Chương I: Vong Quốc

  • Bởi tqvn2004
    03/09/2009
    0 phản hồi
    Chủ đề: 

    Ông lặng lẽ vào thành phố, không khoa trương. Trong khi những người theo ông đi dạo trên đường phố, kỷ niệm chiến thắng hay nhận đầu hàng của quân địch, ông sống tại toà nhà thương mại hai tầng không có gì nổi bật trong khu phố Tàu ở thành phố. Ông sống ở đó một vài ngày tách biệt với bên ngoài, hối hả làm việc với chiếc máy chữ mòn vẹt ông mang theo bên mình trong suốt một thập kỷ đi đây đó từ Mátxcơva đến miền Nam Trung Hoa và cuối cùng, trong những tuần đầu tiên của năm 1941, trở về quê hương nơi ba năm trước ông đã ra đi.

    Cuối tháng ông viết xong bài diễn văn dự định sẽ đọc trước đồng bào của mình, tuyên bố sự ra đời của một quốc gia mới. Ngay 2 giờ chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông đã có mặt trên lễ đài được dựng trên một khu đất lớn sau này là Quảng trường Ba Đình ở phía tây thành phố. Ông mặc bộ quần áo ka-ki bạc mầu rộng so với thân hình gầy gò của mình và chân đi dép cao–su. Hàng nghìn người đã tập trung từ sáng sớm để nghe ông phát biểu. Với giọng nói thanh cao đặc trưng cho nơi ông sinh ra, ông tuyên bố đất nước được độc lập và đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập. Đối với một vài người Mỹ tình cờ có mặt tại đó, những lời đầu tiên của ông thật đáng ngạc nhiên: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

    Lúc đó là cuối mùa hè năm 1945, ngay sau khi đế quốc Nhật đầu hàng trên toàn châu Á. Địa điểm là Hà Nội, từng là cố đô của Việt Nam, giờ đây là thành phố thuộc địa im lìm nằm giữa đồng bằng sông Hồng thường gọi là Đông Dương thuộc Pháp. Trong hai thập kỷ, Nguyễn Ái Quốc đã tận tuỵ hết lòng khơi dậy, sự sợ hãi và lòng căm thù trong đồng bào của mình và những công chức cai trị thuộc địa Pháp. Giờ đây dưới một cái tên mới, ông giới thiệu mình với nhân dân Việt Nam với tư cách là Chủ tịch đầu tiên của một đất nước mới.

    Lúc đó cái tên Hồ Chí Minh không được ai biết đến trừ một nhóm đồng bào của ông. Chẳng mấy ai trong số những người nghe Tuyên ngôn Độc lập hay những người trên khắp đất nước biết trước đây ông là nhân viên của Quốc tế Cộng sản III (một tổ chức cách mạng còn được gọi là Quốc tế III do Lê–nin, người lãnh đạo Bôn-sê-vích sáng lập hai mươi sáu năm về trước), và là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Giờ đây ông miêu tả mình là “một người yêu nước đã phụng sự đất nước từ lâu”. Trong một phần tư thế kỷ tiếp theo, nhân dân Việt Nam và thế giới đã có đánh giá đúng về ông.

    Động lực khởi đầu cho hành trình lâu dài của ông tới Quảng trường Ba Đình đã bắt đầu từ cuối mùa hè năm 1858 khi một đội các tàu chiến Pháp, với sự tham gia của một số tàu chiến của Tây Ban Nha, bất ngờ tấn công thành phố Đà Nẵng, một cảng biển thương mại cỡ trung bình thuộc duyên hải miền trung Việt Nam.

    Cuộc tấn công này không phải hoàn toàn bất ngờ. Trong nhiều thế kỷ, con mắt thèm thuồng của Pháp luôn hướng vào Việt Nam: Những nhà truyền giáo với con mắt dõi theo những linh hồn để cứu rỗi, những lái buôn đi khắp địa cầu tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới cũng như tuyến đường sông tới Trung Hoa giàu có, những nhà chính trị tin rằng việc thiết lập các thuộc địa ở châu Á mới có thể đảm bảo được sự tồn tại của Pháp như là một cường quốc. Đến giữa thế kỷ, chính phủ Pháp tìm cách thiết lập sự có mặt tại Việt Nam qua đường ngoại giao và thậm chí đã cử một phái đoàn tới cố đô Huế, cách Đà Nẵng 80 cây số về phía bắc, nhằm thuyết phục vua Việt Nam mở cửa cho Pháp. Khi các cuộc thương thuyết thất bại, chính phủ của Hoàng đế Lu–i Na-pô-lê-ông đã quyết định sử dụng đến sức mạnh.

    Đất nước mà các tàu chiến Pháp tấn công không xa lạ gì với chiến tranh hay nạn ngoại xâm. Đúng vậy, rất ít dân tộc ở châu Á buộc phải chiến đấu lâu dài và gian khổ như nhân dân Việt Nam để bảo vệ bản sắc của mình là một quốc gia độc lập và riêng biệt. Một thực tế nổi bật trong lịch sử Việt Nam là cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ chống lại khuynh hướng bành trướng của Trung Hoa, người láng giềng phương Bắc. Vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên khi nền cộng hòa La Mã còn mới phát triển. Đế chế Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam và tiến hành mạnh mẽ quá trình đồng hoá về chính trị, văn hoá và kinh tế. Mặc dù nhân dân Việt Nam đã cố gắng giành lại độc lập của mình vào thế kỷ thứ mười sau Công nguyên nhưng phải hàng trăm năm sau các Hoàng đế Trung Hoa mới chấp nhận thực tế là Việt Nam tồn tại một cách riêng biệt; trên thực tế, điều này chỉ xảy ra sau khi Việt Nam miễn cưỡng chấp nhận quan hệ chư hầu với đế chế Trung Hoa.

    Quan hệ lâu dài giữa Việt Nam và Trung Hoa đã để lại những hậu quả triền miên. Hơn một thiên niên kỷ, thể chế chính trị, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, tôn giáo, triết học của Trung Hoa và thậm chí cả tiếng Hán đã cắm rễ sâu trong đất Việt Nam. Kết quả là một Việt Nam “Khổng hoá” mà đối với người tìm hiểu không kỹ là một Trung Hoa thu nhỏ, một “con rồng nhỏ”, bản sao của người láng giềng phương Bắc hùng mạnh và tươi sáng. Bản thân các triều đại vua Việt Nam suy nghĩ như vậy, áp dụng cách ăn mặc không oai phong bệ vệ như Thiên tử Trung Hoa. Chế độ tuyển chọn nhân tài quan chức của Việt Nam dần dần theo khuôn mẫu của Trung Hoa (ít ra trên lý thuyết) dựa trên các cuộc kiểm tra ngặt nghèo về kiến thức đạo Khổng. Nhiều thế hệ nam thanh niên Việt Nam học những cuốn kinh thư mà các bạn của họ ở Trung Hoa được học, thường là học thuộc lòng. Chị em gái của họ bị tục lệ Khổng giáo gia trưởng cứng nhắc không cho theo đuổi con đường sự nghiệp – hay hầu hết các nghề nghiệp gì khác – sống giam cầm trong giới hạn gia đình và được răn dạy phải chuyên tâm trở thành những người vợ và người mẹ hiền.

    Việc Việt Nam du nhập văn hoá Trung Quốc có lẽ không phải là một vấn đề đặc biệt đau đớn bởi những điều kiện kinh tế và xã hội giúp tạo nên nền văn minh đạo Khổng ở Trung Hoa cũng đã tồn tại ở mức độ nhất định ở Việt Nam. Cũng như nước láng giềng phương Bắc, xã hội Việt Nam cơ bản là xã hội nông nghiệp.

    Khoảng 9 trong 10 người Việt Nam là nông dân trồng lúa sống trong các ngôi làng nhỏ rải rác trên khắp đồng bằng sông Hồng trải dài tới vịnh Bắc Bộ. Làm việc chăm chỉ, đặt lợi ích của cộng đồng trên lợi ích cá nhân cũng như một hệ thống trính trị xã hội ổn định là những điều được coi trọng. Sự tồn tại của một đội ngũ quan lại có học vấn nhằm duy trì hệ thống tưới tiêu và mạng lưới đường sá là nhu cầu thiết yếu, tuy nhiên thương mại và sản xuất công nghiệp hầu như không tồn tại. Mặc dù những nhân tố bản xứ trong nên văn hoá của Việt Nam không hề bị mất đi nhưng trong con mắt của những người không thạo thì dường như Việt Nam là hình ảnh thu nhỏ của người láng giềng phương Bắc khổng lồ.

    Nếu người Việt Nam tỏ ra sẵn sàng du nhập phần lớn những phong tục vĩ đại của Trung Hoa hùng mạnh thì họ cũng tỏ ra rất kiên quyết trong vấn đề tự trị. Những nhân vật anh hùng của Việt Nam trong quá khứ đều có đặc điểm chung là đấu tranh chống lại sự đô hộ của Trung Hoa. Đó là những nhà lãnh đạo các cuộc nổi dậy như Hai Bà Trưng (là những người chống lại sự cai trị của Trung Hoa trong thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên), vua Lê Lợi và nhà chiến lược lỗi lạc Nguyễn Trãi đã chiến đấu chống lại nhà Minh vào 1.400 năm sau. Những thử thách gắt gao đó đã sản sinh ra một dân tộc có ý thức sâu sắc về bản chất dân tộc mình và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc chống ngoại xâm.

    Một trong những hệ quả vĩnh viễn của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì sự tồn tại của quốc gia là truyền thống quân sự mạnh mẽ và sẵn sàng sử dụng sức mạnh để bảo vệ quốc gia. Trong nhiều thế kỷ kể từ khi giành lại độc lập dân tộc từ tay Trung Hoa vào năm 939 sau Công nguyên nước Việt Nam mới với cái tên Đại Việt (nước Việt Nam lớn) đã trải qua các cuộc chiến kéo dài với nước láng giềng phía nam, nước Cham–pa có nền thương mại phát triển. Cuối cùng người Việt Nam đã giành được lợi thế và vào thế kỷ thứ 13 họ đã tiến mạnh về phía nam dọc theo bờ biển. Vào thế kỷ thứ 17, Chăm– pa bị thôn tính và lãnh thổ nước Đại Việt được mở rộng tới bán đảo Cà Mau trên vịnh Thái Lan.

    Những người định cư Việt Nam, phần lớn là những người lính trước đây, rời về phía Nam tạo ra các cộng đồng lúa nước mới trên mảnh đất phì nhiêu đồng bằng sông Cửu Long. Nước Đại Việt đã trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh ở lục địa Đông Nam Á và vua của Việt Nam trong các mối quan hệ của mình với những người thống trị láng giềng đã bắt đầu cho mình không chỉ là một vị vua mà còn là một hoàng đế.

    Tuy nhiên, thành công quân sự của Đại Việt cũng phải trả giá bởi việc mở rộng lãnh thổ đã dẫn tới sự cách biệt ngày càng lớn về chính trị và văn hoá giữa những người có lối suy nghĩ truyền thống ở các tỉnh tại đồng bằng sông Hồng và những người định cư có tư duy độc lập hơn ở những vùng biên giới phía nam mới giành được. Trong suốt hai thế kỷ, ở Việt Nam luôn xảy ra các cuộc nội chiến giữa các dòng họ cầm quyền ở miền Bắc và miền Nam. Vào đầu thế kỷ 19, hậu duệ của dòng họ cai trị ở miền Nam là Nguyễn Ánh đã thống nhất đất nước và lấy niên hiệu là Gia Long. Lúc đầu triều đình nhà Nguyễn chỉ có ý định giải quyết hậu quả dai dẳng của cuộc nội chiến, tuy nhiên đến giữa thế kỷ những rạn nứt địa phương bắt đầu gia tăng do các khó khăn kinh tế như ruộng đất tập trung vào tay người giàu và càng trở nên phức tạp hơn do sự cai trị yếu kém của kinh đô Huế.

    Nội chiến ở Việt Nam đã xảy ra vào thời điểm quan trong trong lịch sử Đông Nam Á. Những đội tàu từ châu Âu tiếp bước nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Vát-cô da Ga-ma chạy dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa và vịnh Thái Lan tìm kiếm thương hiệu lạ, kim loại quý và những tâm hồn ngoại đạo để cứu rỗi. Trong số những nước châu Âu quan tâm nhất tới khu vực có người Pháp và vào thế kỷ thứ 19 khi đối thủ kình định của họ là người Anh bắt đầu củng cố vị trí ở Ấn Độ và Miến Điện, nhà cầm quyền Pháp đã hướng con mắt thèm thuồng của mình vào Việt Nam.

    Vào năm 1853, vị vua thứ ba của triều đại nhà Nguyễn băng hà và ngai vàng được chuyển cho nhà vua còn trẻ và thiếu kinh nghiệm là Tự Đức. Đó là điều không may đối với ông và cho cả thần dân của ông bởi trên vai ông là trách nhiệm đẩy lùi mối đe doạ nguy hiểm đầu tiên đối với nền độc lập của Việt Nam trong vài thế kỷ. Mặc dù có thiện chí và thông minh nhưng ông là người không quyết đoán và ốm yếu. Khi những toán quân Pháp đầu tiên đổ bộ vào cảng Đà Nẵng mùa hè năm 1858, phản ứng bản năng đầu tiên của Tự Đức là phải đánh lại. Từ chối đề nghị thương thuyết, ông cho tập trung quân đội Hoàng gia ngay phía bên kia phòng tuyến quân Pháp ở ngoại vi thành phố. Đô đốc Sác-lơ Ri-gô đờ Gơ-nui-i, một viên sỹ quan Pháp được những nhà truyền giáo người Pháp đang làm việc tại khu vực bảo đảm rằng sẽ có một cuộc nổi dậy của dân địa phương chống lại triều đình nhưng điều này đã không xảy ra. Lúc đầu, viên đô đốc người Pháp hy vọng cứ chờ sẽ thắng quân địch nhưng khi dịch tả và bênh lỵ làm mất đi nhiều binh linh châu Âu, ông đã quyết định từ bỏ thành phố và tìm một nơi dễ tấn công hơn ở phía Nam. Đầu năm sau, người Pháp trở lại tấn công Sài Gòn, một cảng thương mại nhỏ nhưng phát triển trên một con sông nhỏ cách đồng bằng sông Cửu Long vài dặm về phía Bắc. Quân triều đình Việt Nam ở đó đã cố chống trả nhưng vì vũ khí khá lạc hậu không sánh được với vũ khí của quân xâm lược nên sau hai tuần đã không thể kháng cự được.

    Mặc dù phản ứng đầu tiên của nhà vua là sử dụng quân đội để chống lại quân xâm lược nhưng thất bại ở miền Nam đã làm ông nản lòng. Bất chấp những lời kêu gọi tiếp tục chiến đấu của các cố vấn trong triều, Tự Đức đã quyết định thương lượng và vào năm 1862 chấp thuận nhượng ba tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cho Pháp. Sau đó ba tỉnh này (cùng với ba tỉnh khác vài năm sau) trở thành thuộc địa của Pháp ở Nam Kỳ. Pa-ri đã thắng vòng đầu.

    Trong vài năm, triều đình Huế đã duy trì được nền độc lập mong manh nhưng cuối cùng hầu như đã bị tê liệt khi Pháp tiếp tục tấn công vào đầu những năm 1880, đánh thành Hà Nội và chiếm một số thành phố lớn ở đồng bằng sông Hồng. Vua Tự Đức ốm yếu đã băng hà ngay trước khi chiến sự nổ ra và cuộc khủng hoảng về người kế vị khiến triều đình bị chia rẽ thành các phe đối lập. Nhiều tháng sau, một số vị vua mới, mà phần lớn còn là trẻ con đã nhanh chóng được đưa lên ngôi và bị phế truất. Cuối cùng, quyền lực đã rơi vào tay quan nhiếp chính có ảnh hưởng lớn là Tôn Thất Thuyết. Ông đã đưa người được ông bảo trợ là Hàm Nghi lên ngôi với hi vọng tiếp tục kháng chiến. Đáp lại yêu cầu của Việt Nam, triều đình nhà Thanh Trung Hoa đã cử quân đội đến giúp nhưng Việt Nam vẫn không thắng được. Năm 1885 Trung Hoa rút quân và ký thoả ước với Pháp rũ bỏ mối quân hệ chư hầu từ lâu với Việt Nam. Tại Huế, một vị vua bù nhìn được đưa lên ngôi thay cho Hàm Nghi trẻ tuổi đã bỏ trốn cùng vị cố vấn không chịu khuất phục của mình là Tôn Thất Thuyết lên núi sâu trong nội địa để tiếp tục kháng chiến. Trong khi đó, phe thủ hoà chiếm đa số trong triều đã ký một thoả ước mới với Pháp chấp nhận Pháp chi phối về chính trị trên toàn bộ lãnh thổ còn lại của Việt Nam. Người Pháp chuyển vùng đất họ mới giành được trở thành xứ bảo hộ bao gồm Bắc Kỳ (gồm các tỉnh ở đồng bằng sông hồng và các vùng núi lân cận) và Trung Kỳ (bao gồm các tỉnh duyên hải cho tới vùng thuộc địa Nam Kỳ về phía nam). Ở Trung Kỳ, người Pháp cho phép vua bù nhìn và triều đình của ông ta giữ lại những quyền hạn ít ỏi. Ở Bắc Kỳ, chế độ thuộc địa thực sự có quyền hạn tối cao. Trên thực tế, Việt Nam đã trở thành nhượng địa của Pháp.

    Việc người Pháp chinh phục Việt Nam là một phần của quá trình mở rộng thuộc địa của châu Âu bắt đầu sau chiến tranh Na-pô-lê-ông và quá trình mở rộng này đã được đẩy nhanh trong cuối thế kỷ 19 khi các nước phương Tây phát triển bước vào kỷ nguyên công nghiệp. Vì rất mong tìm kiếm thị trường tiêu thụ và nguồn nguyên liệu thô rẻ phục vụ sản xuất hàng hoá, các nước tư bản phương Tây quay sang sử dụng vũ lực nhằm thiết lập quyền bá chủ trên toàn khu vực. Vào cuối thế kỷ, tất cả các nước ở Nam và Đông Nam Á trừ vương quốc Xiêm-sau này là Thái Lan, đều bị thực dân cai trị theo các hình thức khác nhau.

    Việc triều đình đầu hàng đã không ngăn được khát vọng độc lập của Việt Nam. Nhiều thế kỷ kháng chiến chống Trung Hoa đã khắc sâu trong tầng lớp thượng lưu Việt Nam truyền thống phụng sự nhà vua và đất nước như bổn phận Nho giáo cơ bản nhất. Nhiều quan lại dân sự và quân sự đã không chịu chấp nhận việc triều đình đầu hàng trước sức mạnh quân sự và đã tổ chức các đội quân vũ trang địa phương nhằm đưa Hàm Nghi quay trở lại nắm quyền. Tại tỉnh Hà Tĩnh ở duyên hải Trung Kỳ, nhân sĩ Phan Đình Phùng đã khởi xướng phong trào Cần Vương (cứu Vua) để tập hợp sự ủng hộ đối với nhà vua bị phế truất và đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi quê hương. Khi được Hoàng Cao Khải là bạn từ thời niên thiếu, người đã quyết định thích ứng với hoàn cảnh mới, khuyên từ bỏ nỗ lực vô vọng để tránh đổ máu không cần thiết, ông Phùng đã trả lời với giọng cao ngạo của một nhà nho yêu nước.

    “…Tôi ngẫm nghĩ lại, nước mình mấy nghìn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau hết đời này qua đời kia, đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, duy có chỗ ỷ thị dựa nương để dựng được nước, là nhờ cái gốc vua tôi, cha con theo năm đạo thường. Xưa nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, bao phen lăm le chiếm đất ta làm quận huyện mà vẫn không chiếm được. Ôi! Nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau vẫn không thể ỷ mạnh nuốt trôi ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non sông nước Nam tự Trời định phận riêng hẳn rồi.”

    Tuy nhiên, việc hai người có thể xưng vua đã tạo ra thế tiến thoái lưỡng nan đối với những người Việt Nam luôn trung thành với vua. Liệu họ có nên tuân theo vua Đồng Khánh mới lên ngôi ở Huế với sự đồng ý của Pháp hay không?, Hay họ nên hưởng ứng lời kêu gọi của vua bị phế truất Hàm Nghi là người từ nơi ẩn náu trên núi đã kêu gọi sự ủng hộ của tất cả những người yêu nước trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng chống lại bọn hung bạo? Thế lưỡng nan trong việc chọn lựa giữa đấu tranh và thoả hiệp là một việc rất khó khăn đã chia rẽ giới cầm quyền. Sự chi rẽ này đã không thể hàn gắn được hơn một nửa thế kỷ sau.

    Trung tâm của phong trào kháng chiến chống Pháp là tỉnh Nghệ An miền Trung Việt Nam. Một mảnh đất với những bãi biển yên tĩnh, những rặng núi xanh ngắt, những cánh đồng lúa xanh mướt, những cánh rừng xanh thẫm, Nghệ An nằm ở vùng cán xoong giữa biển Nam Trung Hoa và những ngọn núi của dãy Trường Sơn dọc theo biên giới Lào về phía tây. Đó là mảnh đất của những đợt gió nóng khô và những cơn mưa lớn mùa thu làm đổ rạp những cọng lúa và ngập những cánh đồng của nông dân. Một nghịch lý là tuy mảnh đất này rất đẹp nhưng lại rất khắc nghiệt đối với những cư dân ở đó. Người Việt Nam sống trên mảnh đất này tập trung tại eo đất nhỏ giữa bờ biển và rặng núi trong đó hơn 90 phần trăm là nông dân phải xoay xở từ mảnh đất của mình và họ thấy cuộc sống là phải tranh đấu. Đất mỏng, nghèo dinh dưỡng và thường xuyên ngập mặn. Thiên tai luôn rình rập và nhiều khi khiến cho nông dân bị rơi vào những hoàn cảnh tuyệt vọng.

    Có lẽ điều này giải thích tại sao trong lịch sử người dân Nghệ An được coi là những người Việt Nam cứng cổ hay chống đối nhất, được đồng bào đặt cho tên lóng là “ những con trâu xứ Nghệ”. Trong lịch sử, Nghệ An luôn đi tiên phong chống quân xâm lược cũng như kêu gọi nổi dậy chống lại những người cầm quyền không hợp lòng dân. Trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 19, Nghệ An trở thành một trong những trung tâm của phong trào kháng chiến chống Pháp. Nhiều người con ưu tú của Nghệ An đã chiến đấu và hy sinh dưới ngọn cờ của Phan Đình Phùng và phong trào Cần Vương.

    Làng Kim Liên thuộc huyện Nam Đàn, trung tâm tỉnh Nghệ An, cách thủ phủ Vinh khoảng 16 cây số về phía tây. Huyện Nam Đàn nằm dọc theo bở bắc sông Cả, con sông chính ở Nghệ An. Phần lớn địa hình ở đây bằng phẳng với những cánh đồng tắm nắng mặt trời vùng bán nhiệt đới vươn ra tới biển một vài dặm về phía đông, nơi những ngọn đổi nhỏ được che phủ bởi thảm thực vật rậm lá xanh sẫm cao hơn vùng đồng bằng xanh quanh. Những cây cọ tô điểm cho cảnh vật và tạo bóng mát cho những túp lều mái lá của những người nông dân nhấp nhô trong những xóm nhỏ. Trong mỗi xóm làng, những bụi chuối, gốc cam và những rặng tre là nguồn thức ăn khi cần và còn là nguyên vật liệu xây dựng. Trong thế kỷ 19, hầu hết những người nông dân ở huyện Nam Đàn vẫn còn nghèo, bởi đây là nơi đông dân cư và đất không đủ nuôi sống người dân.

    Chính tại đây vào năm 1863, Hà Thị Hy, vợ thứ hai của người nông dân khá giả tên là Nguyễn Sinh Vương (đôi khi được gọi là Nguyễn Sinh Nhậm) đã sinh được một người con trai tên là Nguyễn Sinh Sắc. Người vợ đầu của ông Vương mất trước đó vài năm sau khi sinh cho ông đứa con trai đầu lòng Nguyễn Sinh Tro. Để nuôi con, ông Vương đã cưới Hà Thị Hy, con gái một gia đình nông dân làng bên. Khi lên bốn, Sắc đã mất cả cha lẫn mẹ và được người anh cùng cha khác mẹ là Tro nuôi dưỡng. Ông Tro làm công việc đồng áng trên mảnh đất của cha Sắc. Đối với Tro những người hàng xóm, cuộc sống của nhân dân thật khó khăn. Khi có bão lớn, ruộng ngập nước, phá toàn bộ mùa màng, khi hạn hán cây lúa bị khô cằn. Do vậy, nhiều nông dân trong làng phải làm thêm những nghề phụ khác như nghề mộc, làm gạch, dệt vải hay nghề rèn. Ngoài ra, nơi đây còn có truyền thống hiếu học lâu đời. Một số nhà nho vùng này tham dự các kỳ thi quan, một số người khác mở các lớp kinh thư bổ sung cho thu nhập ít ỏi của mình.

    Thoạt đầu, cậu bé Nguyễn Sinh Sắc hầu như không có cơ hội bắt đầu sự nghiệp nho sỹ của mình. Cho dù dòng họ cậu có lịch sử lâu đời, theo truyền thống được cẩn thận khắc bằng chữ Hán trên bức hoành phi bằng gỗ đặt bên cạnh bàn thờ gia đình, ghi lại rằng ngày xưa đã có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi nhưng hình như trong những thế hệ gần đây không có một ai đạt được điều đó. Người anh cùng cha khác mẹ của Sắc là Tro chẳng quan tâm gì đến học hành. Tuy vậy, Sắc rất hiếu học. Cuối buổi sáng mỗi khi dắt trâu của anh từ đồng về, Sắc thường ghé qua trường của nho sĩ Vương Thúc Mẫu ở địa phương, buộc trâu lại và quanh quẩn ngoài lớp học, lắng nghe thầy giáo giảng bài. Thời gian rỗi, Sắc thường học chứ Hán bằng cách viết lên đất hay lên lá cây hồng.

    Khi Sắc đến tuổi lớn, các làng đều biết tính hiếu học của Sắc và điều này khiến cho Hoàng Đường (hay còn gọi là Hoàng Xuân Đường), một nho sĩ làng Hoàng Trù bên cạnh thường đi qua con đường đất sang Kim Liên để thăm bạn là Vương Thức Mẫu, chú ý. Thấy chàng thanh niên mải mê đọc sách trên lưng trâu trong khi bạn bè chơi đùa trên đồng, Hoàng Đường đã nói chuyện với Nguyễn Sinh Tro và nhận nuôi cậu bé, cho phép cậu học trong các lớp học ông dạy tại nhà. Tro đồng ý và vào năm 1878, vào tuổi mười lăm, Nguyễn Sinh Sắc đã chuyển tới làng Hoàng Trù và bắt đầu chính thức học kinh thư với người cha nuôi và người bảo trợ mới của mình. Điều này không phải là một sự kiện bất thường bởi những bé trai thông minh xuất thân từ những gia đình nông dân nghèo thường được họ hàng hay hàng xóm giàu có bảo trợ và được học chữ Nho trong trường làng. Nếu như những đứa trẻ thành công trong học tập và trở thành nho sĩ hay quan lại thì họ hàng và xóm cũng sẽ thơm lây bởi uy tín và ảnh hưởng của người được họ bảo trợ.

    Giống như những nho sĩ khác trong vùng, thầy Đường vừa là thầy giáo vừa là nông dân. Gốc gác của dòng họ Hoàng là từ tỉnh Hải Hưng ở đồng bằng sông Hồng phía đông nam Hà Nội, có nhiều người nổi tiếng về học hành. Sau khi tới Nghệ An vào thế kỷ 15, tổ tiên của Hoàng Đường tiếp tục truyền thống hiếu học của gia đình. Bố ông đã thi ba lần và cuối cùng đỗ tú tài (bằng cấp thấp nhất trong hệ thống thi cử và tương đương với bằng cử nhân tại Mỹ ngày nay).

    Trong khi Hoàng Đường dạy học sinh tại hai phòng ngoài trong ngôi nhà chật hẹp của ông thì vợ ông là Nguyễn Thị Kép và hai cô con gái Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm việc ngoài đồng và dệp vải để phụ thêm cho gia đình. Giống như những người phụ nữ khác ở nông thôn khắp nước Việt Nam, không có người phụ nữ nào trong gia đình thầy Đường được học hành tử tế vì việc học hành và làm quan chỉ rảnh riêng cho nam giời, điều này thể hiện nguyên tắc đạo Khổng bắt nguồn từ Trung Hoa lâu nay ở Việt Nam. Ở Việt Nam, giống như ở Trung Hoa, theo truyền thống người phụ nữ có bổn phận đóng vai trò người mẹ, người nội trợ cũng như phục vụ chồng. Điều này không phải lúc nào cũng đúng vì phụ nữ Việt Nam trong xã hội đã ngày càng bị hạn chế. Trong gia đình, họ rõ ràng có vị trí thấp hơn người chồng. Người chồng có toàn quyền, sở hữu tài sản và được phép lấy vợ bé nếu vợ cả không sinh được con trai.

    Trong những giới hạn đó, Nguyễn Thị Kép và các chị em gái có lẽ may mắn hơn những người láng giềng vì có chút ít kiến thức văn chương. Bản thân gia đình Kép cùng có truyền thống hiếu học. Cha Kép đã vượt qua được cấp thi đầu tiên giống như bố chồng. Là vợ của một nho sĩ địa phương, Kép được những người trong cộng đồng địa phương kính trọng và ganh tị. Tuy vậy, cuộc sống của Kép như những người con gái chẳng khác gì những người hàng xóm ít may mắn hơn phải ngày qua ngày còng lưng trên những cánh đồng lầy lội ngoài làng, cần cù chăm sóc lúa cho đến mùa thu hoạch.

    Sắc đã lớn lên trong không khí đồng quê ấy. Sắc đã sớm chứng tỏ mình giỏi chữ Nho và khi Sắc thể hiện tình cảm với cô con gái đáng yêu của thầy Đường thì gia đình đã đồng ý tổ chức đám cưới mặc dù Kép lúc đầu dường như chưa bằng lòng vì Sắc mồ côi. Đám cưới được tổ chức vào năm 1883. Thầy Đường tặng con rể một túp lều mái lá có ba phòng với một mảnh đất nhỏ gần nhà ông và coi đó là của hồi môn. Một gian nhà nhỏ bên cạnh được dùng làm nhà thờ để những người đàn ông trong gia đình cúng tổ tiên. Gian nhà mới dựng cho đôi vợ chồng mới cưới thật sạch sẽ và ấm cúng với khoảng trống trong gian phòng trước để tiếp khách, bếp ở phía sau và một phòng bên ngoài để Sắc học. Gia đình có phần giầu có hơn phần lớn các gia đình khác trong làng nhưng họ không thuê người làm ruộng. Bảy năm sau, trong khi chồng tiếp tục học, Hoàng Thị Loan đã sinh ba người con, người con gái tên là Nguyễn Thị Thanh sinh năm 1884, người con trai tên là Nguyễn Sinh Khiêm 1888 và sau đó vào ngày 19 tháng 5 năm 1890 người con trai thứ ba tên là Nguyễn Sinh Cung sau này là Hồ Chí Minh. (Ở Việt Nam trẻ con khi sinh ra được đặt “nhũ danh”.) Khi trưởng thành bố mẹ sẽ đặt cho một tên mới thể hiện mong ước của mình đối với đứa trẻ).

    Trong khi Nguyễn Sinh Sắc chuẩn bị thi thì theo truyền thống bà Loan, tiếp tục lo lắng công việc đồng áng và nuôi dạy con cái. Theo như lời của những người cùng thời, bà là một người siêng năng, biết chăm lo cho gia đình, đây là hai đức hạnh Nho giáo truyền thống nhưng bà cũng rất giỏi và ham hiểu biết. Bà am hiểu văn học Việt Nam và thường ru con ngủ bằng những bài dân ca truyền thống hay đọc những câu thơ nổi tiếng trong truyện Kiều của Nguyễn Du, câu chuyện nghiệt ngã về hai người yêu nhau bị đạo đức truyền thống trói buộc.

    Năm 1891, Nguyễn Sinh Sắc đã tới phủ Vinh để thi tú tài nhưng trượt. Tuy nhiên điểm số của ông rất khích lệ và ông lại học tiếp. Về làng, ông mở các lớp học dạy trẻ để giúp đỡ gia đình. Bố vợ ông là thầy Dương mất năm 1893 làm cho gánh nặng kinh tế của gia đình thêm trầm trọng, Sắc buộc phải hoãn thi. Trong khi, chị làm các việc vặt trong gia đình, cậu bé Nguyễn Sinh Cung vui vẻ chơi đùa trên cánh đồng hay lang thang xung quanh trường học của bố. Vào buổi tối trước khi nằm trên võng, bà nội đã kể cho cậu nghe những câu chuyện về các vị anh hùng. Cung rất thông minh và nhanh chóng tiếp thụ tất cả.

    Tháng 5 năm 1894 , Sắc lên Vinh thi lần thứ hai và đỗ cử nhân, bằng cấp cao hơn tú tài tương đương với thạc sĩ. Thành công của Sắc là rất cao so với các nhà nho địa phương và khi trở lại làng Hoàng Trù ông được cấp một mảnh đất là phần thưởng truyền thống của làng dành cho những người đỗ đạt. Sắc đã nhận vì ông chỉ có ba mẫu ruộng là của hồi môn của vợ, tuy nhiên ông từ chối đề nghị tổ chức một bữa tiệc mừng ông thay vì đó phân phát thịt trâu cho người nghèo trong làng.

    Thông thường những người có bằng cử nhân danh giá sẽ tìm một vị trí trong chính truyền để “ vinh thân phì gia” nhưng Nguyễn Sinh Sắc đã chọn con đường tiếp tục học hành trong khi kiếm thêm thu nhập bằng cách dạy kinh thư. Theo truyền thống Nho giáo thiêng liêng buộc người vợ phải hy sinh – như trong câu nói đầy ý nghĩa của người Việt Nam, võng anh đi trước, võng nàng theo sau, – Hoàng Thị Loan tiếp tục công việc đồng áng và nuôi cả gia đình.

    Mùa xuân năm 1895, Nguyễn Sinh Sắc đi Huế tham gia kỳ thi hội, là bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục Nho giáo. Ông trượt nhưng đã quyết định ở lại Huế để vào Quốc Tử Giám chuẩn bị cho lần thi tiếp theo. Quốc Tử Giám bắt đầu có ở Hà Nội từ những năm đầu của nền độc lập dân tộc và là nơi đào tạo những người muốn ra làm quan được triều đình bảo trợ. Sắc không đủ tiền trả học phí và cơm trọ nhưng may mắn là trường có một số học bổng ỉt ỏi đài thọ chi phí ăn ở và nhờ bạn bè giúp đỡ, ông được cấp một học bổng. Sắc quay về Nghệ An đón bà Loan và hai người con trai vào Huế mong rằng vợ có thể tìm được việc làm đỡ đần chi tiêu gia đình.

    Lúc đó, đi từ thủ phủ Vinh (tỉnh Nghệ An) đến Huế đầy khó khăn và nguy hiểm. Chuyến đi kéo dài khoảng một tháng và phải đi qua rừng rậm, núi cao có nhiều cướp. Đi bằng đường biển nhanh và thuận tiện hơn nhưng nông dân nghèo như Nguyễn Sinh Sắc thì không đủ tiền mua vé tàu. Do đó, gia đình đã quyết định đi bộ, mỗi ngày đi khoảng được ba mươi cây số và đi theo nhóm cùng với những người khác để phòng cướp và thú rừng. Với đôi chân nhỏ bé, cậu bé Cung mới năm tuổi rất khó khăn mới theo kịp mọi người nên đôi khi cha cậu phải cõng trong khi kể cho cậu nghe những chuyện về những nhân vật thần thoại và các vị anh hùng xưa của Việt Nam.

    Huế, trước gọi là Phú Xuân, từng là đại bản doanh của chúa Nguyễn trị vì Nam Việt Nam trong suốt hai thế kỷ nội chiến. Sau khi nhà Nguyễn ra đời năm 1802, Vua Gia Long đã quyết định dời đô ra đó từ vị trí cũ ở đồng bằng sông Hồng, chứng tỏ quyết tâm thống nhất nước nhà dưới sự cai trị của nhà Nguyễn. Một đô thị nhỏ nép mình bên hai bờ sông Hương giữa hai đồng bằng của hai con sông lớn, đã trở thành trung tâm hành chính sau khi triều đình cát cứ ở đó, tuy nhiên kinh đô mới nhỏ hơn nhiều so với kinh đô Hà Nội xưa (lúc đó gọi là Thăng Long), có lẽ số dân ở đó chưa tới mười nghìn.

    Đến Huế, chắc đã kiệt sức, Nguyễn Sinh Sắc thu xếp tạm trú tại nhà một người bạn. Tuy nhiên, sau đó cả gia đình chuyển tới một căn phòng nhỏ ở phố Mai Thúc Loan, cách tường đông kinh thành không xa trên bờ bắc sông Hương. Quốc Tử Giám nằm trên bờ nam cách phía tây kinh thành khoảng bảy cây số nhưng Sắc ít khi đến trường mà dành phần lớn thời gian học tại nhà. Lúc rảnh rỗi ông dạy các con trai và con của những viên chức trong vùng. Coi trọng việc học hành, đặc trưng cho xã hội Nho giáo, ông hết sức hối thúc các con trai, khuyên răn học hành chăm chỉ cũng như quan tâm đến chữ viết của các con. Theo lời hàng xóm, cậu bé Cung đã bắt đầu rất quan tâm đến thế giới quanh mình, cùng anh trai theo dõi lính triều đình luyện tập và cố gắng lẻn vào trong kinh thành để xem rõ hơn. Thấy kiệu vua rời cung trong một dịp lẽ hội, cậu trở về hỏi mẹ liệu có phải vua đã bị thương ở chân hay không. Khi hỏi tại sao lại hỏi như vậy, Cung trả lời rằng cậu đã nhìn thấy nhà vua được phu khiêng trên kiệu.

    Năm 1898, Sắc thi trượt kỳ thi hội lần thứ hai và quyết định tạm thời làm thầy giáo trong một trường học tại làng Dương Nỗ ngay phía đông kinh thành. Bà Loan, vợ ông, vẫn sống tại căn phòng nhỏ ở Huế dệt vải và giặt thuê để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Trường học ở Dương Nỗ được một người nông dân giàu có trong làng xây dựng và người nông dân này đã cho phép hai con trai của ông Sắc học tại đó. Đây là lần đầu tiên hai chàng trai được học kinh thư chữ Hán.

    Tháng tám năm 1900, Sắc được triều đình bổ nhiệm làm giám thị kỳ thi hương ở Thanh Hoá, một tỉnh lỵ cách kinh thành khoảng năm trăm cây số về phía bắc. Việc bổ nhiệm này là một vinh hạnh vì cử nhân thường không được phép làm giám thị. Người con trai cả của Sắc là Khiêm đã tới đó cùng ông, còn Cung thì ở lại Huế với mẹ. Khi từ Thanh Hoá trở về Huế, Sắc đã lưu lại làng Kim Liên quê ông một thời gian ngắn để xây mộ cho cha mẹ.

    Quyết định này đã phải trả giá đắt. Ở Huế, vợ ông đã sinh con thứ tư, con trai tên là Nguyễn Sinh Xin (từ xin theo nghĩa đen là ăn xin). Tuy nhiên, việc sinh đẻ đã làm cho bà yếu đi và với thể trạng vốn đã ốm yếu, mặc dù đã được một lương y trong vùng chữa chạy, bà lâm bệnh và mất ngày 10 tháng 2 năm 1901. Những người hàng xóm sau đó kể lại rằng trong dịp Tết, cậu bé Cung vừa khóc vừa chạy từ nhà này sang nhà khác để xin sữa cho em và trong nhiều tuần lễ, vẻ vui tươi hàng ngày của cậu đã chuyển sang u sầu.

    Được tin vợ mất, Sắc lập tức trở về Huế để đưa các con về làng Hoàng Trù, tại đó ông tiếp tục dạy học. Trong một thời gian dài, cậu bé Cung tiếp tục học cùng với cha nhưng sau đó ông Sắc đã gửi cậu cho một người bà con xa bên ngoại là nho sĩ Vương Thúc Đô. Cậu bé Cung bắt đầu đạt được những tiến bộ đáng kể trong học tập. Cậu có thể nhận mặt được nhiều chữ Hán – là phương tiện quan trọng trong nền giáo dục Nho giáo vẫn được sử dụng để thể hiện tiếng Việt thường ngày – và rất thích thực hành. Cậu bé rất nhanh trí và ham học hỏi tuy nhiên cha cậu lại lo ngại bởi đôi khi cậu bé chểnh mảng học hành và mải chơi. Có lẽ thầy giáo mới của Cung đã giúp cậu nhiều trong chuyện này. Vương Thúc Độ thật sự yêu quý và theo như người khác kể lại không bao giờ đánh đập các học trò của mình – là điều khác thường vào thời đó – và ông thường kể cho học trò của mình những câu chuyện về những vị anh hùng chính trực trong quá khứ mà một trong số đó có anh trai của ông là người đã tham gia chiến đấu trong phong trào Cần Vương chống Pháp của Phan Đình Phùng.

    Sau vài tháng ở Hoàng Trù, ông Sắc lại vào Huế, mẹ vợ ông là Nguyễn Thị Kép trông nom các cháu. Khi những người còn lại trong gia đình vào Huế, Nguyễn Thị Thanh, con gái ông, ở lại làng với bà ngoại. Thanh đã trưởng thành nhưng chưa lấy chồng nên ở lại để giảm gánh nặng cho gia đình. Cung giúp đỡ việc nhà và vườn tược nhưng vẫn có thời gian vui chơi. Vào mùa hè, cậu cùng bạn câu cá trong ao làng, thả diều (nhiều năm sau, người làng vẫn kể lại rằng khi trời lặng gió các bạn của cậu đã chán còn Cung vẫn cố gắng giữ cho diều bay), và leo trèo trên những ngọn núi ở vùng lân cận. Ngọn núi đáng nhớ nhất là núi Chung trên đỉnh có đền thờ Nguyến Đức Dụ là vị tướng vào thế kỷ thứ mười ba đã chiến đấu chống quân Nguyên xâm lược. Cũng chính tại đây, nhà Nho yêu nước Vương Thúc Mẫu đã chiêu mộ một nhóm người nổi dậy vào năm 1885 chiến đấu dưới ngọn cờ phòng trào Cần Vương. Chính tại đây, ông Sắc đã thấy niềm ham học của mình, từ đỉnh núi Chung, người ta có thể thấy được cảnh ngoạn mục những đồng lúa, những rặng tre và những cây cọ, và một dãy núi xanh thẫm dọc hướng tây. Trong thời niên thiếu đầy hạnh phúc của cậu bé Cung chỉ có một thời gian buồn. Em trai Xin của cậu ốm và mất khi tròn một tuổi.

    Trở lại Huế, Nguyễn Sinh Sắc thi lại kỳ thi hội và lần này ông đã đỗ tiến sĩ, loại hai (tiếng Việt gọi là phó bảng). Tin ông đỗ phó bảng đã gây xôn xao ở làng Hoàng Trù và Kim Liên quê ông. Người ta kể rằng kể từ giữa thế kỷ 17, các làng trong vùng đã có gần hai trăm người có học vị cử nhân và thạc sĩ nhưng ông là người đầu tiên đỗ phó bảng. Khi ông về làng Hoàng Trù, dân làng đã có kế hoạch tổ chức lễ rước nhưng ông, rõ ràng là không thích sự phô trương và lễ nghi, một lần nữa đã từ chối vinh hạnh đó. Mặc dù ông không đồng ý, dân làng đã tổ chức một bữa tiệc lớn để ăn mừng sự kiện này. Tuy nhiên, theo ông đề nghị, một số thức ăn đã được phân phát cho người nghèo.

    Theo phong tục, vinh hạnh được thí sinh thi đỗ là thuộc về làng là quê hương của người cha. Và tất nhiên Sắc cũng vậy, điều này có nghĩa là làng được coi là “đất văn vật, chốn thi thư”, chính là làng Kim Liên, nơi bố ông sinh ra chứ không phải là làng Hoàng Trù là nơi ông sống. Để thưởng cho người con của làng, chức sắc làng Kim Liên đã dùng tiền công dựng một ngôi nhà gỗ mái lá nhỏ trên mảnh đất của làng và mời ông tới sống ở đó. Sắc đồng ý và sống trong ngôi nhà mới và dành cho mình cùng ba người con còn lại. Ngôi nhà rộng hơn ngôi nhà của ông ở làng Hoàng Trù một chút có ba gian trong đó một gian làm chuồng trâu và một gian nhỏ đặt bàn thờ bà Hoàng Thị Loan. Ngoài ngôi nhà ra, Sắc còn được vài mẫu ruộng và một mình mảnh vườn nhỏ trồng khoai lang.

    Trong xã hội Việt Nam xưa, học vị phó bảng là một vinh dự lớn đem lại danh tiếng may mắn và thường là sự nghiệp quan trường. Tuy nhiên, Nguyễn Sinh Sắc không hề muốn ra làm quan, đặc biệt trong lúc nước nhà bị ô nhục. Từ chối làm quan trong triều với lý do đang để tang vợ, ông Sắc quyết định ở lại Kim Liên mở một lớp học nhỏ dạy kinh thư. Tiền dạy học đã ít ông Sắc còn gặp khó khăn hơn vì thường giúp những người nghèo trong làng. Tuy nhiên ông Sắc đã đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy hay “ sinh để huy hoàng” cho phù hợp với đại vị mới của mình.

    Lên 11 tuổi, khi Cung chớm tuổi thanh niên, ông Sắc đã có một quyết định rất quan trọng đối với cuộc đời cậu. Theo phong tục của xã hội Việt Nam, để dánh dấu sự kiện này, cha cậu đã đặt cho cậu tên mới là Nguyễn Tất Thành, hay “ người sẽ thành đạt” ghi trong sổ sách của làng. Lúc đầu cậu bé tiếp tục học với cha nhưng sau đó được gửi tới học tại lớp học của bạn của cha cậu là Vương Thúc Quý, con trai nhà Nho Vương Thúc Mẫu là người đã nhảy xuống ao tự vẫn để khỏi bị giặc Pháp bắt. Cũng là một người đỗ đạt giống như ông Sắc, ông Quý đã từ chối không ra làm quan và dạy học ở làng và bí mật tham gia các hoạt động lật đổ chính quyền bù nhìn Huế. Khi dạy học trò, ông phản đối cách dạy mô phạm truyền thống bắt học trò phải học thuộc lòng sách vở, thay vào đó rất quan tâm hướng học trò vào tính nhân đạo cốt lõi của kinh thư đồng thời khắc sâu trong óc các học trò tinh thần yêu nước nồng nàn đối với sự sống còn của nước Việt Nam độc lập. Để soi sáng thông điệp của mình trong tâm hồn các học trò, trước khi bắt đầu mỗi bài học ông thường thắp ngọn đèn trên bàn thờ cha kê dọc trên tường lớp học.

    Nguyễn Tất Thành trưởng thành dưới sự dạy dỗ của người thầy mới, viết những bài luận yêu nước dưới sự hướng dẫn của ông Quý và giúp những người thường tới lớp giảng bài về những chủ đề khác nhau. Thật không may là việc này không kéo dài được lâu, ông Quý đóng cửa lớp học và rời làng tham gia hoạt động nổi dậy. Thành đã theo học một thầy giáo khác ở làng bên trong một thời gian ngắn tuy nhiên cách dậy của thầy giáo mới quá cổ hủ đối với Thành và chàng thanh niên đã quyết định trở lại học với cha là người có thái độ vị tha hơn trong việc dạy học. Cũng như Vương Thúc Quý, ông Sắc phê phán lối học vẹt và cho rằng học một bài “ cành và lá” là một việc vô ích xa rời thực tế. Ông khuyên học trò không nên chỉ bước trên con đường quan trường mà cố gắng hiểu những điều cốt lõi trong kinh thư để giúp đỡ đồng bào. Sắc đã nói với một người bạn, “ tại sao tôi phải bắt học trò của mình học thuộc bài chỉ để thi? Tôi sẽ không bao giờ dạy con mình cách đó.”

    Rõ ràng Thành rất thích quan điểm của cha mình, bởi vì Thành rất thích đọc những pho truyện nổi tiếng của Trung Hoa như Tam Quốc diễn nghĩa, một truyền thuyết về chủ nghĩa anh hùng trong thời kỳ hỗn loạn sau khi nhà Hán suy vong, Tây du ký (đôi khi được dịch sang tiếng Anh là Con khỉ), kể về nhà sư Đường Tăng trên đường qua Trung Á tới Ấn Độ đi trẩy kinh Phật. (Khi Thành học ở làng Dương Nỗ), một học trò lớn tuổi hơn được giao nhiệm vụ trông nom Thành thấy rằng cần phải buộc một sợi dây vào Thành để biết Thành ở đâu mỗi khi Thành có ý định bỏ ra ngoài chơi. Và thường thì lúc đó Thành đã học xong bài.)

    Nguyễn Tất Thành không chỉ học trong lớp. Nhà của cha Thành nằm cạnh một lò rèn của người thợ trong làng tên là Diễn là người đã dạy Thành cách sử dụng bễ rèn và thường cho cậu bắn chim. Sở thích kể chuyện của Diễn đã biến lò rèn thành một trong những nơi tụ họp quen thuộc trong vùng và thường vào buổi tối Thành cùng các thanh niên khác trong làng ngồi nghe Diễn kể chuyện về nhóm Cần Vương anh hùng địa phương đã thất bại trong việc đánh đuổi bọn hung tàn khỏi mảnh đất quê hương như thế nào. Cùng với những người khác, Thành được nghe về những chiến công hiển hách của những chiến sĩ đã hy sinh từ lâu như Lê Lợi và Mai Thúc Loan, những người đã chiến đấu bảo vệ quê hương chống quân xâm lược. Thành xúc động lắng nghe chuyện Vương Thúc Mẫu tự vẫn, và chuyện về người lãnh đạo phong trào Cần Vương Phan Đình Phùng đã chết vì bệnh lỵ vào năm 1895, đem lại kết thúc bi thảm cho phong trào khi quân của ông bị suy yếu phải lùi sâu vào núi dọc theo biên giới Lào. Thành cũng rất vui khi được biết một số người trong gia đình của cha mình đã chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cứu nước.

    Khi đó Thành bắt đầu mang trong mình chủ nghĩa yêu nước nồng nàn. Khi còn sống với cha mẹ ở Huế, Thành đã tham dự một lễ tưởng niệm liệt sĩ tại một đền gần nơi ông ở. Họ là những tử sĩ chiến đấu chống Pháp và cũng như những người khác Thành đã rơi nước mắt trước sự hy sinh của họ.

    Sau khi trở về làng vào năm 1901, Thành rất khó chịu khi phát hiện ra rằng hầu hết các cuốn sách cổ đang được sử dụng ở làng đều kể về lịch sử Trung Hoa thay vì lịch sử Việt Nam và quyết định đi bộ đến Vinh mua những cuốn sách nói về lịch sử đất nước mình. Khi thấy rằng những cuốn sách đó quá đắt, Thành đã cố ghi nhớ những nội dung chính để có thể kể lại cho bạn bè khi về làng.

    Mãi đến tận lúc đó, sự hiểu biết của Thành về người Pháp mới chỉ dừng lại ở sự quan sát người Pháp của một đứa trẻ con trên những đường phố Huế, những người thời đó sau này kể lại rằng Thành tò mò không hiểu tại sao thậm chí ngay cả những quan lại danh tiếng của Việt Nam đều phải cúi chào tất cả những người Châu Âu, đôi khi Thành và anh trai mải mê theo dõi công nhân xây dựng Pháp đang xây cầu sắt bắc qua sông Hương ngay phía đông thành. Thỉnh thoảng những người công nhân chơi đùa và cho các cậu bé kẹo khiến Thành hỏi mẹ tại sao lại có người nước ngoài lại thân thiện hơn so với những người khác. Tuy nhiên, khi trở về quê, Thành càng trở nên không thích người nước ngoài khi nghe thấy việc người Pháp đối xử tồi tệ với những người lao động làm thuê trên một con đường mới đang được xây dựng chạy vòng vèo từ phía tây qua các ngọn núi sang Lào. Trong khi Thành và anh trai là con của một người thuộc tầng lớp có học được miễn lao dịch trong các dự án thì nhiều dân làng khác đã không có được may mắn đó. Trong số đó, những người may mắn trở về nhà mang theo thương tật trên mình và thương tổn về tinh thần. Nhiều người khác sức khoẻ bị tàn phá bởi bệnh sốt rét, suy dinh dưỡng và làm việc quá sức đã không trở về. Mặc dù lao dịch thường áp dụng đối với những người nông dân vào thời kỳ tiền thực dân, nhưng những dự án như vậy thường có quy mô vừa và thời gian làm việc cũng không dài. Con đường sang Lào – với Việt Nam là “con đường chết” – đã trở thành nguyên nhân chính khiến nhân dân phản kháng chế độ thuộc địa mới.

    Một trong những người bạn thân thiết của Nguyễn Sinh Sắc là nhà nho yêu nước nổi tiếng Phan Bội Châu, ở một làng cách Kim Liên vài cây số. Cha của ông Châu là một tú tài, đối với Châu thì nỗi thống khổ của nước nhà còn quan trọng hơn hứa hẹn nơi quan trường. Khi còn trẻ, ông Châu đã lập một đội dân quân nhỏ gồm các thanh niên trong làng để tiếp bước cha anh chiến đấu chống quân Pháp xâm lược. Sau này ông Châu đã coi rằng mình bị lăng nhục khi quân Pháp tiến vào làng đàn áp phong trào buộc ông phải trốn vào rừng cùng những người khác.

    Sau đó, ông Châu tiếp tục học và vào năm 1900 ông đỗ giải nguyên trong kỳ thi hội. Giống như Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu cũng không muốn ra làm quan và ngay sau đó đã đi khắp các tỉnh miền trung đất nước chiêu mộ các sĩ phu cho phong trào liên kết chống lại triều đình phong kiến và chính phủ bảo hộ thực dân Pháp. Lúc này ông Châu bắt đầu đọc các tác phẩm của những người theo chủ nghĩa cải lương tiến bộ Trung Hoa như Kang Youwei và Liang QuiChao và tin rằng Việt Nam cần học phương Tây để tồn tại.

    Khi đi đó đây, Phan Bội Châu thường dừng lại ở làng Kim Liên để thăm Nguyễn Sinh Sắc và Vương Thúc Quý và cũng bàn thế sự. Với khả năng ăn nói lưu loát và tính tình niềm nở, ông Châu là một người ủng hộ sự nghiệp cứu nước đầy thuyết phục đã gây được ấn tượng đối với Thành. Thành thường mang nước mời khi ông Châu và ông Sắc cùng ngồi trên chiếc chiếu mây. Người thanh niên nhạy cảm này đã đọc một số bài viết yêu nước của ông Châu và khích lệ bởi tinh thần phản kháng cũng như sự coi thường truyền thống phong kiến và sự mục nát của triều đình Huế.

    Như nêu rõ trong các bài viết của mình, Phan Bội Châu cho rằng người Việt Nam cần xoá bỏ hệ thống cũ tồn tại qua hàng nghìn năm để áp dụng những thể chế và công nghệ mới của nước ngoài. Tuy nhiên, ông tin rằng chỉ có tầng lớp sĩ phu mới có thể lãnh đạo nhân dân tiến hành cải cách và , để nhận được sự ủng hộ của nhân dân, phong trào của ông phải đi theo con đường kỳ diệu của những thế kỷ trước. Kết quả là, đầu năm 1904, ông đã thành lập một tổ chức gọi là Duy Tân Hội nhằm thu hút sự ủng hộ của các sĩ phu yêu nước trên khắp đất nước, ông đã lựa chọn một người bất đồng chính kiến trong hoàng tộc nhà Nguyễn, hoàng tử Cường Để, làm người lãnh đạo trên danh nghĩa của hội với mục tiêu đánh đuổi giặc Pháp, và thành lập nền quân chủ lập hiến.

    Giống như những nhân vật tiến bộ đương thời ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã tìm được một mô hình cho chương trình của mình tại Nhật Bản nơi các thành phần theo chủ nghĩa cải lương thuộc tầng lớp quý tộc tập hợp xung quanh Nhật hoàng Minh Trị với mục đích thúc đẩy cải cách xã hội truyền thống Nhật Bản. Giống như nhiều người Việt Nam khác, ông thán phục thành công của quân đội Nhật trong cuộc chiến vừa diễn ra với quân Sa hoàng Nga, coi đó là bằng chứng của việc người châu Á có khả năng đánh bại xâm lược phương Tây. Ông Châu tin rằng Việt Nam có thể yêu cầu hỗ trợ từ bên ngoài để biến kế hoạch của mình thành hiện thực. Đến cuối năm 1904, ông tới Nhật Bản và thành lập một trường học ở Y–a–ha–ma để đào tạo những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trong tương lai. Mùa hè năm sau, ông trở về Huế bắt đầu chiêu mộ người trên khắp đất nước.

    Ngay sau khi trở về Việt Nam, Phan Bội Châu đã tới làng Kim Liên và đề nghị Nguyễn Tất Thành và anh trai tham gia phong trào Đông Du của mình. Tuy nhiên, Thành đã từ chối lời đề nghị đó. Theo một số tài liệu, Thành quyết định như vậy vì cho rằng dựa vào người Nhật Bản để đuổi người Pháp tương đương với việc “đuổi hổ cửa trước trong khi rước sói cửa sau”. Một số tài liệu khác thì cho rằng quyết định đó chính là của cha Thành. Trong tự thuật của mình, được viết với bút danh Hồ Chí Minh sau này đã giải thích rằng ông rất muốn tới Pháp để tìm hiểu tận nguồn bí quyết thành công của phương Tây.

    Thành quyết định từ chối lời đề nghị của Phan Bội Châu có thể là do một trong những lời giải thích của ông Châu. Khi Thành hỏi làm thế nào mà Nhật Bản có được sự thành công về công nghệ, ông Châu đáp lại là người Nhật bản đã học hỏi phương Tây. Ngay sau đó, Thành nói với cha rằng mình muốn học tiếng Pháp. Ônh Sắc lúc đó chần chừ không muốn vì lúc đó chỉ có những người Việt Nam cộng tác với Pháp mới phải lo học tiếng nước ngoài. Nhưng bản thân ông Sắc cũng bắt đầu hiểu sơ qua văn hoá phương Tây khi ông tham gia một câu lạc bộ bạn đọc và đọc những bài viết của các tác giả là những trí thức Trung Hoa theo chủ nghĩa cải lương tìm cách thuyết phục triều đình nhà Thanh thay đổi đường lối nên cuối cùng ông đã bị thuyết phục bởi lập luận của con trai.

    Lúc đầu, Thành có rất ít cơ hội để thực hiện mục tiêu mới của mình. Mùa hè năm 1905, Thành bắt đầu học tiếng Pháp và văn hoá Pháp dưới sự giúp đỡ của một trong những người bạn của cha cũng là nhà nho ở làng Kim Liên. Sau đó vào tháng chín, ông Sắc đã cho cả hai con theo học trường dự bị Pháp – Việt ở Vinh. Theo đề nghị của toàn quyền Pôn Đu-me, chính quyền Pháp đã quyết định cho thành lập các trường dự bị sơ cấp dạy tiếng Pháp và văn hoá Pháp tại tất cả các tỉnh miền trung Việt Nam. Mục tiêu của Đu-me là thu hút các học sinh từ trường dạy kinh thư để tạo nguồn cho việc tuyển dụng nhân lực sau này do chính quyền thuộc địa mới; các quỹ học bổng dành cho những học sinh khó khăn đã được thành lập. Tuy Nguyễn Sinh Sắc đã cố cống hiến toàn bộ sự nghiệp của mình cho nền giáo dục truyền thống, ông lại bắt đầu tin rằng thế hệ trẻ cần phải thích nghi với thực tế mới và cần học những người chủ mới của đất nước. Ông thường trích lời nho sĩ của thế kỷ 15, Nguyễn Trãi là người đã từng cho rằng để chiến thắng kẻ thù cần phảỉ hiểu kẻ thù. Trong năm học sau đó, Thành và anh trai lần đầu tiên được thực sự làm quen với tiếng Pháp và văn hoá Pháp. Họ cũng bắt đầu học chữ quốc ngữ, là ngôn ngữ nói Việt Nam chuyển sang hệ chữ La-tinh, được các nhà truyền giáo dòng chúa cứu thế sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ 17 và được các sĩ phu tiến bộ truyền bá nhằm thay thế chữ Hán rắc rối đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ.

    Từ năm 1901, khi giành được học vị phó bảng, Nguyễn Sinh Sắc đã từ chối kiên quyết không ra làm quan với lý do sức khoẻ không tốt và nặng gánh gia đình, tuy nhiên khi một lần nữa được triệu vào triều vào tháng 5 năm 1906, ông thấy không thể từ chối được nữa nên đã nhận lời. Để người con gái trông nom ngôi nhà ở Kim Liên, ông Sắc trở lại kinh thành cùng với hai con trai vào tháng 6. Lần này họ lại đi bộ nhưng chắc thuận lợi hơn sơ với lần trước bởi hai cậu bé giờ đã đến tuổi trưởng thành. Trên đường đi, Sắc kể những câu chuyện về Nguyễn Trãi và các nhân vật lịch sử nổi tiếng khác trong khi Thành đố anh trai tên của những vị vua Việt Nam.

    Kinh thành đã thay đổi khá nhiều so với trước. Cung đình, với những tường thành cao màu xám và cột cờ lớn, vẫn sừng sững nằm trên bờ bắc sông Hương êm đềm chảy dọc dưới nước từ những rặng núi trên dãy Trường Sơn ở phía Tây. Trên những thuyền tam bản dọc sông, những cô gái làng chơi với mái tóc đen bồng bềnh làm người Việt Nam say đắm chào mời khách trên bờ sông. Tuy nhiên, cũng có một số thay đổi dễ nhận thấy. Một cơn bão lớn, thảm hoạ thường xảy ra, đã đổ vào toàn bộ khu vực duyên hải miền trung mùa hè hai năm trước, phá huỷ cây cối để lại những vũng nước đầy rêu bên hai bờ sông. Dọc theo bờ Nam, ngang qua dòng sông phía kinh thành, những cửa hàng không có gì đặc biệt trong khu thương mại cổ của thành phố đã nhanh chóng được thay thế bởi những ngôi nhà kiểu châu Âu được quét vôi trắng là nơi đặt văn phòng của cố vấn Pháp.

    Khi họ tới Huế, ông Sắc và hai con trai sống một thời gian ngắn tại nhà của một người bạn nhưng sau đó được phân một căn phòng nhỏ ở gần cổng chợ Đông Ba ở nam kinh thành. Ngôi nhà được dựng bằng gỗ có lợp ngói từng là trại lính, nay là nơi của các quan nhỏ trong triều. Phòng của ông Sắc nhỏ chỉ vừa đủ kê một chiếc bàn và một cái giường. Căn phòng không có bếp riêng và nước máy do đó những người trong gia đình phải đi lấy nước giếng hoặc nước kênh gần kề ngay bên ngoài cổng chợ Đông Ba. Họ ăn uống đạm bạc, bữa ăn chủ yếu gồm cá kho mặn, rau, muối vừng và gạo rẻ tiền. Công việc nấu nướng do Thành làm là chủ yếu. Mặc dù điều kiện ở đây tốt hơn nhiều so với phần lớn đồng bào của họ ở nông thôn nhưng rõ ràng điều kiện ăn ở của họ thật sơ sài so với những quan lại giàu có trong triều.

    Ngay sau khi tới Huế, ông Sắc đã nói chuyện với người đỡ đầu của mình là Cao Xuân Dục, một vị quan làm việc tại Viện Lịch sử và là người đã giúp đỡ ông trong lần đầu sống ở kinh thành. Nhờ sự can thiệp này tại triều đình, ông Sắc được bổ nhiệm làm thanh tra tại Bộ Lễ có trách nhiệm giám sát sinh viên trong Quốc Tử Giám. Đó không phải là vị trí có uy tín đặc biệt cho một người có bằng cấp như ông bởi phần lớn các phó bảng khoa 1901 đều đã được thăng tiến trở thành quan huyện hoặc các chức quan khác cao hơn trong triều. Tuy nhiên việc Nguyễn Sinh Sắc từ lâu đã từ chối ra làm quan khiến cho triều đình chú ý và có lẽ đã tạo ra sự nghi ngờ về lòng trung thành của ông đối với triều đình.

    Thế nào chăng nữa, thời gian làm việc trong triều rõ ràng là quãng đời rất khó chịu đối với ông Sắc. Ông bắt đầu không thoải mái đối với nghĩa vụ phục vụ nền quân chủ bù nhìn trong tay kẻ thống trị nước ngoài. Ông băn khoăn về ý nghĩa đương thời của câu nói truyền thống “trung quân ái quốc”? Ông bắt đầu trao đổi với bạn bè về sự cần thiết phải cách tân hệ thống cũ theo ông đã ngày càng trở nên mục nát và không thích hợp, ông khuyên các sinh viên không nên mưu cầu quan trường. Quan lại, theo ông, tồn tại chỉ để bức dân lành.

    Nỗi thất vọng của Nguyễn Sinh Sắc về sự suy đồi của chế độ cũ rất có cơ sở. Mô hình hành chính Nho giáo luôn dựa vào đạo lý như là phương tiện để duy trì năng lực và sự liêm chính của các quan lại được tuyển chọn qua hệ thống thi cử. Trên lý thuyết, các quan địa phương, được thấm nhuần từ thời thơ ấu về một hệ thống các giá trị đạo đức xã hội dựa trên sự cống hiến cho cộng đồng, sự chính trực cá nhân và lòng nhân đức phải tuân theo những nguyên tắc này trong việc sử dụng quyền lực của mình với các đối tượng thuộc trách nhiệm của mình. Khuynh hướng ngạo mạn và tư lợi của quan lại có thể được khống chế bởi những hành động của người trị vì đầy nghị lực và nhân đức ở vị trí tối cao trong chế độ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, sự suy yếu của triều đình đã dẫn tới sự tan rã thật sự của các thể chế Nho giáo trong xã hội Việt Nam cũng như tới uy tín và quyền lực của nhà vua. Thiếu sự chỉ đạo từ Huế, quan lại dễ dàng lạm dụng quyền hạn của mình mà vơ vét cho đầy túi, hay làm lợi cho bạn bè và người thân. Đất công dành cho gia đình nghèo giờ đây bị những người giầu chiếm và những người này thường được miễn giảm tô hằng năm. Ông Sắc không phải là Nho sĩ duy nhất không tuân lệnh triều đình. Lúc đó tiếng nói của vị quan trong triều Phan Châu Trinh lần đầu tiên được nhân dân biết tới. Ông Trinh đỗ phó bảng cùng năm với Nguyễn Sinh Sắc. Sinh tại tỉnh Quảng Nam năm 1872, ông Trinh là con út trong số ba người con trong gia đình. Cha ông là một quan võ đã từng thi trượt. Tin rằng con đường cũ là vô dụng, cha ông đã đứng trong đội ngũ phong trào Cần Vương nhưng sau đó ông bị nghi là phản bội và bị những người nổi dậy hành quyết. Bản thân ông Trinh từng làm việc tại Bộ Lễ vào năm 1903, nhưng ông đã rất khó chịu về tệ tham nhũng và thiếu năng lực của quan lại triều đình và các quan nắm quyền hành ở nông thôn. Ông công khai nêu vấn đề này trước sinh viên đang chuẩn bị cho kỳ thi hội năm 1904. Ông bắt đầu nghiên cứu các bài viết của các nhà cải lương Trung Hoa và năm 1905 ông từ chức để đi khắp đất nước trao đổi với các sĩ phu về các hoạt động tương lai.

    Cuối cùng ông Trinh gặp Phan Bội Châu ở Hồng Kông và cùng ông Châu tới Nhật Bản, ông Trinh ủng hộ lỗ lực của Châu trong việc đào tạo một thế hệ mới những trí thức Việt Nam nhằm cứu nước khỏi hoạ diệt vong nhưng không tán thành quyết định của ông Châu dựa vào sự ủng hộ của một thành viên triều đình. Theo ông Trinh, có lý hơn khi hợp tác với người Pháp với hy vọng họ sẽ tiến hành cách tân để thay đổi xã hội Việt Nam. Tháng tám năm 1906 ông viết một bức thư gửi toàn quyền Pôn-Be nói về những điều ông cho là “ tình hình đặc biệt nguy cấp” của đất nước.

    Trong thư, ông Trinh thừa nhận rằng sự có mặt của người Pháp đã mang lại một số lợi ích cho nhân dân Việt Nam bao gồm giai đoạn phát triển đầu tiên hệ thống giao thông liên lạc hiện đại. Tuy Nhiên, ông cho rằng dung túng bộ máy quan liêu triều đình ở miền trung Việt Nam, chính quyền thuộc địa đã duy trì bộ máy tham nhũng mục nát và làm phức tạp thêm tình hình bởi việc đổi xử trịch thượng và khinh miệt đối với nhân dân Việt Nam do đó làm nảy sinh thái độ thù địch trong dân chúng. Ông Trinh đề nghị Toàn quyền Pôn-Be cách tân hệ thống pháp luật và giáo dục để phá bỏ chế độ cũ và đưa vào các thể chế chính trị hiện đại cũng như khái niệm dân chủ phương Tây. Nếu làm được như vậy, nhân dân Việt Nam sẽ biết ơn ông mãi mãi.

    “ Với nỗi đau từ đáy lòng và bởi không có ai tôi có thể thẳng thắn bày tỏ nên tôi quyết định mượn ngòi bút bày tỏ thẳng thắn những suy nghĩ của tôi. Nếu chính phủ Pháp thực sự muốn đối xử với nhân dân An Nam tự do hơn, chính phủ Pháp phải chấp thuận sáng kiến và lời khuyên của tôi. Chính phủ pháp sẽ mời tôi trình bày trước các đại diện của chính phủ về vấn đề này một cách tự do. Và khi ngày đó tới, tôi sẽ cởi mở hết mình. Tôi sẽ cho họ biết chúng tôi phải chịu đựng những gì và cần những gì. Tôi mạnh dạn hy vọng rằng điều đó sẽ đánh dấu nhận thức mới cũng như sự hồi sinh của dân tộc tôi”.

    Lá thư của Phan Bội Châu đã gây chấn động trong giới trí thức trên khắp đất nước ở những nơi mà nỗi bất bình đối với nhà cầm quyền thuộc địa đang lớn mạnh. Sau tấm mặt nạ “sứ mệnh truyền bá văn minh”, người Pháp với nỗ lực khai thác các nguồn tài nguyên kinh tế ở Đông Dương và truyền bá cách thức ngoại lai đã gây ra sự bất bình trong mọi tầng lớp xã hội Việt Nam. Các quan lại là những sĩ phu tức giận vì việc người pháp chỉ trích các thể chế Nho giáo. Những người nông dân nổi giận vì thuế khoá mới đánh vào rượu, muối và thuốc phiện mà chính quyền Pháp áp đặt như một phương tiện để biến Đông Dương trở thành một xí nghiệp tự cung tự cấp. Thuế đánh vào rượu rất nặng, và người Việt Nam bị cấm cất rượu từ gạo sử dụng trong các dịp lễ Tết trong gia đình qua hàng thế kỷ bây giờ phải mua các loại rượu vang đắt tiền từ Pháp. Đối với những người nông dân phải rời làng quê đi kiếm việc làm ở những nơi khác, môi trường mới thường không đem lại kết quả tốt hơn. Điều kiện trong các đồn điền cao su ở Nam Bộ rất khắc nghiệt và công nhân ở đó thường bị ốm và chết. Mặc dù việc tuyển công nhân dựa trên nguyên tắc tự nguyện nhưng trên thực tế công nhân thường bị cưỡng bức tuyển dụng. Tình hình của những người công nhân làm việc trong nhà máy hay tại các mỏ than cũng chẳng tốt hơn vì lương thấp, thời gian làm việc dài và điều kiện sống thì cùng cực.

    Mặc dù vậy Phan Châu Trinh vẫn hy vọng rằng người Pháp sẽ thực hiện trách nhiệm truyền bá văn minh cho Đông Dương. Ông không phải là người duy nhất tìm kiếm câu trả lời từ phương Tây về nỗi thống khổ của đất nước mình. Đầu năm 1907, một nhóm những người trí thức tiến bộ ở Hà Nội thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục theo khuôn mẫu của một trường mới được nhà cách tân Phu-cu-da-oa U-ki-chi thành lập ở Nhật Bản. Trường là một thể chế độc lập với mục tiêu khuếch trương tiến bộ phương Tây và tư tưởng của Trung Hoa trong thế hệ người Việt Nam sau này. Vào giữa hè năm đó, trường đã có hơn 40 lớp học và 1.000 sinh viên. Cũng trong lúc đó Phan Bội Châu tiếp tục hoạt động tích cực tại Nhật Bản, thu hút thanh niên Việt Nam đến với chương trình đào tạo của mình và viết những cuốn sách nhỏ gửi về Đông Dương nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân. Trong số đó có cuốn Việt Nam vong quốc sử. Thật trớ trêu cuốn sách lại được viết bằng chữ Hán.

    Trong một vài tháng, các hoạt động của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục không hề bị quan chức Pháp ở Bắc Bộ để ý nhưng sau đó họ bắt đầu nghi ngờ rằng mục tiêu của trường không chỉ là giáo dục và buộc trường phải đóng cửa vào tháng 12. Tuy nhiên, người Pháp đã không làn gì để làm lắng xuống cuộc tranh luận sôi nổi giữa những người Việt Nam về việc bảo đảm sự tồn tại của đất nước. Bản thân Nguyễn Sinh Sắc cũng rất tức giận, khi ông nhận xét về một bài giảng tại Quốc Tử Giám rằng làm việc cho triều đình là hình thức nô lệ tồi tệ nhất – quan lại chẳng là gì ngoài những kẻ nô lệ làm việc theo mệnh lệnh của một xã hội nô lệ. Tuy nhiên, ông Sắc thấy khó đưa ra một giải pháp. Nhiều năm sau, Hồ Chí Minh nhớ lại rằng cha ông thường hỏi đi hỏi lại rằng nơi nào người Việt Nam có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ nước nào – Anh, Nhật Bản, hay Hoa Kỳ.

    Ngay sau khi trở về Huế, theo lời khuyên của Cao Xuân Dục, ông Sắc đã cho hai con trai theo học trường tiểu học cấp hai thuộc hệ thống giáo dục Pháp-Việt mới nằm ngay bên ngoài thành trước cổng chợ Đông Ba. Trường trước đây là một phần của cái chợ nằm choán hết khu vực nhưng sau khi chợ được chuyển tới một địa điểm khác vào năm 1899 thì toàn bộ ngôi nhà được sử dụng làm trường học. Trường có năm phòng, bốn phòng được sử dụng làm lớp học và phòng còn lại làm văn phòng. Thực ra, Thành không có giấy chứng nhận để được theo học tại trường vì Thành chưa được giáo dục theo kiểu phương Tây, tuy nhiên vì Thành được thầy giáo ở làng Kim Liên dạy một ít tiếng Pháp và đã thể hiện rất tốt trong cuộc phỏng vấn nên đã được nhận vào học như một học sinh lớp đầu. Rõ ràng vốn tiếng Pháp của Thành chưa đủ để đọc những từ nổi tiếng của Cách mạng Pháp: Tự do, bỉnh đẳng, bác ái được ghi trên chiếc biển gắn trên tường trước cổng trường.

    Lớp học trong trường được dạy bằng ba thứ tiếng: Việt Nam, Pháp và chữ Hán. Lên các lớp cao hơn thì tiếng Hán được sử dụng ít hơn. Một số người bảo thủ đã phản đối việc hạn chế vai trò tiếng Hán nhưng Thành và cha có lẽ rất vui lòng với quyết định đó. Thầy dạy tiếng Pháp của Thành ở Kim Liên đã khuyên Thành: “ Nếu trò muốn đánh bại người Pháp thì trò phải hiểu họ. Để hiểu người Pháp, trò phải học tiếng Pháp”.

    Với đôi guốc mộc, quần áo nâu và mái tóc dài, rõ ràng Thành là hình ảnh của một người nông dân trong con mắt các bạn học – nhiều người trong số họ mặc áo the truyền thống, quần học sinh hoặc mặc đồng phục kiểu phương Tây bán tại trường – nên Thành đã nhanh chóng quyết định cắt kiểu tóc ngắn hợp thời và mặc quần áo giống như các bạn để khỏi bị chế nhạo. Thành cũng thay cái nón nông dân làm bằng lá gồi. Nhiều năm sau, một người bạn kể lại rằng Thành học rất chăm chỉ và rất ít đi chơi. Thành đã xin phép được làm bài tập sau mỗi buổi học tại nhà một thầy giáo và ôn bài cùng các bạn vào buổi tối. Một trong những người bạn của Thành kể lại rằng Thành thường nói với những bạn bắt đầu nản lòng trong học tập rằng “Chỉ có khổ học mới thành công”. Thành học tiếp Pháp rất chăm chỉ, luyện âm với các bạn và viết những từ tiếng Pháp và tiếng Hán tương đương với những từ trong tiếng Việt vào vở. Học hành chăm chỉ đã được đền bù, chỉ một năm Thành đã hoàn thành khoá học hai năm.

    Mùa thu năm 1907, Thành và anh trai đã thi đỗ và theo học trường Quốc học, là cấp cao nhất trong hệ thống trường Pháp-Việt tại Huế. Trường được thành lập theo chiếu chỉ của Vua Thành Thái năm 1896 và được đặt dưới quyền của toàn quyền Pháp ở miền trung Việt Nam. Trường có bảy cấp học, bốn cấp đầu quan trọng, và kết thúc ở cấp cuối cùng dành cho các học sinh cấp cao. Triều đình hy vọng việc thành lập trường có thể thay thế được Quốc Tử Giám cũng như để tạo ra nguồn nhân lực được đào tạo theo phương Tây cho triều đình do đó chương trình học tập được tập trung vào văn hoá Pháp và tiếng Pháp, những người dân địa phương đã đặt cho trường cái tên “ trường địa đàng”.

    Trường nằm trên bờ nam sông Hương, từ cổng chính tới bên trong Hoàng cung, với điều điện sống và học tập không tương xứng với thanh danh của mình. Toà nhà chính, trước đây từng làm trại lính, đã bị hư hại, có mái được lợp bằng rơm rạ và dột khi mưa. Toà nhà này có một vài lớp học, một giảng đường lớn và một văn phòng. Xung quanh toà nhà có một vài túp lều tranh. Đường vào trường nằm trên đại lộ Giuyn Phe-re, là một con đường lớn chạy dọc theo bờ sông vào thành. Trường có nét đặc trưng là vòm cổng hai tầng kiểu Trung Hoa và tên trường được khắc bằng chữ Hán.

    Hoàn cảnh của các học sinh trong trường rất khác nhau. Một số giống như Thành và anh trai, là các học sinh được cấp học bổng phải đi bộ tới trường. Một số khác là con cái trong gia đình giàu có thì nội trú tại trường hoặc tới trường vào buổi sáng bằng xe ngựa. Theo truyền thống thời đó, học sinh bị đối xử rất nghiêm khắc đôi khi còn tàn nhẫn. Hiệu trưởng đầu tiên là một doanh nhân tên là Nóc-đê-man. Ông đã lấy vợ Việt Nam và nói tiếng Việt. Người kế nhiệm tên là Lô-gi-u từng là lính lê dương Pháp.

    Mặc dù nhiều năm sau, Thành thường phàn nàn nhiều điều về trường cũng như về hành vi đối xử tàn nhẫn của một số giáo viên nhưng Thành vẫn tiếp tục chăm chỉ học hành và có tiến bộ trong học tập. Thành học lịch sử, địa lý, văn học và khoa học trong khi tiếp tục nâng cao trình độ tiếng Pháp. Các bạn học của Thành thường kể lại rằng Thành luôn ngồi cuối lớp và thường không để ý tới gì xảy ra trong lớp. Nhưng Thành cũng nổi tiếng là người hay đặt câu hỏi trong lớp và giỏi ngoại ngữ nên được hầu hết các giáo viên yêu quý. Các bạn học cũng kể lại rằng một số câu hỏi của Thành rất khiêu khích vì Thành muốn tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của các tác phẩm của các nhà triết học thời phục hưng Pháp. Một trong những thầy giáo mà Thành yêu thích là Lê Văn Miên, mới tốt nghiệp trường Mỹ nghệ tại Pa-ri. Mặc dù Miên thường hay chỉ trích chính sách của chính quyền thuộc địa, sự hiểu biết của ông về văn hoá Pháp đã khiến cho ông có được tiếng tốt đối với người Pháp sống ở kinh thành và giúp ông không bị chính quyền khiển trách. Miên kể cho các học sinh tại trường Quốc học rằng những người Pháp ở chính quốc xử sự nhã nhặn hơn so với người Pháp ở Đông Dương và ông đã khiến cho Thành rất thích thú bởi những câu chuyện về thành phố Pa-ri vĩ đại với những thư viện và bảo tàng cùng với những cuốn sách viết về nhiều lĩnh vực mà bất kỳ ai cũng có thể tự do đọc. Những câu chuyện của Miên đã khích lệ người thanh niên đạt nhiều thành tích hơn và khiến cho Thành được một trong những thầy giáo ngợi khen là “một học sinh thông minh và thực sự xuất sắc”.

    Tuy nhiên, tính bộc tuệch và phong thái nông dân của Thành đã gây ra một số vấn đề với các bạn thời(?) lưu thường giễu cợt Thành là anh chàng thộn vì giọng nói nặng tiếng địa phương. Lúc đầu Thành không phản ứng lại nhưng trong một lần mất bình tĩnh Thành đã đánh một người trêu ghẹo mình. Một giáo viên đã trách Thành mất bình tĩnh và khuyên Thành tập trung vào những mục đích có ích hơn như nghiên cứu các vấn đề quốc tế. Đúng ra Thành cũng đã quan tâm nhiều hơn đến chính trị và sau mỗi buổi học Thành thường lui tới bờ sông nơi những đám đông tụ tập tranh luận về những tin tức mới nhất về Phan Bội Châu và cùng nhau đọc thơ “Á Tế Á” của ông Châu ngợi ca một châu Á không có sự thống trị của người da trắng và kêu gọi người đọc tranh đấu vì độc lập dân tộc.

    Nguồn chính khơi dậy lòng yêu nước của Thành là thầy Hoàng Thông dạy tiếng Hán, người có quan điểm chống Pháp nổi tiếng trong trường. Ông Thông nói với các học sinh trong lớp rằng họa mất nước còn tồi tệ hơn hoạ mất gia đình bởi khi mất nước thì toàn bộ giống nòi sẽ bị tuyệt duyệt. Thành đã đến chơi nhà ông Thông và say sưa đọc những cuốn sách trong tủ sách trong đó có tuyển tập các tác phẩm của những tác giả là nhà cải lương người Pháp, Trung Hoa và Việt Nam. Theo một số tài liệu, Hoàng Thông đã tham gia các hoạt động chính trị bí mật và đã thiết lập mối quan hệ giữa Thành và nhóm kháng chiến chống triều đình và chính quyền thuộc địa Pháp.

    Mặc dù mức độ tham gia của Thành vào các hoạt động đó không thể xác định được nhưng rõ ràng Thành đã ngày càng chỉ trích nhà cầm quyền. Trong một số dịp, Thành đã công khai trước đám đông học sinh trong sân trường chỉ trích thái độ hèn hạ của triều đình và đòi giảm các loại thuế nông nghiệp quá nặng đối với nông dân. Khi một học sinh kể lại hành động của Thành cho nhà chức trách, Thành đã bị gọi lên văn phòng của giám thị và bị khiển trách.

    Mùa thu năm 1907, tình hình chính trị ngày càng trở nên căng thẳng. Vua Thành Thái, được người Pháp đưa lên ngôi từ năm 1889, buộc phải thoái vị vì bị nghi ngờ có dính líu đến các hoạt động phiến loạn. Tuy nhiên, trong thành đã có những tin đồn rằng người kế vị mới tám tuổi của ông là vua Duy Tân còn có tư tưởng chống Pháp mạnh hơn. Mặc dù tuổi nhỏ, để thể hiện quyết tâm cách tân đất nước nhà vua đã chọn niên hiệu trong tiếng Việt nghĩa là “hiện đại hóa”, một cử chỉ như để tuyên bố quan hệ gắn bó về tinh thần của ông với Vua Minh Trị của Nhật Bản.

    Tuy nhiên đối với nhiều người Việt Nam tiến bộ, đã quá muộn không thể gắn triều đình với các hoạt động yêu nước. Nguyễn Quyến, sĩ phu Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đã viết một bài thơ kêu gọi tất cả những người Việt Nam cắt tóc để biểu thị phản đối chế độ phong kiến cũ (lúc đó, nhiều người Việt Nam búi tóc, như vẫn thường làm nhiều thế kỷ trước). Thành lúc này bỏ học cùng bạn bè đi khắp các đám đông cắt tóc cho những người qua đường cho dù có nhiều người chẳng yêu cầu gì cả. Nhiều năm sau, Hồ Chí Minh vẫn nhớ bài ca của họ:

    Lược bên tay trái

    Kéo bên tay phải

    Cắt! Cắt!

    Cắt bỏ sự ngu dốt

    Bỏ đi sự đần độn

    Cắt! Cắt!

    Rõ ràng những hành động như vậy đã khiến nhà chức trách Pháp lo lắng, dẫn tới việc chính quyền ở Bắc Kỳ quyết định ra lệnh đóng cửa Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

    Cho tới lúc này, hầu hết bất mãn chủ yếu nảy sinh trong giới trí thức. Trong những tháng đầu năm 1908 thái độ bất mãn đã lan rộng sang khu vực nông thôn, nơi những người nông dân các tỉnh duyên hải miền Trung bắt đầu lên tiếng bất bình đối với việc tăng thuế, luật lao dịch và nạn tham nhũng của quan lại. Trong lá thư gửi cho Pôn Be, Phan Chu Trinh cảnh báo rằng quần chúng nhân dân bị quan lại địa phương chèn ép sách nhiễu đã phải sống trong “nỗi thống khổ”. Ở một số vùng duyên hải, lao dịch đặc biệt hà khắc, chẳng hạn những người nông dân phải dành nhiều thời gian nạo vét cát ở các bến cảng sau khi bão tan. Vào giữa tháng 3, một đám đông đã tụ tập tại huyện đường của một viên quan huyện ở tỉnh Quảng Nam sau đó kéo tới thủ phủ Hội An từng là một cảng biển phát triển cách Đà Nẵng vài dặm về phía nam. Phong trào phản kháng nhận được sự ủng hộ tích cực của những trí thức là những người bắt đầu mở trường học và các cơ sở thương mại trên khắp miền Trung Việt Nam nhằm trang bị kiến thức mới cho giới trẻ và để huy động tài chính cho các hoạt động của mình. Lúc này họ bắt đầu kêu gọi nông dân không đóng thuế cho nhà cầm quyền.

    Sau khi tin tức về cuộc biểu tình đầu tiên được phát đi, phong trào đã nhanh chóng lan rộng từ Quảng Nam ra các tỉnh lân cận. Đôi khi các cuộc biểu tình chuyển thành các cuộc bạo động. Những người chống đối chiếm giữ các toà nhà của triều đình hay nơi ở của quan lại địa phương. Đáp lại, triều đình đã huy động quân lính đến giải tán những người nổi loạn làm cho một số người bị chết và hàng trăm người bị bắt. Những người nông dân đã cắt tóc những người qua đường khiến cho các quan sát viên người Pháp đặt tên cho phòng trào là “cuộc nổi loạn của những người tóc ngắn”.

    Đến mùa xuân, làn sóng nổi dậy của nông dân bắt đầu lan tới cổng kinh thành Huế. Trong đầu tuần tháng 5, nông dân Công Lương ở ngoại ô đã biểu tình chống thuế cao. Khi một viên quan địa phương cùng một toán lính tới nơi thì bạo loạn đã nổ ra và viên quan huyện đã bị bắt. Ngày hôm sau, một đám đông đã dẫn viên quan huyện trong chiếc cũi tre tới kinh đô và tập trung trước phòng làm việc của viên toàn quyền Pháp yêu cầu giảm thuế và bỏ lao dịch.

    Đây là lần đầu tiên Thành trực tiếp tham gia hoạt động chính trị, mặc dù rõ ràng là Thành đã theo dõi chặt chẽ các sự kiện tương tự thông qua mạng lưới tin truyền khẩu ở địa phương. Vào ngày 9 tháng 5, khi một nhóm học sinh tập trung bên bờ sông trước cửa trường Quốc học theo dõi đám đông nông dân tràn vào thành phố từ các vùng ngoại ô, Thành bất ngờ túm lấy cổ áo hai người bạn và đề nghị cùng tham gia vào đám đông với tư cách là phiên dịch cho những người nông dân phản đối nhà cầm quyền Pháp. Trên đường vào kinh thành, Thành lật ngược chiếc mũ làm bằng lá gồi hàm ý cần phá bỏ hoàn toàn hiện trạng. Khi đám đông tới phòng làm việc của toàn quyền Lơ-vếch thì tình hình đã rất căng thẳng, những người nông dân tức giận đối mặt với quan lại địa phương và những toán lính trong trạng thái căng thẳng. Bất ngờ viên quan chịu trách nhiệm ở đó ra lệnh cho toán lính xông tới cùng gậy đẩy lùi đám đông. Thành đứng hàng đầu cố gắng dịch yêu cầu của những người nông dân cho nhà cầm quyền đã bị trúng vài gậy.

    Khi đám đông tiếp tục tràn lên, Lơ-vếch đã đồng ý cho phép một đại diện của những người biểu tình vào phòng làm việc của mình để thương thuyết các điều kiện khiến đám đông có thể giải tán. Thành đã trở thành phiên dịch. Tuy nhiên việc thương thuyết đã thất bại, không giải quyết được bất đồng và những người bên ngoài từ chối giải tán thậm chí khi vua Duy Tân đã cố can thiệp. Cuối cùng thì quân Pháp đã tới và bắn vào những người biểu tình đang tập trung trên chiếc cầu mới xây bắc qua sông Hương, gây nhiều tổn thất.

    Đêm đó, Thành đã trốn ở nhà một người bạn. Ngày hôm sau các bạn học của Thành ở trường Quốc học, nhiều người trong số họ rõ ràng đã được kể về hành động hôm trước của Thành, cho rằng Thành sẽ nghỉ học nhưng khi chuông vừa reo lần thứ hai thông báo giờ học bắt đầu thì Thành bất ngờ xuất hiện và ngồi vào chỗ của mình. Lúc chín giờ sáng, một viên cảnh sát Pháp đã tới trường cùng một toán cảnh sát và hỏi về cậu “học sinh cao và đen” đã tham gia cuộc biểu tình ngày hôm trước. Khi nhìn thấy Thành đang ngồi phía cuối lớp, viên cảnh sát đã nhận ra Thành và nói “Tôi có lệnh yêu cầu người có hành vi quấy dối này phải thôi học”. Đó là ngày cuối cùng của Thành đến trường.

    Nhiều tuần sau sự kiện diễn ra tại Huế, cuộc khủng hoảng chính trị đã trở nên căng thẳng hơn. Cuối tháng 6, những người theo Phan Bội Châu định đảo chính bằng cách đầu độc các sĩ quan Pháp tham gia một bữa tiệc tại Hà Nội. Những người chủ mưu hy vọng rằng các lực lượng nổi dậy trong vùng có thể phát động một cuộc tổng khởi nghĩa khi tình hình rối loạn và chiếm các đồn bốt chủ chốt ở thành phố. Tuy nhiên, liều thuốc độc quá nhẹ không đạt được mục đích nên không có người Pháp nào tại bữa tiệc bị chết mặc dù một số bị ngộ độc. Hơn nữa, kế hoạch tình cờ bị một trong những người thực hiện làm lộ khiến nhà cầm quyền Pháp tuyên bố thiết quân luật trên toàn bộ khu vực. Trong cơn hỗn loạn sau đó, quân của ông Châu ở các vùng ngoại ô phải giải tán trong khi những người khác bị nhà cầm quyền bắt. 13 người Việt Nam tham gia bị hành quyết trong khi nhiều người khác bị tù trong nhiều năm. Các quan chức hoang mang đã bố ráp tất cả các trí thức–sĩ phu bị tình nghi có thiện cảm với phong trào và thậm chí Phan Châu Trinh cũng đã bị bắt tại Hà Nội và bị đưa vào Huế xét xử. Các công tố viên muốn ông bị hành quyết nhưng nhờ sự can thiệp của viên toàn quyền nên ông chỉ bị tù chung thân và bị giam tại Côn Đảo. Đầu năm 1911, ông được trả tự do và được phép sống lưu vong tại Pháp.

    Sau cuộc bạo động, Nguyễn Sinh Sắc bị khiển trách vì các “hành động của hai con trai tại trường Quốc học”. Là phó bảng cùng khoá với Phan Châu Trinh, ông Sắc cũng bị triều đình theo dõi chặt chẽ, tuy nhiên triều đình đã không tìm thấy mối liên hệ cụ thể nào với ông giữa sự kiện đó. Thực hiện ý đồ chuyển ông khỏi Huế, mùa hè năm 1909, ông được chỉ định làm quan huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, cách kinh thành 320 cây số về phía nam. Mặc dù khá trù phú, vùng này đã từng diễn ra cuộc nổi loạn lớn chống lại nhà Nguyễn và nay là nơi giam giữa những kẻ du đãng và chống đối. Anh trai của Thành là Khiêm cũng bị quản thúc và đến năm 1914 bị kết tội mưu phản và bị tù vài năm. Thậm chí ngay cả em gái của Khiêm đang sống ở Kim Liên cũng bị thẩm vấn và bị nghi ngờ là đã chứa chấp những người bị tình nghi là đồng loã trong cuộc bạo loạn.

    Sau khi bị đuổi học, Thành đã biệt vô âm tín trong vài tháng. Có tin tức là một người bạn đã cố tìm cho Thành một việc làm tại một khu khai thác đá vôi nhưng không thành vì Thành đã nằm trong sổ đen của cảnh sát. Có thể là Thành đã tìm được việc làm hay sống với bạn bè tuy nhiên Thành đã không trở về quê vì nơi đó đang bị nhà cầm quyền theo dõi.

    Cuối cùng, Thành quyết định rời bỏ Trung Kỳ đi về phía nam tới Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, để tránh sự theo dõi chặt chẽ của triều đình. Có thể là Thành đã quyết định ra nước ngoài tìm hiểu bí quyết thành công của phương Tây tận nguồn, trong trường hợp đó nơi an toàn nhất để ra đi là cảng Sài Gòn, một cảng thương mại phát triển do người Pháp thay triều đình kiểm soát. Tháng 7 năm 1909, trên đường đi, Thành đã dừng lại ở Bình Khê, nơi cha Thành đã nhậm chức quan huyện. Để tránh bị bắt, Thành đã đi bộ suốt quãng đường từ Huế và làm các việc vặt để có cái ăn. Tuy nhiên, theo một số tài liệu, cuộc gặp gỡ giữa hai cha con không được suôn sẻ vì ông Sắc lúc đó rất buồn và bắt đầu uống rượu. Ông Sắc đã trách con trai về những hành động gần đây và đánh con.

    Sau khi dừng chân trong một thời gian ngắn ở Bình Khê, Thành đã tới thành phố duyên hải Quy Nhơn gần đó và ở lại nhà Phạm Ngọc Thơ là bạn cũ của cha. Thành đã được học trong một thời gian ngắn tại trường địa phương và sau đó theo gợi ý của chủ nhà đã thi giáo viên trong một trường làng sử dụng tên Nguyễn Sinh Cung để khỏi lộ danh tính. Người đứng đầu hội đồng thi đã từng dạy Thành khi còn học ở trường Đông Ba ở Huế rất thông cảm với Thành, tuy nhiên bằng cách nào đó viên toàn quyền tỉnh đã phát hiện ra mưu mẹo của Thành và đã gạt tên Thành ra khỏi danh sách thi.

    Thất vọng không tìm được việc làm ở Quy Nhơn, Thành tiếp tục đi về phía nam tới thành phố cảng Phan Rang. Tại đây, Thành gặp sĩ phu Trương Gia Mỗ, người đã từng làm việc trong triều với Nguyễn Sinh Sắc tại Huế và cũng là bạn của Phan Châu Trinh. Thành rất muốn rời đất nước càng sớm càng tốt, tuy nhiên ông Mỗ đã thuyết phục Thành làm giáo viên tại trường Dục Thanh cách Phan Thiết khoảng 100 cây số ngay phía bắc ranh giới giữa Trung Kỳ và Nam Kỳ. Vì hết tiền đi đường nên Thành đã nhận lời. Tuy nhiên trước khi tới Phan Thiết, Thành đã chứng kiến một sự kiện rất xúc động. Khi một cơn bão ập vào cảng Phan Rang, các quan Pháp ra lệnh cho công nhân cảng lặn xuống nước để cứu tàu. Theo Hồ Chí Minh thuật lại sau này, rõ ràng những người châu Âu đã rất thích thú khi đứng trên bờ nhìn cảnh nhiều người Việt Nam bị chết đuối trong khi lặn xuống nước.

    Trường Dục Thành được các sĩ phu yêu nước địa phương thành lập năm 1907 với hy vọng có được sự thành công như trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Trường nằm trên bờ nam sông Phan Thiết cách biển Nam Trung Hoa khoảng 5 cây số. Gian nhà chính xây bằng gạch trên mảnh đất của một thi sĩ mới mất. Trường do hai người con của thi sĩ trông nom, gần đó có một hiệu sách phục vụ trường và là nơi bán các tác phẩm truyền bá tư tưởng mới của các nhà cải lương. Trước cửa hiệu sách có ghi khẩu hiệu “ Bỏ cái cũ, dùng cái mới và hiện đại”. Các lớp trong trường được dạy bằng chữ quốc ngữ tuy nhiên cũng có lớp học bằng tiếng Pháp và tiếng Hán. Học sinh trường còn học các môn khoa học xã hội, tự nhiên, nghệ thuật và thể dục.

    Trong khi vẫn phải lẩn tránh lực lượng an ninh triều đình, Thành đã tới Phan Thiết trước Tết nguyên đán đầu năm 1910 và bắt đầu dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ. Là giáo viên trẻ nhất trong trường, Thành còn có một số trách nhiệm khác như dạy võ. Theo các học sinh trong trường nhớ lại, Thành là một giáo viên được nhiều người quý mến, tôn trọng học sinh và thường khuyên các bạn đồng nghiệp không nên đánh hay làm cho học sinh sợ. Trong bộ quần áo ngủ mầu trắng và đôi guốc mộc thông dụng thời đó, Thành sử dụng phương pháp của Xô-crát để khuyến khích học sinh động não và thể hiện suy nghĩ của bản thân. Thành cũng đưa học sinh đến với tư tưởng của Vôn-te, Mông-tét-ki-ơ, Ru-xô là những người mà những tác phẩm của họ Thành đã hấp thụ từ khi còn học ở trường Quốc học Huế. Bên ngoài lớp học, Thành là người dễ gần, cùng ăn với các học sinh và giáo viên khác trong một cái miếu trong trường. Thành ở nội trú trong trường và sống như một học sinh. Thành thường dẫn học sinh đi thăm những di tích lịch sử và thưởng ngoạn thiên nhiên trong rừng hay dọc theo bờ biển những vùng lân cận. Quang cảnh ở đó rất đồng quê nhưng nhiều người thời đó kể lại rằng mùi khó chịu từ nhà máy sản xuất nước mắm trong vùng đôi khi trở nên nồng nặc làm ảnh hưởng tới việc học tập.

    Chương trình giảng dạy của trường mang tính dân tộc chủ nghĩa. Mỗi buổi sáng, mỗi lớp cử một học sinh lên hát một bài yêu nước, sau đó tất cả mọi người thảo luận về bài hát. Thành đưa ra những chủ đề về lịch sử Việt Nam trong các bài giảng của mình và những câu thơ trong các bài thơ nổi tiếng như bài hớt tóc và bài thơ “Á Tế Á” của Phan Bội Châu. Bắt đầu buổi học Thành yêu cầu các học sinh đọc những câu thơ trong hợp tuyển thơ ca của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

    Ơi! Trời! Trời có thấu nỗi khổ của chúng tôi?

    Cả dân tộc bị xiềng xích, tàn tạ trong khổ đau.

    Ngoại bang đã đoạ đày dân tộc tới cảnh đói nghèo.

    Chúng cướp đi tất cả của cải dân tộc.

    Tuy nhiên, đối với cả nước nói chung thì chủ đề gây nhiều tranh luận không phải là mục tiêu độc lập dân tộc mà là phương tiện để đạt được mục tiêu cuối cùng đó. Các giáo viên trong trường chia làm hai phe giữa những người ủng hộ cách giải quyết vấn đề theo chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh và những người ủng hộ kế hoạch kháng chiến bạo lực của Phan Bội Châu. Nguyễn Tất Thành là một trong số ít người không đứng về phía nào cả. Như ông viết sau này, ông muốn ra nước ngoài tìm hiểu tình hình trước. Theo một nguồn tin của Việt Nam ông tỏ ra kính trọng cả Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu nhưng ông lo ngại cách tiếp cận của hai người này. Ông không tán thành việc Phan Châu Trinh tin vào thiện chí của người Pháp, coi đó là ngây thơ và cũng không tán thành với việc Phan Bội Châu dựa vào Nhật bản và các thành viên triều đình vì cho rằng làm như vậy là lạc hướng.

    Đầu năm 1911, trước khi năm học kết thúc, Nguyễn Tất Thành biến mất. Lý do chính xác cho việc ra đi bất ngờ của Thành không được rõ ràng mặc dù có thể điều này có liên quan đến tin cho rằng cha của Thành đã tới Nam Kỳ. Vào đầu năm 1910, ông Sắc bị loại khỏi chức vụ của mình ở Bình Khê. Nhậm chức ở đây mùa hè năm trước, ông được nhân dân yêu quý, ông đã trả tự do cho những tù nhân bị bắt vì tội tham gia các cuộc biểu tình, bảo vệ những người nông dân trước bọn địa chủ tham tàn và trừng phạt những kẻ ức hiếp dân chúng. Ông đối xử nhân hậu với những người phạm tội vặt và cho rằng thật là ngớ ngẩn để mất nhiều thời gian cho chuyện này trong khi toàn bộ đất nước đã bị mất. Nhưng ông rất cứng rắn trong các bản án giành cho những kẻ giàu có và có quyền thế. Một lần vào tháng riêng năm 1910 ông đã ra lệnh đánh một nhân vật có ảnh hưởng trong vùng 100 roi. Vài ngày sau khi người đàn ông này chết, họ hàng của ông ta đều kêu oan lên bạn bè trong triều và ông Sắc đã bị triệu về Huế xét xử. Ngày 19 tháng 5, hội đồng nhiếp chính buộc tội ông lạm dụng quyền lực đã phạt đòn và giáng chức ông xuống bốn cấp. Đến tháng 8, bản án chuyển thành giáng cấp và chính thức bãi nhiệm. Để sống, ông Sắc đã dạy học trong thời gian ngắn ở Huế. Đối với bạn bè ông không tỏ vẻ cay cú về việc mất chức, như ông kể lại với một người quen: “Khi nước mất làm thế nào anh giữ được nhà của mình”. Tháng riêng năm 1911, ông gửi thư cho nhà chức trách Pháp yêu cầu được tới Nam Kỳ, có thể là với hy vọng được gặp con trai. Tuy nhiên, yêu cầu của ông đã bị nhà chức trách từ chối có thể do nhà chức trách nghi ngờ rằng ông có liên quan tới các hoạt động nổi dậy. Theo một báo cáo của cảnh sát Pháp lúc đó.

    Nguyễn Sinh Sắc … rất có khả năng là đồng loã của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và nhiều ngước khác. Con trai của Sắc, hai năm trước là học sinh ở Đông Ba, đã bất ngờ biệt tích. Người ta cho rằng anh ta đang ở Nam Kỳ. Nguyễn Sinh Sắc có thể có ý định tìm gặp anh ta và Phan Châu Trinh.

    Ông Sắc đã tảng lờ việc nhà chức trách từ chối lời đề nghị và ngày 26 tháng 2 năm 1911 ông đã tới Tua-ran (tên mới của Đà Nẵng do người Pháp đặt) và lên một con tàu tới Sài Gòn, tại đó ông dạy tiếng Hán và bán thuốc bắc.

    Liệu Nguyễn Tất Thành có biết quyết định của cha tới Nam Kỳ khiến cho Thành rời Phan Thiết để tới Sài Gòn với hy vọng gặp được cha ở đó hay không? Một trong những bạn của Thành ở trường sau này kể lại Thành đã nói rằng Thành đã chuẩn bị ăn Tết với cha. Hay Thành sợ rằng danh tính thực của mình đã bị nhà chức trách địa phương phát hiện ra và họ đã theo dõi trường học. Chưa thể khẳng định được rằng nhà chức trách có biết Nguyễn Tất Thành đã dạy học tại trường hay không, tuy nhiên ngay sau khi Thành biến mất, một viên quan Pháp đã tới trường hỏi Thành đi đâu, nhưng Thành đã không để lại một manh mối về việc ra đi của mình cho các học sinh mà đã ra đi ngay sau khi viết lại cho học sinh rằng các cuốn sách của Thành sẽ phải trả lại cho một giáo viên khác. Bạn bè ở trường sau này phỏng đoán rằng có thể Thành đã rời Phan Thiết trên một chiếc tàu chở nước mắm đi Sài Gòn. Ít lâu sau, trường bị nhà chức trách buộc tạm đóng cửa.

    Vài ngày sau khi rời Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đã tới Sài Gòn. Rõ ràng thành phố đã mở rộng tầm mắt cho người thanh niên quê mùa Nghệ An. Từng là một thương cảng nhỏ trên sông Sài Gòn, sau khi người Pháp chiếm đóng, thành phố được chọn làm thủ phủ của thuộc địa mới ở Nam Kỳ. Khi dân số thuộc địa tăng nhanh chóng – vào năm 1910, Nam Kỳ có dân số bằng một phần tư tổng số 12 triệu dân sống trên toàn bộ ba vùng của Việt Nam, thành phố Sài Gòn cũng đã phát triển theo và tới năm 1900 đã trở thành thành phố lớn nhất ở Đông Dương của Pháp sau Hà Nội. Ngay sau đó Sài Gòn đã vượt kinh đô cũ với dân số khoảng vài trăm nghìn người.

    Tăng trưởng của thành phố chủ yêu dựa vào lợi thế kinh tế. Trong những năm người Pháp chiếm đóng, Nam Kỳ trở thành nguồn lợi của tầng lớp doanh nhân gồm những người châu Âu và Việt Nam, kể cả những người Hoa mà tổ tiên của họ đã tới đây sinh sống từ nhiều thế kỷ trước. Phần lớn lợi nhuận thu được là các đồn điền cao-su dọc biên giời Cam-pu-chia (giống cây cao su được mang tới Đông Dương từ Bra-xin trong suốt 25 năm cuối thế kỷ 19), và mở rộng diện tích trồng lúa nhờ lỗ lực của người Pháp trong việc cải tạo các đầm lầy ở đồng bằng sông Cửu Long. Các địa chủ giàu có mua những mảnh đất hoang sơ đó rồi cho nông dân thuê lại với giá cắt cổ (phần lớn nông dân là những người di cư đến từ những tỉnh đông dân phía bắc). Thóc người nông dân thuê đất trả cho địa chủ đất sau đó được chế biến tại các máy xay lúa của người Hoa và được chở tới các tỉnh phía bắc hoặc được xuất khẩu. Trong 25 năm đầu của thế kỷ 20, Nam Kỳ là nơi xuất khẩu gạo lớn thứ ba trên thế giới.

    Bị thu hút bởi lợi nhuận thu được từ kinh doanh cao-su và ngày càng phát triển, hàng nghìn người châu Âu đã tới sống ở Sài Gòn với hy vọng tìm được may mắn cho chính mình. Tại đây họ cạnh tranh với các thương nhân Trung Hoa và giai cấp tư sản Việt Nam mới giàu lên cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho dân cư đang gia tăng. Với các xưởng dệt, nhà máy sản xuất xi măng và các nhà máy chế biến thực phẩm, Sài Gòn nhanh chóng trở thành trung tâm công nghiệp và thương mại quan trọng của Việt Nam, trong trung tâm thành phố, các toà nhà lớn mang phong cách kiến trúc tỉnh lẻ của Pháp và là văn phòng của các quan chức thuộc địa. Những đại lộ lớn nằm vuông góc với nhau, với những hàng cây tiêu huyền chắn ánh sáng mặt trời nhiệt đới nóng bỏng. Đằng sau những bức tường cao là những ngôi nhà to đẹp của những người châu Âu và một số người Việt Nam là những người đã cố gắng tận dụng sự có mặt của đế quốc nước ngoài. Những người dân khác, công nhân trong các nhà máy, công nhân bốc vác, những người kéo xe tay, những người nông dân tha hương đến từ vùng nông thôn phụ cận, phải sống chui rúc trong những ngôi nhà ổ chuột bẩn thỉu dọc kênh Bến Nghé và ngoại vi thành phố.

    Khi tới Sài Gòn, Thành đã trọ tại một kho thóc cũ. Chủ nhân Lê Văn Đạt là một người làm chiếu có quan hệ với các giáo viên trường Dục Thanh ở Phan Thiết. Tại đó Thành đã tìm được cha đang tạm sống trong một kho hàng cho tới khi tìm được nơi ở ổn định. Cuối cùng thông qua các mối liên hệ khác ở trường, Thành chuyển tới một ngôi nhà trên phố Châu Văn Liêm, gần cảng Sài Gòn, một khu ổ chuột với những ngôi nhà mái tôn lụp xụp nằm giữa một con kênh và sông Sài Gòn. Được cha khuyến khích, Thành bắt đầu vạch ra kế hoạch đi ra nước ngoài. Vào tháng ba, Thành được biết người Pháp đã thành lập trường học vào năm 1904 dạy nghề thợ mộc và cơ khí. Có thể là với hy vọng dành đủ tiền cho chuyến đi nước ngoài, Thành đã học trong một thời gian ngắn tại trường, Thành đã bỏ học và đi bán báo cùng một người cùng làng Kim Liên tên là Hoàng khi hiểu ra rằng phải học ba năm mới đạt được trình độ theo yêu cầu.

    Làng công nhân nơi Thành đã sống không xa bến Nhà Rồng của Sài Gòn nơi những chiếc tàu chở khách lớn cập bến trên đường tới châu Âu và các hải cảng khác ở châu Á. Thành đã quyết định tìm việc làm trên một trong những con tàu đó để có thể ra nước ngoài. Nhiều năm sau Hồ Chí Minh đã miêu tả trong cuốn tự thuật viết dưới bút danh Trần Dân Tiên:

    “Trong khi tôi (một người được cho là bạn của Thành, được tác giả trích lời) chuẩn bị kết thúc việc học hành tại trường Sát-lu Lô-ba ở Sài Gòn….tôi đã gặp một thanh niên trẻ từ miền trung Việt Nam tới. Tôi gặp anh ta tại nhà của một người bạn, vì bằng tuổi nhau nên chúng tôi đã nhanh chóng trở thành bạn thân. Tôi dẫn anh ta tới trước cửa một quán café mà người Pháp thường lui tới và cùng nhau ngắm nhìn ánh đèn điện. Chúng tôi đi xem phim. Tôi đã chỉ cho anh ta những đài phun nước công cộng. Rất nhiều thứ mà chàng trai trẻ Quốc Nguyễn Tất Thành trước đây chưa từng thấy. Vào một ngày tôi mua cho Quốc một vài cây kem. Quốc rất ngạc nhiên bởi vì đó là lần đầu tiên Quốc được ăn kem.

    Vài hôm sau, đột nhiên Quốc hỏi tôi:

    “ Này Lê, anh có yêu nước không?”

    Rất ngạc nhiên tôi đã trả lời “tất nhiên rồi”

    “Anh có giữ được bí mật không”?

    “Được”

    “Tôi muốn ra nước ngoài để tới Pháp và một số nước khác, khi tôi biết được họ làm gì ở đó tôi sẽ trở về giúp đỡ đồng bào. Nhưng nếu tôi đi một mình sẽ có nhiều rủi ro, chẳng hạn tôi có thể bị ốm…Anh có muốn đi cùng tôi không?”

    “Nhưng chúng ta lấy đâu ra tiền để đi”.

    “Tiền của chúng ta ở đây” và Quốc chìa đôi bàn tay ra. “ Chúng ta sẽ làm việc, chúng ta sẽ làm bất cứ những gì cần thiết để sống và đi. Anh sẽ cùng đi với tôi chứ”. Bị thuyết phục bởi sự nhiệt thành tôi đã đồng ý. Tuy nhiên sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu về những điều có thể xảy ra trong chuyến đi tôi đã không còn đủ can đảm để giữ lời hứa. Từ đó, tôi không gặp lại Quốc nữa. Tôi luôn cho rằng Quốc đã ra nước ngoài tuy nhiên bằng cách nào thì tôi không biết. Mãi sau này tôi mới biết rằng chàng trai trẻ yêu nước với lòng nhiệt tình không phải ai khác ngoài Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, sau này là Chủ tịch nước.

    Trong vài tháng sau, Thành thường tới bến cảng quan sát những con tàu cập và rời bến. Tại đây có hai công ty tàu hơi nước với các con tàu hoạt động ngoài khu vực Sài Gòn – là công ty Mét-xa-giơ-ri Ma-ri-ti-mơ và Sác-giơ Rê-uy-ni. Công ty Sác-giơ Rê-uy-ni thuê người Việt Nam làm công việc bồi bàn hoặc phụ bếp trên tàu và công ty quảng cáo rằng hành trình của tàu có đi qua các thành phố lãng mạn như Xin-ga-po, Cô-lông-bô, Di-bu-ti, Po-Set, Mác-xây và Boóc-đô. Qua một người bạn ở Hải Phòng làm việc cho công ty, Thành đã được thuyền trưởng tàu khách A-mi-ran Lu-tút-sơ – Tê-rê-vin của công ty Sác-giơ Rê-uy-ni mới từ Tua-ran tới cảng Nhà Rồng phỏng vấn. Thành đã xếp hai bộ quần áo thuỷ thủ vào một chiếc va li nhỏ do một người bạn ở Phan Thiết đưa cho.

    Ngày 2 tháng 6, một thanh niên tự xưng là “anh Ba” đã tới bến tàu. Thuyền trưởng Lu–I Ê-đu-a Mây-xen lúc đó rất ái ngại về người tới xin việc vì anh ta trông thông minh nhưng có thể không cường tráng. Khi Ba khăng khăng cho rằng mình có thể “làm được mọi việc” Mây-xen đã đồng ý thuê Ba làm phụ bếp. Ngày hôm sau, Ba được gọi đến làm việc ngay lập tức được giao việc trong cả ngày, rửa bát đĩa và chảo, lau chùi sàn bếp, rửa rau và xúc than vào lò. Vào ngày mồm 5, con tàu A-mi-ran La-tút-sơ Tơ-rê-vin đã đi qua vùng đầm lầy sông Sài Gòn hướng ra biển nam Trung Hoa để tới bến tiếp theo là cảng hải quân Anh ở Xin-ga-po.

    Tại sao Nguyễn Tất Thành đã quyết định đi ra ngước ngoài? nhiều năm sau, khi trao đổi với nhà báo Liên Xô Ô-síp Man-đen-stam, Thành (lúc đó đang hoạt động dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc) đã kể lại “Khi tôi khoảng mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi nghe thấy những từ tiếng Pháp “tự do”, “bình đẳng”, ”bác ái”. Lúc đó tôi nghĩ rằng tất cả những người da trắng đều là người Pháp. Bởi vì những từ đó do người Pháp viết ra, nên tôi muốn tìm hiểu về nền văn minh Pháp để hiểu ý nghĩa của những từ đó”. Sau đó Nguyễn Ái Quốc cũng trả lời tương tự như vậy khi được nhà báo người Mỹ An-na Lui-dơ Xtrong phỏng vấn.

    “ Những người Việt Nam, trong đó có cả cha tôi, thường tự hỏi nước nào có thể giúp phá bỏ ách đô hộ của người Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, những người khác cho rằng nước Anh, và một số khác lại cho rằng nước Mỹ. Tôi cho rằng cần phải ra nước ngoài để tự tìm lấy câu trả lời cho mình. Sau khi tôi biết được họ sống ra sao tôi sẽ trở về giúp đồng bào mình”.

    Những người chuyên bình tiểu sử về những thánh nhân ở Hà Nội đã viết rất nhiều những lời bình trong những hồi ký. Họ mô tả quyết định rời Việt Nam của ông như một sứ mệnh cứu nước. Với xu hướng kịch tính hoá các sự kiện về cuộc đời mình với mục đích để người khác tự khám phá, cần phải thận trọng khi xem xét những điều ông thuật lại. Tuy nhiên, điều không nghi ngờ là ông đã rời Sài Gòn mùa hè năm 1911 lòng tràn đầy tình yêu tổ quốc cũng như hiểu rõ về sự bất công mà chính quyền thuộc địa đã gây ra cho đồng bào của ông. Đối với Thành, dường như không có cách để giải quyết vấn đề này ở trong nước. Có lẽ điều đó có thể tìm thấy ở nước ngoài.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi