắng không dứt khoát trong việc tổ chức cộng đồng công nhân Việt Nam ở Pháp (hầu hết là những người lao động chân tay, công nhân bốc vác và đầu bếp). Một số người Việt được bổ nhiệm vào các chức vụ có uy tín của đảng. Nhưng hầu như chỉ vậy.

    Sự phẫn nộ của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề này có thể đã làm tăng giọng chống Pháp trong các bài viết của ông. Cuối năm 1921, khi trở về từ Mác-xây, nơi mà ông đã chứng kiến điều kiện làm việc khổ sở của công nhân người Việt ở cảng, ông bắt đầu ký các bài báo của mình với bút danh mới là Nguyễn Ô Pháp, có nghĩa là “Nguyễn ghét người Pháp”. Có lần ông giận dữ bỏ đi sau một cuộc phỏng vấn với một đảng viên lâu năm của Đảng, người có trách nhiệm giải quyết các vấn đề thuộc địa. Đáp lại, người cộng sản Pháp trẻ tuổi mới nổi Giắc-cơ Đô-ri-ô chỉ ôn tồn khuyên ông giảm bớt giọng trong các bài báo.

    Tháng 3 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời căn hộ nhỏ ở ngõ Công-poanh và chuyển vào trụ sở của tờ Người cùng khổ, nay ở trụ sở của Liên hiệp Thuộc địa trên đường Mác-sê đề Pa-tri-ác-sơ. Có thể việc chuyển chỗ ở là để tạo thuận lợi hơn cho công việc của ông hoặc cho việc giữ quỹ. Văn phòng của tờ báo nằm ở tầng trệt, ông ở một phòng ở tầng trên với giá 100 quan một tháng. Đây là nơi cuối cùng của ông ở Pa-ri.

    Trong việc xuất bản tờ báo, ông nhận được sự giúp đỡ của một ngôi sao trẻ đang lên trong phong trào dân tộc Việt Nam, ông Nguyễn Thế Truyền. Sinh năm 1898 gần Hà Nội, ông Truyền đến Pa-ri năm 1920 để học nghề kỹ sư. Một năm sau, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và bắt đầu cộng tác với ông Quốc tại Liên hiệp Thuộc địa. Trong thời gian dài ông gần như là đồng sự gần gũi nhất của ông Quốc trong cộng đồng người Việt.

    Tháng mười trước đó, trong khi tham dự Đại hội Đảng ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc đã gặp Đi-mi-tơ-ri Ma-nun-xki, một quan chức cao cấp của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Tại Đại hội, Ma-nun-xki đã nghe ông Quốc công khai chỉ trích việc thiếu quan tâm đến vấn đề thuộc địa trong nội bộ đảng. Nhiều tháng sau đó, khi Ma-nun-xki được lệnh của Ủy ban điều hành của Quốc tế cộng sản chuẩn bị một báo cáo về các vấn đề quốc gia và thuộc địa để trình bày tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ năm mùa hè năm 1924, ông đã nghĩ đến người Việt Nam trẻ tuổi đầy nhiệt huyết ở Pa-ri. Nguyễn Ái Quốc đã được mời đến Mát-xcơ-va theo đề nghị của đồng chí Ma-nun-xki để làm việc cho Quốc tế Cộng sản III.

    Với Nguyễn Ái Quốc, lời mời đến Mát-xcơ-va là một phần thưởng cho những nỗ lực của ông nhân danh Đảng, và có thể là một cơ hội để quay lại châu Á nhằm thúc đẩy công cuộc cách mạng ở Việt Nam. Nhưng ông giải quyết việc này với sự thận trọng cố hữu của mình. Để tránh lộ tin tức về chuyến đi của ông cho cảnh sát, ông báo với bạn bè rằng ông sắp đi miền nam nước Pháp nghỉ 3 tuần. Sau đó, khi đã lên lịch hoạt động thường xuyên nhằm đánh lạc hướng hai “sĩ quan” của mình để họ nới lỏng việc giám sát, ngày 13 tháng 6 ông đã bí mật rời một rạp chiếu bóng bằng cửa sau và vội vã đến Nhà ga phía Bắc, nơi một người bạn trao hành lý cho ông và sau đó ông đi tàu đến Béc-lin trong vai một thương nhân châu Á giàu có ngậm một điếu xì-gà. Ông đến Béc-lin vào ngày 18 khi mà tiền đã cạn nhanh chóng do tỉ lệ lạm phát khủng khiếp ở nước Đức thời hậu chiến. Nhờ liên lạc với Đảng Cộng sản Đức, ông tiếp tục đến Hăm-buốc. Sau đó ông lên tàu khách Các Lép-nhếch để đến nước Nga Xô viết. Ông đến Pê-trô-gơ-rát vào ngày 30 tháng 6 với thị thực mang tên Trần Vang, một thương nhân người Trung Quốc.

    Việc Nguyễn Ái Quốc rời Pa-ri đột ngột làm cảnh sát ngạc nhiên. Những người vẫn theo dõi ông lúc đầu báo cáo lên Bộ Thuộc địa rằng ông đã rời khỏi nhà với hai bàn tay trắng nhưng không trở lại. Sau đó họ đã mắc mưu ông và cho rằng ông đã đi nghỉ ở phương nam. Chỉ sau đó nhiều tuần họ mới nhận ra rằng ông đã đi nước Nga Xô viết. Việc ông biến mất đã làm cho người quen của ông hoang mang. Ông đã gửi thư cho bạn bè nói rằng ông đã rời Pháp và xin lỗi vì ông đã không báo cho đồng sự của ông về sự ra đi đột ngột này. Ông nói một cách gián tiếp là ông sẽ rút lui vào bí mật và sẽ không trở về sau nhiều năm. Ông còn hứa sẽ viết thư cho họ.

    Rời Pa-ri đi nước Nga Xô viết, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện cuộc đoạn tuyệt mang tính biểu tượng cuối cùng với con đường cải cách của bạn ông là ông Phan Châu Trinh và đi theo sự nghiệp cách mạng của Vla-đi-mia Lê-nin. Nhưng người bạn già của ông ở biệt thự Gô-bơ-lanh chúc ông thành công. Trong một bức thư gửi một người quen là người Việt Nam vào tháng 9, ông Trinh đã bảo vệ ông Quốc trước những chỉ trích nhắm vào ông: “Mặc dù Nguyễn Ái Quốc còn trẻ và các hành động của ông ấy không được suy xét một cách khôn ngoan, nhưng điều đó không quan trọng bởi vì Nguyễn Ái Quốc có một trái tim yêu nước”. Ông Trinh kết luận, Quốc đã lựa chọn con đường khó khăn và đơn độc để giải phóng đồng bào mình và mọi người phải tôn trọng trái tim đầy nhiệt huyết của ông.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi