Phần 3: Suy Nghĩ Về Quy Luật Tiến Hóa Của Nhân Loại

  • Bởi tqvn2004
    05/08/2009
    0 phản hồi

    Mọi người đều nhất trí rằng: Người là một "loài", thống nhất và chặt chẽ, đúng theo tiêu chuẩn của một "loài sinh vật" nói chung. Về mặt di truyền học, các cá thể trong loài có khả năng giao phối một cách tự nhiên và con cái sinh ra vẫn giữ được khả năng sinh sản bình thường. Về sinh thái học, quan hệ trong nội bộ loài là quan hệ hết sức đặc biệt, gồm hai mặt mâu thuẫn nhau một cách biện chứng: Một mặt, sự đấu tranh sinh tồn trong nội bộ loài là khốc liệt nhất, bởi nhu cầu về điều kiện sống của các cá thể đều giống hệt nhau. Mặt khác, quan hệ trong loài là quan hệ hỗ trợ, giúp nhau đấu tranh chống các yếu tố bên ngoài. Mặt hỗ trợ là mặt chủ yếu nên mặc dù có cạnh tranh với nhau, thậm chí có sự "hy sinh" của một số cá thể, mà tất cả vẫn kết thành một khối tiến hóa thống nhất, kết quả cuối cùng là cả loài vẫn phát triển. Những nội dung ấy của học thuyết Darwin về Đấu Tranh Sinh Tồn, về Chọn Lọc Tự Nhiên và Tiến Hóa khi đem soi rọi vào loài người vẫn giữ nguyên những giá trị quý báu của nó. Nhưng trong hệ lý luận của "Cách mạng Vô sản" thì học thuyết Darwin cũng như nhiều giá trị khác của Trí tuệ nhân loại đã không thoát khỏi "số phận" bị công kích kịch liệt(6) trước khi chuyển sang trạng thái mặc nhiên thừa nhận. Chống học thuyết Đấu tranh sinh tồn (và cả học thuyết di truyền Mendel-Morgan) không ai mạnh hơn Staline, nhưng trong hành động thực tế thì không ai tiến hành đấu tranh sinh tồn quyết liệt hơn Staline, và chính điều đó đã khẳng định giá trị của học thuyết Darwin rồi.

    Song loài người là một sinh vật đặc biệt ở chỗ có lao động sản xuất và có tư duy, nên hai điều đặc biệt ấy không thể không làm cho sự đấu tranh sinh tồn và tiến hoá của loài người có những bản sắc riêng.

    1) Những quan hệ qua lại trong xã hội loài người.

    Loài người gồm rất nhiều cộng đồng trên khắp địa cầu, và gồm không biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu thời đại kế tiếp nhau. Những quan hệ giữa những người đang sống cùng thời là những "quan hệ ngang", cũng tức là quan hệ trên trục không gian. Quan hệ giữa các thế hệ, các thời đại kế tiếp nhau là "quan hệ dọc", cũng tức là quan hệ trên trục thời gian, là quan hệ tiến hoá hay thoái hoá.

    a) Những mối "quan hệ ngang" trong xã hội loài người.

    - Quan hệ bóc lột và bị bóc lột.

    Sản phẩm người này làm ra, người kia chiếm đoạt, đó là biểu hiện trực tiếp nhất và phổ biến nhất của cuộc đấu tranh sinh tồn trong xã hội. Sự bất công này hiển nhiên là có liên quan đến sự chiếm hữu tư liệu sản xuất.

    Nhưng, ngay cả khi địa chủ tư sản bị quét sạch, không còn chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, chính phủ chỉ ngồi tính các chế độ tiền lương để trả cho cán bộ thôi cũng thấy đây là bài toán không thể tìm thấy đáp số trực tiếp và chính xác được. Bản chất của khó khăn là ở chỗ: khi đã sống chung trong xã hội thì con người liên quan với nhau và liên quan với xã hội bằng vô số những quan hệ chằng chịt, trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài, hiện tại và quá khứ... Tất cả những mối duyên nợ rắc rối ấy không dễ gì quy thành "giá trị lao động" (như Marx đã tính trong cuốn Tư bản) để thanh toán sòng phẳng trong một cuộc phân chia sản phẩm cụ thể được. Nhưng cứ giả sử là đã tìm được một phương án quy ước nào đó mà mọi người thỏa thuận là công bằng, thì sự công bằng ấy cũng mới là công bằng "chết', vấn đề là sự công bằng ấy có làm cho sản xuất phát triển không? Như ta đã thấy, sản xuất không phát triển mà đình trệ thì rồi lấy gì để tiếp tục chia nhau, và sự công bằng ấy trở nên vô nghĩa! Nhưng thực tiễn lại còn xấu hơn như thế bởi sự tham gia của quyền lực vào quá trình phân phối. Từ xưa tới nay quyền lực tự nó không bao giờ chịu đứng ngoài bài toán phân phối của kinh tế, trước sau gì nó cũng tìm được mẹo để "phân phối lại"! Thế là sự công hữu hoá về tư liệu sản xuất đâu có chống được bóc lột? Lúc ban đầu, sự công hữu quả thực có tạo được thuận lợi cho sự phân phối công bằng nhưng lại bất lợi cho phát triển sản xuất, và nếu không thiết lập được một cơ chế dân chủ cho xã hội thì sự công bằng tạo được lúc đầu cũng sẽ bị thủ tiêu ngay, mà sự tập trung tư liệu sản xuất luôn có nguy cơ gây ra sự tập trung tuyệt đối của quyền lực và cản trở sự hình thành cũng như sự hoạt động của cơ chế dân chủ.

    Tóm lại "bài toán phân phối" phải gắn liền với "bài toán phát triển sản xuất" và "bài toán dân chủ" (tức sự phân phối quyền lực) thì mới "giải" được. Không thể lý giải cơ chế của sự bóc lột chỉ bằng tính toán "giá trị thặng dư" trong một bài toán "tĩnh" và thuần kinh tế như Marx đã làm (chưa kể những yếu tố "thuần kinh tế" trong bài toán ấy cũng chưa đấy đủ).

    Bài toán động và tổng hợp ấy, nhân loại vẫn đang loay hoay tìm cách giải, nhưng mô hình thực tế có nhiều khả năng dung hoà được các mặt đối lập hiện nay là: song song với thị trường mua bán sản phẩm tự do là một thị trường mua bán sức lao động tự do. Thuận mua! Vừa bán! Chính trong cuộc vật lộn hoà bình ấy mà sự hợp lý sẽ được xác lập trong từng thời khắc. Những sản phẩm và lao động kém chất lượng sẽ bị đào thải. Xã hội phải có luật cho kẻ bị thiệt thòi có quyền đấu tranh, có chỗ đấu tranh. Cơ quan quyền lực cần được tách ra thành một sức mạnh trung lập, được xã hội "thuê" làm nhiệm vụ trọng tài. Trọng tài chỉ cần thổi còi cho đúng luật, ngăn cản những tình huống quá đáng, thực hiện một số việc công ích (như Giáo dục, Y tế, nghiên cứu cơ bản, bảo vệ môi trường...), tuyệt nhiên không được "tham chiến" trực tiếp để kiếm ăn thêm, và cũng không cần vận động hay dạy dỗ bên nào cả. Một thị trường có tính nhân bản phải giải quyết ngay càng tốt vấn đề sở hữu của người lao động, bao gồm cả hai mặt của "sở hữu" là mặt tư liệu sản xuất, tiền vốn và mặt dân quyền!

    Một mô hình sinh động như vậy chính là sự thể hiện quy luật Đấu tranh sinh tồn vào xã hội loài người, trong đó sự chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo đã nhập làm một, và không có nó thì sự tiến hoá sẽ ngừng. Thiên đường của nhân loại sẽ là một "trường đấu" lý tưởng, trong đó mọi đấu thủ đều có điều kiện phát huy hết tiềm năng, và người có trí tuệ hơn, có năng lực hơn, có ý thức hơn... được đảm bảo sẽ thắng cuộc, sẽ được hưởng thụ nhiều hơn (và được duy trì nòi giống nhiều hơn? )... và xã hội như thế mới là "xã hội không còn bóc lột"!

    Mô hình ấy cho thấy trong sản xuất cũng như trong phân phối luôn cần một không khí đấu tranh hoà bình liên tục, đấy chính là linh hồn của cuộc sống. Cuộc đấu tranh không ngừng ấy chỉ là để giải quyết mối quan hệ ngang, tức là giải quyết sự công bằng giữa những người đang cùng sống chứ không phải đấu tranh, như vậy là làm "cách mạng" để tiến thẳng tới một xã hội "mới về chất". Bởi không nhìn cuộc sống bằng con mắt biện chứng sinh động nên ta coi phong trào đấu tranh của công nhân trong xã hội tư bản là hiện tượng bất thường, bệnh hoạn, khủng hoảng không lối thoát, nên quyết làm một cuộc đấu tranh sinh tử cuối cùng, một mất một còn, để loại trừ đi một "vế", để từ đó về sau không còn phải đấu tranh như thế nữa! Kết quả là tạo được những xã hội ngưng trệ, tĩnh lặng vì bị bật mất "hồn". Xét từ quan điểm sống là đấu tranh (lời Marx) mà nói thì đấu tranh như thế "quá tả" ở đoạn đấu, và "quá hữu" ở đoạn sau. Ở đoạn đầu thì gây ra những khủng khiếp không đáng phải có, ở đoạn sau thì xã hội lại quá im lìm bởi ta đã tước mất vũ khí đấu tranh hợp pháp của chính nhân dân lao động.

    - Quan hệ xâm lược và bị xâm lược.

    Xâm lược cũng là bị áp bức bóc lột, nhưng khác với sự bóc lột trong nước, sự bóc lột ở đây có ranh giới quốc gia phân định nên nhìn thấy rõ ràng, không cần lý luận hay tính toán gì cả, vấn đề là ở tình thế và vũ lực thôi. Sự phán quyết của nhân loại đối với quan hệ dã man này đã rõ ràng, không có gì phải bàn.

    Nhưng đứng xa ra để nhìn, ta thấy trong những nguyên nhân có nguyên nhân về sự phát triển không đều của nền văn minh giữa các nước. Và ngược với ý đồ của nước đi xâm lược, quan hệ này tự nhiên biến thành một phương thức phát tán nền văn minh nhân loại. Kết quả là, ở một mức độ nào đó, độ chênh lệch về văn minh giảm đi, và điều này lại trở thành một trong những nguyên nhân để loại trừ dần nạn xâm lược trong thế giới loài người.

    Từ lịch sử đau thương của một quốc gia bị nhiều kẻ thù xâm lược nhiều lần, kéo dài trên nghìn năm, chúng ta rút được bài học gì?

    Niềm tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất đánh ngoại xâm là niềm tự hào chính đáng, nhưng, lần này, "anh hùng bất khuất" mà lần sau, lần sau, lần sau nữa...vẫn phải "anh hùng bất khuất", nghĩa là vẫn không thoát khỏi nạn bị xâm lược! Vậy thì riêng truyền thống chống ngoại xâm của một dân tộc không đủ để cứu dân tộc đó khỏi nạn ngoại xâm.

    Trong khi nước Pháp đã có nền văn minh Công nghiệp mà vua Tự Đức còn coi lời Nguyễn Trường Tộ tả cái bóng đèn điện là lời sàm tấu thì nước ta thua là phải, và dân tộc đã phải trả giá bằng 80 năm nô lệ! Điều căn bản là dân tộc ấy phải nâng nền văn minh của mình cho ngang tầm các nước bên ngoài. Điều thứ hai là phải theo đuổi một chính sách ngoại giao rộng mở và nhân hoà, lèo lái tránh xa các vực thẳm chiến tranh. Chiến tranh đã nổ ra thì "dẫu bên nào thắng, nhân dân cũng là kẻ chiến bại".

    Ngày nay, cả đến chủ nghĩa thực dân mới cũng đã phải thoái lui nhưng nguy cơ xâm lược không vì thế mà đã hết. Cách "xâm lược" hiện đại của thời kinh tế thị trường toàn cầu có những cách đi vòng vèo và độc ác của nó. Khái niệm "độc lập" cũng không thể hiểu đơn giản như trước, nhưng cách chống xâm lược từ xa vẫn không có gì khác hơn là xây dựng một cộng đồng dân tộc văn minh, giàu mạnh. Dân không có tự do, hạnh phúc thì cũng không giữ nổi độc lập cho nước. Nước không độc lập được với bên ngoài thì dân càng không thể có hạnh phúc, tự do.

    Đánh giặc cứu nước cũng là để giải quyết một mối quan hệ ngang, không nên gọi đó là "cách mạng". Cách mạng là quan hệ dọc, quan hệ tiến hoá, là sự chuyển xã hội sang một phương thức sản xuất mới cao hơn, chứ không phải sự chuyển một nước bị đô hộ thành nước độc lập (như một số người hiểu lầm). Dân ta vốn có truyền thống yêu nước rất cao (còn truyền thống cách mạng thì phải nhận rằng dân ta chưa có truyền thống). Nên đã làm nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vừa qua. Chiến thắng ấy không thuộc phạm trù "chủ nghĩa xã hội" hay "chủ nghĩa Cộng sản". Nhưng học thuyết Marx-Lénine về chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản đã tham dự vào công cuộc giải phóng dân tộc ở nước ta và một số nước khác theo một "cơ chế" riêng:

    Một học thuyết có chủ định là đưa giai cấp Công nhân "đào mồ chôn" chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có tác dụng trong việc đưa giai cấp Nông dân "đào mồ chôn" chủ nghĩa thực dân, phong kiến để bước vào ngưỡng cửa của chủ nghĩa tư bản! Ví như một đoạn cầu thang được xây ra nhằm để đi tầng 2 lên tầng 3 nhưng cuối cùng chỉ giúp ích cho một số người đi tầng 1 lên tầng 2 thôi! Hiệu quả "phi lý" ấy lại không phi lý chút nào, bởi cái tầng 3 và cả đoạn cầu thang mới xây kia đều kết cấu bằng vật liệu ảo. Hầu hết những người đã ở tầng 2 thì nhìn thấy rõ điều này, cá biệt có ai định đi thử thì té ngã ngay. Nhưng ảo ảnh ấy lại làm nức lòng những người còn đang đứng dưới tầng 1, khiến họ bỗng có sức mạnh thần kỳ để vượt cái đoạn cầu thang gỗ cũ kỹ từ tầng 1 mà lên tầng 2, đoạn này trước đây họ đã cố leo thử nhiều lần mà không leo được vì nó quá mục nát và còn bị đám người trên tầng 2 dí đầu xuống nữa. Họ định xốc thẳng một lèo lên tới tầng 3 (cho bọn người đáng ghét ở tầng 2 nhìn thấy mà sáng mắt ra), nhưng vừa lên tới tầng 2 thì họ đã thấy rõ sự thực. Dẫu sao đứng được ở hành lang của tầng 2 cũng tốt hơn rồi. Lịch sử đã đi lên được một bước (tuy sẽ phải trả giá về sau!).

    Ngoài tác dụng động viên, thu hút của cái mục đích giả tưởng, học thuyết Marx-Lénine đã cung cấp cho chúng ta một phương pháp thâm nhập, vận động và tổ chức quần chúng tuyệt vời và nhiều chiến thuật hữu hiệu mà trước đây các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học... chưa ai có được.

    Có thể nói 'chủ nghĩa xã hội khoa học" đã không thâm nhập được vào nhân loại bằng con đường khoa học, nhưng bằng con đường của lòng yêu nước thương nòi, chống phát xít, chống thực dân, giải phóng dân tộc.

    - Quan hệ hỗ trợ, hợp đồng

    Nhân loại theo cả tiến trình lịch sử lâu dài thì thấy không có gì đáng bi quan. Theo thời gian, những quan hệ bóc lột và xâm lược ngày càng giảm đi độ khốc liệt, trong khi mối quan hệ hỗ trợ, hợp đồng là mặt chủ yếu của quan hệ trong nội bộ "loài" ngày càng phát triển rất rõ.

    Sự hỗ trợ, hợp đồng vừa xảy ra theo cơ chế vô ý thức, vừa theo cơ chế có ý thức. Sự khuếch tán văn minh là sự lan tỏa tự nhiên và liên tục không có bàn tay nào xếp đặt. Thậm chí, như trên đã nói, hoạt động xâm lược là hoạt động chống văn minh mà còn có tác dụng khách quan là phát tán văn minh. Ngày nay, sự phát triển nhảy vọt của kỹ thuật tin học đã cho con người từ khắp các nẻo địa cầu khả năng thông tin với nhau một cách tức thời. Thông tin quyết định nhận thức, nhận thức quyết định văn minh. Ngoài ra, sự giao lưu và hợp tác toàn diện giữa các quốc gia đã giúp nhiều dân tộc rút ngắn những "khoảng cách thế kỷ". Một nước từ chỗ còn chưa sản xuất nổi một chiếc đinh ốc nghiêm chỉnh có thể "bừng mắt ra" đã được xem truyền hình màu. Sự giúp đỡ của những tổ chức quốc tế, các chương trình nhân đạo, các hoạt động tư nhân bất vụ lợi...về đủ mọi mặt là biểu hiện cao nhất, rực rỡ nhất của quan hệ hỗ trợ, hợp tác trong "loài" mà chỉ ở loài người mới có được. Chính sự giao lưu quốc tế ngày càng mật thiết đã giúp nhiều dân tộc nhược tiểu thoát ra được cái ách ngoại xâm, thậm chí giúp cả một số cá nhân tiêu biểu cho lương tri thoát khỏi ngục tù của đám độc tài trong nước.

    Nếu địa thế văn minh trên địa cầu có thể ví như một vùng chập chùng có núi cao và vực thẳm thì sự bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế đã như chiếc xe ủi khổng lồ san đi phần lớn những độ chênh từ bao thế kỷ. Nhưng trớ trêu thay, chiếc xe ủi hàng tỷ mã lực này nhiều khi lại mắc kẹt giữa đám tơ mành lửng lơ, bùng nhùng, giăng ra từ chính lòng người. Và trong một con người lại có thể có cả mấy cấp văn minh cùng chung sống! Con người không chỉ đơn giản là nơi hội tụ của những quan hệ xã hội. Bởi thế sự hỗ trợ hợp tác dù tốt đến đâu cũng không thể làm mất đi cái quy luật "phát triển không đều". Mỗi quốc gia có một số phận, nhân dân nào thì số phận ấy. Bên cạnh xu hướng khách quan về sự hoà nhập văn minh luôn tồn tại những rào cản chủ quan mà biểu hiện cực đoan là "khước từ văn minh".

    b) Khát vọng, quy luật và kẻ thù.

    Với những ai không tin ở Niết bàn, Thiên đàng thì có thể lấy Xã hội cộng sản mà nội dung là "không còn giai cấp,không còn bóc lột,không còn Nhà nước,nhưng của cải thì tuôn ra như nước và hưởng thụ theo nhu cầu" để cân bằng tâm linh. Tất cả đều rất tốt.

    Nhưng khi trở lại cuộc đời thực thì những mục tiêu gần gũi sẽ bổ ích hơn: hoặc là "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc", hoặc là "Tự do-Bình đẳng-Bác ái" v.v... "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc" là khẩu hiệu chính trị có những ưu điểm thực tế nhưng ít có giá trị trong nhận thức, vì Độc lập đã là yếu tố nằm trong Tự do, Tự do đã là yếu tố nằm trong Hạnh phúc, còn Hạnh phúc thì quá chung chung.

    "Tự do-Bình đẳng-Bác ái" là khát vọng mang tính khái quát và khoa học hơn. Từ khát vọng ấy đã toả ra ba con đường xuất phát đi tìm hạnh phúc:

    - Chủ nghĩa Bác ái lấy bác ái làm đầu, đó là con đường của các tôn giáo.

    - Chủ nghĩa Bình đẳng lấy bình đẳng làm đầu, đó là con đường của chủ nghĩa xã hội.

    - Chủ nghĩa Tự do lấy tự do làm đầu, đó là con đường của chủ nghĩa tư bản.

    Trong cuộc đời thực thì cuộc chạy đua đến hôm nay đã rõ kết quả: Chủ nghĩa Tự do là đấu thủ bị coi là "kém đạo đức" nhất đã dẫn đầu! Xin các "Nhà đạo đức" đừng thở dài! Tự do thắng cuộc chỉ bởi vì chính nó là quy luật đó thôi. Chủ nghĩa xã hội cũng như mọi tôn giáo đều có tác giả đều do một đầu óc nào đó nghĩ ra. Còn cái gọi là chủ nghĩa tư bản lại mang một nội dung khác hẳn, nó là toàn bộ cuộc đời thực của thời đại, gồm tất cả những người bình thường của nhân loại đang sống theo sự chi phối tự nhiên của quy luật. Nó chẳng của riêng ai. Cho nên ngoài những phút sống riêng với tôn giáo của mình, tất cả các tín đồ Kitô, Hồi, Phật...đều có thể trở về với nó một cách tự nhiên và đương nhiên. Chỉ có những người của "thế giới xã hội chủ nghĩa" là ly khai khỏi nó, tuyên bố thù địch với nó, và tự cấm mình không được trở về với nó, tức là không được về với nhân loại nói chung, mà thực tình lại thường xuyên trốn về với nó một cách lén lút! Nó không hề là thiên đường, nó có đủ mọi cái hay cái dở của Trần tục (nhất là những cảnh cá lớn nuốt cá bé) nhưng thoát ly khỏi nó thì mọi điều thánh thiện đều vô nghĩa.

    Tự do là bản tính của tự nhiên, có Tự do mới có phát triển, trên tiến trình phát triển mới có thêm Tự do, mới có Bình đẳng và có Bác ái. Đạo đức không từ trên trời rơi xuống, mà là sản phẩm hình thành dần dần trên tiến trình phát triển của nhân loại. Đạo đức phải được nuôi trong sự phát triển, tiền đề của phát triển là Tự do. Nếu kéo dài tình trạng không phát triển thì quy luật đấu tranh sinh tồn sẽ xé nát lá cờ Bác ái và lá cờ Bình đẳng ra từng mảnh.

    Khẳng định vai trò quyết định của Tự do và Phát triển không có nghĩa là khi có hai điều kiện thì tự khắc sẽ có Bình đẳng và bác ái, mà không cần đến hoạt động khuyến thiện và nỗ lực tranh đấu của con người. Không thể lấy khát vọng thay cho quy luật, nhưng khát vọng đúng sẽ xúc tiến nhanh quy luật.

    Trên đường vô tận đi tìm Hạnh phúc, loài người có hai kẻ thù cố hữu là Ác tâm và sự Ngu dốt. Sự ngu dốt bịt mắt ta, không cho ta nhìn ra quy luật, nhận ra con đường sáng. Ác tâm ngăn không cho ta đi vào đường sáng mà lôi ta vào ngõ ám muội. Hai kẻ thù ấy là hai sợi dây ràng buộc ta vào cội nguồn dã thú xa xưa, mỗi nỗ lực vươn về phía "con người" làm cho mối ràng buộc ấy yếu đi một chút. Cuộc giằng co này là của mỗi con người, với sự chung sức của xã hội. Trong cuộc chiến đấu để tiến hoá ấy mỗi con người đều là đồng đội của nhau.

    Nhưng khi hai kẻ thù vô hình đó trong con người thắng thế thì chúng làm cho những con người, vốn là những đồng đội, quay súng bắn nhau và trở thành những kẻ thù hữu hình của nhau. Trong tình thế đó, con người một mặt phải chiến đấu thực sự để tự vệ, một mặt phải khôn ngoan tìm cách đưa nhau ra khỏi tình huống ấy để lại trở về thành bạn, thành đồng đội. Như vậy về nhận thức phải hiểu kẻ thù chỉ là một khái niệm có tính chất tình huống, không có ai trên đời mà "về bản chất là kẻ thù" của ai cả.

    Điều thật đáng tiếc là học thuyết Đấu tranh giai cấp đã coi sự đối lập giữa giai cấp bị trị và thống trị là mối quan hệ thù địch về bản chất, một mất một còn, không thể điều hòa, khoan nhượng (Engels còn nhấn mạnh rằng điều này thì "bọn dân chủ tiểu tư sản không bao giờ có thể hiểu được"!). Như đã trình bày ở phần về cấu trúc xã hội: thống trị và bị trị chỉ là hai cực đối lập tất yếu và thường xuyên của mọi cấu trúc xã hội, vừa tương khắc vừa tương sinh một cách biện chứng, không bên nào có quyền dùng vũ lực đẩy bên kia ra khỏi cộng đồng thống nhất ấy. Không được thủ tiêu đấu tranh,thậm chí phải đấu tranh ác liệt, nhưng rốt cuộc vẫn phải đi đến một phương án dung hòa, trong đó có quyền lợi mỗi bên và lợi ích xã hội. Không thể vì thực trạng ác liệt hoặc vì sự thắng lợi của một phong trào tranh đấu hoặc nhân danh nhân dân mà cho phép một học thuyết được tuyệt đối hoá, bản chất hóa khái niệm kẻ thù, là một khái niệm vốn chỉ có tính chất tình huống. Cơ sở lý luận để người ta yên tâm trong thái độ chuyên chính cực đoan đối với "kẻ thù" là cho rằng có một ranh giới thật rạch ròi giữa "ta" và "địch", nhưng kẻ thù vốn chỉ là một khái niệm có tính chất tình huống nên thực tiễn lịch sử đã cho thấy một quan niệm cực đoan về kẻ thù bao giờ cũng bị lợi dụng để trừng trị nội bộ.

    Quan niệm kẻ thù giai cấp đã gây nỗi kinh hoàng, đã tạo ra một số lượng "kẻ thù" quá đông, quá sâu, quá lâu, đã làm cho chúng ta bị thất tán đi không biết bao nhiêu anh em, bầu bạn. Thật nguy hiển khi lòng căm thù giai cấp được nâng lên thành một biểu tượng đầy tự hào của cái Tâm lẫn cái Trí. Trong cuốn Sicile, miền đất dữ, Mario Puzzo viết: "Một người tin vào đức hạnh của mình thì có thể nguy hiểm và tàn bạo hơn một người tin vào sự xảo quyệt của mình. Bởi vì cơn cám dỗ của điều thiện đã cho người ta sức mạnh và an tâm lao vào sự tàn bạo mà vẫn tưởng mình là hiệp sĩ của cái thiện! ".

    2) Mấy đặc điểm của sự tiến hoá trong xã hội loài người.

    Sự tiến hoá của loài người một mặt vẫn tuân theo những quy luật về tiến hoá trong giới sinh vật nói chung, một mặt mang những đặc điểm riêng do chỗ loài người biết chế tạo và sử dụng công cụ và là sinh vật có trí tuệ.

    a) Trí tuệ là cốt lõi của sự tiến hóa.

    Sinh vật thích nghi với môi trường trực tiếp bằng cơ thể nên sự tiến hóa của chúng là sự thay đổi cấu tạo cơ thể để thích nghi cao hơn. Con người thích nghi với môi trường bằng công cụ và những sản phẩm do mình chế tạo ra (chẳng hạn cần bay thì chế ra máy bay chứ không biến hai tay thành đôi cánh) nên sự tiến hoá ở loài người thể hiện ở sự cải tiến công cụ, công cụ cải tiến được là do tiến bộ về trí tuệ. Điều đó nay đã rõ như ban ngày, chẳng cần phải lý giải dài dòng. Nhưng Marx lại tiếp cận với quy luật tiến hoá từ "cửa ngõ" quyền lợi, nên đi lòng vòng mãi vẫn không thoát ra khỏi cái mê lộ (labyrinthe) của "chiếm hữu", "bóc lột", "đối kháng giai cấp"...Mặc dù biết cách mạng là sự chuyển xã hội sang một phương thức sản xuất có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cao hơn, nhưng lại rút ra quy luật: đấu tranh giai cấp mới là động lực của phát triển; và đi đến kết luận: vấn đề quan trọng nhất của mọi cuộc cách mạng là Chính quyền! Mặc dù biết "Chỉ có đem toàn bộ hiểu biết của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình thì mới trở thành người Cộng sản" (Lénine), nhưng lại xếp Trí tuệ (khoa học, tư tưởng...) ở "kiến trúc thượng tầng" là cái bị quyết định bởi kết cấu kinh tế của "cơ sở hạ tầng", và ngay trong cái "kiến trúc thượng tầng kia": Trí tuệ cũng chỉ có vai trò hỗ trợ, còn yếu tố quan trọng nhất của "kiến trúc thượng tầng" vẫn là Chính quyền Nhà nước!

    Bức tranh cổ động của xã hội ắt phải vẽ anh công nhân đi đầu, tay cầm búa (đôi khi cầm chiếc gậy chọc lò), tay kia giơ cao chỉ lối, tiếp đến là chị nông dân tay cầm liềm tay ôm bó lúa, tiếp đến là anh bộ đội súng sáng lưỡi lê, và lấp ló sau cùng mới đến một anh nhỏ thó, lặc lè chiếc kính cận trước mặt cuốn sách dày cộm ngang hông, và chỗ đó hẳn là nơi cất dấu "toàn bộ hiểu biết của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình"! Tinh thần của bức tranh và tinh thần toát lên từ nội dung lý luận của học thuyết là hoàn toàn nhất quán.

    Sự đi chệch hướng tiến hoá ấy bắt nguồn từ những khiếm khuyết thuộc hai luận điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học: Bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư, và đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội. Nội dung cả hai luận điểm ấy cùng toát lên một điều là chưa thấy vai trò cốt lõi của Trí tuệ trong quá trình tiến hoá.

    - Vấn đề bóc lột giá trị thặng dư.

    Chủ nghĩa tư bản có bóc lột công nhân, điều này ai cũng công nhận, nếu nhận thức dừng ở đó thì không có gì phải bàn. Nhưng lý giải cặn kẽ sự bóc lột ấy để tìm ra điểm nút mới là điều phải bàn vì nó quyết định sự đúng sai của giải pháp.

    Những công thức tính toán kinh tế của Marx nói lên điều mấu chốt rằng: Trong quá trình lao động người công nhân đã tạo ra cho nhà tư bản một số sản phẩm có giá trị cao hơn giá trị mà nhà tư bản trả lại cho anh ta bằng tiền lương. Một bên làm nhiều mà hưởng ít, một bên không làm mà hưởng nhiều. Toàn bộ sự hưởng thụ của nhà tư bản có nguồn gốc từ phần lao động "thặng dư" của công nhân. Chỉ có phá bỏ kiểu sản xuất ấy đi thì người công nhân mới hết bị bóc lột.

    Khi ta là người lao động làm thuê cần đấu tranh với chủ đòi tăng lương, giảm giờ làm thì ta thấy ngay sự "hợp lý" đanh thép của cách tính toán và lập luận ấy. Nhưng khi là người có trách nhiệm phải tổ chức sản xuất và điều hành xã hội thì ta sẽ thấy ngay rằng vấn đề không phải vậy.

    Sản xuất công nghiệp là quá trình sản xuất mang tính toàn xã hội, trong đó cần sự tham gia của rất nhiều thành tố: tiền vốn nói chung, nguyên liệu, máy móc, người quản lý, quy trình kỹ thuật, cán bộ kỹ thuật, công nhân đứng máy, lao động phụ giản đơn...Sau khi sản xuất phải được tiêu thụ, và lãi (hoặc lỗ) phải được phân phối cho tất cả các thành viên tham gia. Đây là sự hợp tác đa phương chứ không phải song phương. Cách đơn giản hoá để quy về thành song phương là gượng ép. Và trong mỗi mối quan hệ đều phải có tính "hai chiều" chứ không thể "một chiều". Thật là phi lý khi trong các thành viên ấy có một thành viên chỉ biết tính "chi phí calo cho lao động" của mình và đòi cho đủ còn sự thể toàn bộ ra sao thì không cần biết tới. (Quả thực công nhân là thành viên thường bị thiệt thòi nhất, nhưng không thể bênh vực công nhân bằng kiểu lôgích ấy). Đó là điều "phức tạp" nhất.

    Trong sản xuất công nghiệp thì sản xuất và tiêu thụ gắn với nhau một cách hữu cơ, nếu tách rời ra thì tính sao được lỗ lãi, nói chi đến sản xuất "mở rộng" hay không mở mở rộng, mà mỗi thành viên trong sản xuất cũng đồng thời là thành viên trong tiêu dùng. Chưa thấy mối tương hỗ này nên Marx đã dựa trên thực tế lúc đó mà tách tiêu dùng ra khỏi sản xuất, thậm chí đối lập nó. Marx nghĩ rằng người công nhân ngày càng trở nên xa lạ với sản phẩm do mình làm ra, sản xuất càng có lãi thì mình càng trở nên bần cùng, sản phẩm sẽ phải đổ đi và sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể tiếp tục phát triển. Nhưng cuộc sống đã không chạy vào cái ngõ cụt siêu hình mà Marx tưởng tượng. Nhà tư bản phải tính xem sản xuất cái gì và phải trả lương cho công nhân ra sao để chính công nhân ngày càng mua được nhiều sản phẩm, để nhà tư bản có thể tiếp tục thu nhiều lợi nhuận và tiếp tục mở rộng sản xuất, và thực tiễn đang là như thế. Sau một vòng sản xuất phải có lãi, đó là điều kiện tất yếu để có tái sản xuất mở rộng, xã hội nào cũng phải làm như vậy, và tất cả mọi người trong xã hội đều cần điều đó. "Lợi nhuận" sau sản xuất chỉ tạo ra tiền đề để có khả năng xảy ra bóc lột chứ không phải nguyên nhân sinh ra bóc lột. Phân phối có công bằng hay không lại là chuyện khác, sẽ nói dưới đây. Đó là điều "phức tạp" thứ hai.

    Điều "phức tạp" thứ ba là cơ sở để tính "giá trị lao động". Không riêng gì lao động của công nhân mà tất cả các yếu tố tham gia trong quá trình sản xuất, suy cho cùng đều là sản phẩm từ lao động chân tay và trí óc của con người. Những lao động ấy có thuộc tính hết sức khác nhau, từ những nguồn hết sức khác nhau, qua những quá trình sản xuất bằng những cách hết sức khác nhau, và tạo ra những hiệu quả cũng hết sức khác nhau. Không một phương pháp nào, không một máy tính nào có thể giúp con người tính đúng được giá trị của tất cả những đóng góp ấy trong sản phẩm. Nghĩa là về bản chất thì khái niệm "công bằng" hay "hợp lý' không phải là những tiêu chuẩn khách quan có thực, khái niệm "bóc lột" cũng vậy. Mọi sự tính toán chỉ là tương đối, và chấp nhận sự tính toán ấy hay không là do sự thỏa thuận, do quy ước, do tương quan cụ thể tại thời điểm ấy quyết định. Tương quan phân phối là kết quả của cạnh tranh và đấu tranh liên tục. Kết quả ấy thể hiện một phần trong những bộ luật, khế ước, thông lệ...Trong một cơ chế xã hội càng dân chủ thì sự phân phối càng có tính "công bằng" hơn thôi, chứ không thể biết đến đâu là có sự công bằng đích thực. Vì thế khái niệm "một xã hội không còn người bóc lột người" là một khái niệm không thể hiểu được. Chống bóc lột bằng cách thực hiện quyền lực chuyên chính và xóa tư hữu là giải pháp hoàn toàn lộn ngược. Muốn có sự công bằng tương đối trong phân phối (chứ không phải trong sản xuất! ) thì một mặt phải làm cho mọi người đều có sở hữu tư nhân, một mặt phải xây dựng cho xã hội một cơ chế dân chủ pháp trị, chống độc quyền Đảng trị.

    Điều "phức tạp" thứ tư mới là quan trọng hơn cả đối với tiến hoá. Theo Marx thì chỉ có sức lao động mới có khả năng tạo ra giá trị cao hơn giá trị đã mua nó, và "lao động sống" của người công nhân là nguồn duy nhất tạo ra giá trị thặng dư, vì thế chỉ có phần vốn để mua sức lao động mới là tư bản "khả biến", vốn để mua máy móc thì thuộc về tư bản "bất biến". Ta tin ngay vào lập ấy vì quả thực máy móc dù tốt đến đâu cũng phải qua bàn tay "lao động sống" của người công nhân mới ra được sản phẩm. Nhưng một tư duy như thế là cùng loại với "tư duy" rằng trong một máy truyền hình màu thì các công tắc mở là quan trọng hơn cả, không có nó thì trăm nghìn linh kiện hiện đại cũng chỉ im lìm như chết! Khả năng sản xuất tự động đã giúp những người không quen tư duy nhận ra điều này. Một thiết bị hiện đại cũng có thể tạo ra cho chủ nó một tổng giá trị cao hơn nhiều so với tiền mua nó chứ, có thể chỉ sau một thời gian sản xuất là thu đủ vốn, và từ đó trở đi toàn bộ hoạt động của nó là phần "cống hiến thặng dư" cho chủ.

    Trong sản xuất công nghiệp thì trí tuệ mới là yếu tố quyết định và càng ngày càng trở nên quyết định hơn, và yếu tố ấy chủ yếu (cần nhấn mạnh chữ "chủ yếu") không nằm trong "lao động sống" của công nhân, dù đó là công nhân kỹ thuật. Tầm trí tuệ của một quá trình sản xuất công nghiệp trước hết là ở quy trình công nghệ, ở mức độ ưu việt của máy móc và vật liệu kỹ thuật, ở trình độ các chuyên gia và kỹ thuật viên, ở năng lực tổ chức và quản lý...Ở bề sâu hơn thì trí tuệ đã kết tinh ở sự tập trung vốn, ở những nghiên cứu cơ bản, ở thông tin, ở năng lực tiếp thị, ở năng lực dự đoán và chấp nhận may rủi...nghĩa là ở toàn những khâu trung gian, gián tiếp, ở lao động quá khứ. Sản xuất càng hiện đại thì lợi nhuận càng được sinh ra từ phần tư bản mà Marx gọi là "bất biến'. Và khi tính tiền công mà nhà tư bản phải trả cho công nhân Marx đã không tính đến cái giá mà người công nhân phải trả cho nhà tư bản vì điều này: "Năng lực lao động sẽ không là cái gì hết, nếu không bán được nó"(7).

    Trong một bài viết trên báo Nhân dân, tác giả đã công nhận: "Giá trị hàng hoá được tạo ra không phải do sức lao động, mà do cách lao động! ". Mà "cách lao động" thì thuộc về quy trình công nghệ, thuộc về những yếu tố của trí tuệ và của chủ đầu tư đã quy định, chứ đâu phải tùy ý người công nhân? Khi phải ở địa vị người tổ chức xã hội ta mới thấm thía cái cảnh: sức lao động của xã hội thì cứ thừa ứ ra mà tất cả cứ khoanh tay nhìn nhau chịu đói, chịu thiếu. Tư liệu sản xuất thì vẫn là của chung đấy, cảnh "trấn lột" nhau bằng đủ mọi kiểu thì chỗ nào cũng có, nhưng tìm một nơi "bóc lột" cho đàng hoàng để bán sức lao động thì tìm không ra, vì kiếm được một người có vốn lớn, một quy trình công nghệ hữu hiệu, một équipe đủ năng lực điều hành. một năng lực dự đoán và dám đương đầu với rủi ro thì đâu có dễ?

    - Vấn đề "Đấu tranh giai cấp là động lực của sự phát triển".

    Hoạt động đấu tranh làm cho một hệ thống tĩnh trở nên động, điều này rất hợp với thuyết tiến hoá của Darwin nên mệnh đề "Đấu tranh là động lực" rất dễ được mọi người thừa nhận. Mà đấu tranh trong một xã hội có giai cấp thì là "đấu tranh giai cấp" chứ gì nữa? Cho nên chẳng ai nghi ngờ gì khi kết luận rằng: "Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển trong xã hội có giai cấp!".

    Nhưng vấn đề lại không phải vậy! Một khi đã xác định rằng sự thắng thua trong tiến hoá là sự thắng thua về năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thì những nhân tố của sự đấu tranh ấy cũng phải là nhân tố trực tiếp quyết định năng suất và chất lượng chứ? Nhân tố ấy không thể là gì khác ngoài trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý...tức là trình độ của Trí Tuệ. Vậy thì "sự thi đua Trí Tuệ" hay "đấu tranh TRÍ TUỆ" mới là động lực của sự phát triển, chứ không phải sự Đấu tranh Giai Cấp!

    Sự thắng thua về trí tuệ quyết định trình độ cả một nền sản xuất mới là mối "quan hệ dọc", quan hệ tiến hoá. Còn hiện tượng đấu tranh giai cấp chỉ có tác dụng giải quyết sự công bằng trước mắt, tức thuộc "quan hệ ngang", có thể có ảnh hưởng thúc đẩy đối với sự phát triển, nhưng không phải là động lực trực tiếp quyết định sự phát triển, thậm chí có khi nó làm hại cho sự phát triển nữa.

    Khi cần nói đến Trí tuệ, đến Tri thức tiên tiến thì Marx lại nhập nhân tố đó vào giai cấp công nhân luôn cho nhất quán: Về lợi ích thì giai cấp công nhân đã "đại diện" cho lợi ích chân chính của các giai cấp khác, về trí tuệ thì giai cấp công nhân lại là "tiêu biểu" cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất. Nếu có một giai cấp "đại diện" được cho quyền lợi lẫn trí tuệ của cả nhân loại như thế thật thì đấy đúng là một giai cấp thần thánh. Và Đảng lại là đội tinh hoa nhất của giai cấp thần thánh đó, thì nhân loại cứ việc yên tâm mà phó thác hết vận mệnh của mình, trao hết "tay hòm chìa khóa", chẳng cần gì đến "cơ chế hãm" cũng là điều đương nhiên thôi!

    Nhưng ý tưởng lãng mạn ấy của Marx không thể không không vấp phải một thực tế là "Phong trào công nhân tự nó thì cùng lắm cũng chỉ dẫn đến chủ nghĩa Công đoàn! ", muốn cải tạo thế giới cần phải có lý luận, tức là cần có ý thức hệ viết thành chủ nghĩa, lý thuyết này lại "phải do những người trí thức hữu sản viết ra". Sở dĩ những người trí thức hữu sản lại đi viết ra hệ tư tưởng vô sản (! ) vì họ đã biết "từ bỏ giai cấp của mình để đầu hàng giai cấp vô sản" (!) (trong khi ở những người khác thì "lập trường giai cấp là yếu tố mang tính bản chất, khó thay đổi được" (!). Chỉ vì quá thương giai cấp cần lao trong buổi đầu thối nát của chủ nghĩa tư bản mà một đầu óc như Karl Marx bị sa vào cái màn đại bi kịch của Tư duy như thế!

    Chỉ có sự tích lũy và gia tăng không ngừng của Trí tuệ, chỉ có sự cạnh tranh, cọ xát của Trí tuệ mới làm cho xã hội trở nên văn minh hơn!

    Đã có những lúc Marx tiến sát tới chân lý đó. Ầy là khi Marx nói: Lịch sử của Tư duy bắt đầu từ đâu thì lịch sử của xã hội loài người cũng bắt đầu từ đó! Ầy là khi Marx phát hiện ra tính "năng động" của xã hội nằm ở "lực lượng sản xuất" chứ không nằm ở "quan hệ sản xuất". Đáng lẽ Marx phải nói tiếp: Trong "lực lượng sản xuất" thì tính "năng động" phải nằm trong bộ óc chứ không ở chân tay được, và như thế thì con người tiêu biểu cho "lực lượng sản xuất" tiên tiến lại không thể là giai cấp công nhân được!

    Chỉ cần nhận thức chính xác một điều ấy thôi thì mọi chuyện đều thay đổi hết: Đã là Trí tuệ thì phải kế thừa, tích lũy tiệm tiến chứ không thể dùng đột biến Cách mạng để xóa bỏ thay thế. Phải là hoạt động của những đầu óc cá nhân trong sự hài hòa rộng mở với nhân loại chứ không phải vấn đề giai cấp, không phải là sự đối kháng giữa hai phe. Phải ở mặt trận kinh tế, sản xuất, văn hoá chứ không ở nơi chính trị, tư tưởng và chớp thời cơ giành chính quyền (chuyện đánh giặc cứu nước lại là chuyện khác). Phải là sự đấu tranh lâu dài để ngày càng công bằng hơn chứ không phải phá bỏ cái phương thức sản xuất công nghiệp đang làm cho sản xuất phát triển. Phải thực hiện dân chủ tự do để làm xuất hiện và chọn lọc các sản phẩm sáng tạo của trí tuệ chứ không phải dùng chuyên chính công nông để xếp đặt mọi việc của xã hội trong lòng bàn tay. Kẻ thù chính của sự kém trí tuệ nằm ngay trong đầu mình chứ không phải bàn tay phá hoại của nước này nước khác... Tóm lại chỉ cần một điểm ấy thôi đủ làm sụp đổ cả học thuyết xã hội của Marx-Lénine.

    Theo Engels đánh giá thì học thuyết xã hội của Marx ra khỏi được tình trạng "không tưởng" là nhờ phát kiến khoa học: khám phá sự bóc lột giá trị thặng dư và quy luật đấu tranh giai cấp trong sự phát triển duy vật của lịch sử (tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản). Song, như đã phân tích ở trên, đây lại chính là hai điểm thiếu khoa học nhất trong lý luận của Marx. Thế là cái vòng "không tưởng" như một tất yếu trong thời đại của Marx đã không để cho ông thoát ra!

    Ngày nay chúng ta biết quá rõ rằng con người chỉ có thể tự giải phóng mình bằng trí tuệ của mình. Mỗi phát minh về khoa học (nhất là khoa học kỹ thuật thông tin) làm cho con người trên toàn thế giới có tự do thêm một chút, sự ngu dốt và cái "ác tâm" phải lùi thêm một chút. Chúng ta biết rằng Trí tuệ đang trở thành yếu tố sản xuất trực tiếp, rằng sinh quyền đang trở thành "Trí quyền", rằng quyền lực xã hội đang chuyển sang tay Trí tuệ...nhưng đem những điều ấy bổ sung vào cho học thuyết Marx thì có nghĩa là phải thay đổi tận "hòn đá tảng" dưới cùng.

    b) Nguyên tắc "quán quân".

    Nói về trình độ nhảy cao của một nước, một năm, người ta chỉ nêu kỷ lục của người đoạt giải quán quân nhảy cao của nước đó hoặc năm đó, không ai lấy trình độ của mấy chục triệu người rồi chia ra lấy trung bình cộng. Tri thức cũng vậy, một người tìm ra một định luật nào đó có nghĩa là loài người đã có tri thức đó. Mức độ văn minh của xã hội được đo ở những đỉnh, trình độ trí tuệ của một dân tộc được đo ở tầng lớp trí thức của dân tộc đó. Vì thế xã hội phải chăm lo sao cho xuất hiện được những đỉnh ngày càng cao và toàn xã hội sẽ được hút lên theo những đỉnh đó. Song tư tưởng bình quân của chủ nghĩa xã hội trong nhiều năm đã chỉ đạo chẳng những quan hệ kinh tế mà cả các mặt xã hội khác, trừ lĩnh vực quyền lực. Không gian xã hội quyền lực như có một trường hấp dẫn ngược với sức hút trái đất, con người như bị hút lên cao, mà đã lên thì khó đẩy xuống được. Mọi thứ đều "của toàn dân", riêng quyền lực thì "Đảng ta kiên quyết không chia xẻ với ai cả". Trong thế giới của quyền lực tập trung thì những "đỉnh cao" điển hình hẳn phải là Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Pol Pot, v.v... Thế là cái gì mà quy luật yêu cầu chia ra thì ta đem tập trung lại, cái gì quy luật yêu cầu tập trung thì lại dàn đều ra. Bệnh bình quân đã nhận ra từ lâu, nhưng "đỉnh cao" không thể mọc lên từ một cái nền còn quá thấp, và căn bệnh bình quân vẫn còn nằm trong gốc của chủ nghĩa, tình trạng lấy cái thấp làm chuẩn để "gọt" cái cao vẫn còn phổ biến. Xã hội không thể lấy điểm tựa ở sự bần cùng!

    c) Nguyên tắc tích lũy, kế thừa và giao thoa.

    Đời sống động vật hầu như cắt rời khỏi các thế hệ trước nó và các thế hệ sau nó (nhiều lắm cũng chỉ là có mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái, con cái bắt chước các tập tính và "kinh nghiệm" của bố mẹ). Các thế hệ nối tiếp nhau như một đường răng cưa nằm ngang, mỗi thế hệ đều bắt đầu lại từ đầu. Sự tiến hoá thường xuyên hầu như không có, tiến hoá chủ yếu do các đột biến trong nhiễm sắc thể, những biến đổi sâu sắc hàng ngàn vạn năm mới chọn lọc được và dẫn tới việc hình thành loài mới, loài phụ mới...

    Loài người thì khác hẳn, nền văn minh từ các thế hệ rất xa xưa cũng được ghi lại trong các sách vở, công trình, công cụ, đồ dùng...nên các thế hệ sau không phải đi lại từ đầu mà được "đứng lên vai" thế hệ trước rồi tiếp tục đi lên. Do sự tích lũy và kế thừa mà thế hệ sau văn minh hơn thế hệ trước, trong khi cấu tạo cơ thể vẫn không thay đổi. Các thế hệ nối tiếp nhau thành một đường thẳng đi lên liên tục, xen kẽ với những thời kỳ nổ bùng cách nhau vài thế kỷ, đó là những thời kỳ chuyển cấp văn minh. Nhiều người đồng ý với nhận định rằng loài người có ba cấp văn minh là văn minh Nông Nghiệp, văn minh Công Nghiệp và đang tới là văn minh Tin Học. Quy luật phát triển không đều làm cho cả ba cấp văn minh đều cùng tồn tại song song và giao thoa với nhau. Ý thức của con người tác động vào quy luật theo cả hai chiều kìm hãm và thúc đẩy, bảo thủ và cấp tiến, nên tại những điểm "gối đầu" và giao thoa xã hội phân hóa phức tạp và trăn trở dữ dội. Có tình trạng một nước, cái văn minh Công nghiệp cùng một lúc bị sự công kích theo hai chiều ngược nhau của cả hai cái văn minh Nông nghiệp lẫn cái văn minh Tin học! Những biểu hiện đặc trưng của các phương thức sản xuất hoặc của các nền văn minh chỉ rõ nét ở các nước tiên phong, còn ở các nước hậu tiến, do tác dụng giao thoa nên các nền văn minh "lai" nhau, mâu thuẩn xã hội không được giải quyết dứt khoát mà dai dẳng, pha trộn phức tạp. Đặc điểm hậu tiến ấy cộng với "tâm lý châu Á" (sẽ phân tích rõ hơn ở phần về tính cách Việt Nam) đã tạo ra diện mạo riêng của "Phương thức sản xuất châu Á" cũng như "Phương thức đổi mới kiểu châu Á" của các nước xã hội chủ nghĩa châu Á hiện nay.

    Từ con thú hoang dã lên được tới cấp văn minh ngày nay là do con người liên tục tích lũy, liên tục kế thừa. Nhưng cách đặt vấn đề của chủ nghĩa Marx-Lénine đã chận đứng sự kế thừa đó. Từ học thuyết ấy toát lên một tinh thần rằng: Lịch sử chỉ đi tuần tự liên tục cho tới khi có Cách mạng Vô sản, từ Cách mạng Vô sản trở đi lịch sử sang một kỷ nguyên khác hẳn. Cách mạng Vô sản chuyên làm những việc chưa hề có trong lịch sử.

    Vấn đề Chính quyền là một ví dụ: Theo chủ nghĩa Marx thì mọi Nhà nước từ xưa đến nay đều là công cụ thống trị của thiểu số đối với đa số, vô luận Nhà nước nào cũng đều không dân chủ, đều không có tính nhân dân (kể cả dân chủ đại nghị), đều không tự nguyện rời khỏi vị trí, và chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới thủ tiêu nó được. Còn Nhà nước Chuyên chính Vô sản thì là công cụ thống trị của đa số đối với thiểu số, nên dẫu chuyên chính nó vẫn dân chủ gấp triệu lần, không ai thủ tiêu nó được nhưng nó sẽ tự nguyện tiêu vong, rồi đây nó sẽ tự xếp mình vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh chiếc xe quay sợi và chiếc búa bằng đồng (8). Nhưng điều quan trọng là ở chỗ này: trước khi tự tiêu vong nó phải được tăng cường sức mạnh để là "một chính quyền sắt", "có một bàn tay sắt" để "diệt trừ chủ nghĩa tư bản,...thẳng tay trấn áp sự phản kháng của bọn bóc lột, bọn mà người ta không thể nào tước hết ngay được tất cả của cải của chúng, những ưu thế của chúng về mặt tổ chức và về mặt hiểu biết (! ), và do đó trong một thời gian khá dài chúng không khỏi có những âm mưu nhằm lật đổ chính quyền của những người nghèo khổ...Và tất cả những phần tử hủ bại của xã hội cũ, nhất định là đang còn rất nhiều và chủ yếu đều có liên hệ với giai cấp tiểu tư sản..."(9).

    Theo chủ nghĩa Marx thì quy luật phát triển của mọi hình thái kinh tế-xã hội từ trước tới nay là: sức sản xuất phát triển đến cực độ sẽ phá vỡ quan hệ sản xuất tương ứng, kết thúc bằng việc giành chính quyền. Nhưng riêng với xã hội thì: quan hệ sản xuất hình thành trước, rồi mới mở đường cho sức sản xuất tiến lên, và giành chính quyền là việc mở đầu!

    Theo Engels thì những điều trái ngược ấy không có gì là lạ. Engels giải thích:"Cách mạng Cộng sản là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền. Không có gì là lạ nếu trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền"(10).

    Tư tưởng cộng sản không muốn đứng chung với ai khác mình, kể cả thầy mình. Chúng ta đã hết sức công phẫn khi: bị "xếp chung với chủ nghĩa tư bản trong phạm trù "xã hội công nghiệp" (mà thực ra ta đâu đã đạt đến mức đó! ), lại hết sức nguyền rủa những ai bảo chúng ta sẽ cùng với thế giới tư bản hội tụ, hoà nhập trong một thế giới chung tốt đẹp! Và nực cười nhất là các nhà lý luận Mác-xít lại cảm thấy bị xúc phạm khi thấy chủ nghĩa Marx "bị" người ta "hạ thấp" thành "một thứ triết học về con người"! (ta coi triết học về con người là thứ tầm thường, vấn đề là phải cải tạo xã hội kia!).

    Bệnh biệt phái và "kiêu ngạo cộng sản" ấy đến hôm nay vẫn đang là chuyện thời sự. Ai dám bảo là ta đã hết biệt phái và kiêu ngạo khi ta đang tuyên bố sẽ kiên trì đến cùng chính cái chủ nghĩa đã là cội nguồn của bệnh biệt phái và kiêu ngạo ấy? Và bây giờ, việc xưng tên là nước "xã hội chủ nghĩa" để đi làm ăn với thế giới thì khác nào bảo người ta rằng: Các anh hãy chơi với tôi và giúp đỡ tôi để xây dựng cái xã hội văn minh gấp vạn lần các anh!

    Do nhạy cảm, bắt được cái "thần" ấy của chủ nghĩa mà Tố Hữu đã viết nên câu thơ ca ngợi Cách mạng tháng Mười:

    Thuở Anh chưa ra đời
    Trái đất còn nức nở
    Nhân loại chưa thành người
    Đêm ngàn năm man rợ!

    Khi nhà thơ viết những lời trên thì "anh" (Cách mạng tháng Mười) mới ngoài ba mươi (và tất nhiên còn cường tráng chứ không sa sút như bây giờ), còn kẻ bị nhà thơ coi là "chưa thành người" chính là cụ HOMO SAPIENS đã trải qua triệu rưỡi năm tiến hoá với ngót ba tỷ cháu con, trong đó có không biết bao nhiêu là vĩ nhân!

    Cái yếu tố giúp ta có sức mạnh để dám liều mạng ly khai với quá khứ truyền thống của nhân loại chính là cái ảo giác ngỡ mình đã được hào quang của Tương lai dắt tay, nghĩ rằng cái đích sáng lạn sẽ hoá giải hết mọi sai lầm, cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Nhưng luật Tiến hoá cho thấy rằng nếu đứt mạch với quá khứ nhân loại thì tương lai chờ đón chỉ có thể là sự hụt hẫng xuống những thang bậc thấp hơn!

    d) Những nguyên tắc "Tự Do cho con người".

    Nhìn bề ngoài thì tính "có tổ chức" của xã hội dường như được quyết định bởi quyền uy thống trị và thái độ phục tùng của dân chúng. Nhưng chỉ cần ngược dòng lịch sử là thấy ngay tình hình ngược hẳn lại. Quyền uy thống trị và sự phục tùng của dân thì chẳng đâu bằng xã hội nô lệ và xã hội phong kiến, nhưng đấy chính là thời kỳ hỗn loạn nhất trong lịch sử nhân loại. Những đám cướp lớn, những cuộc chiến đẫm máu tàn sát hàng loạt người như diệt kiến. Quyền lực tối thượng khi ấy chẳng qua là Luật Rừng, tức "luật" trong tay kẻ mạnh đặt ra để trị lại một bản năng thú tính ở cực đối lập là tính tự do, hoang dã. Ý thức xã hội của kẻ thống trị lẫn kẻ bị trị đều rất kém.

    Để thoát khỏi tình trạng đó, người ta tìm đến cái TẤM, như biểu thị cao nhất của tình NGƯỜI theo quan niệm thời ấy, và thế giới ngợi ca những nền "đức trị", "lễ trị","nhân trị". Hiện thân của cái tâm thiện chính là các tôn giáo. Tác dụng của tôn giáo đối với tâm linh, đối với giáo dục, không ai là không thấy, nhưng điều bất ngờ là cứ ở đâu mà tôn giáo nắm quyền toàn trị là ở đó con người trở nên cực đoan, không dung nạp được kẻ đối lập và con người càng tàn sát nhau dữ dội. (Chẳng riêng gì cuộc thập tự chinh mà thế giới hôm nay cũng vẫn cho thấy rõ điều đó). Rồi các ý thức hệ khác nhau xuất hiện. Nhưng ý thức hệ nào cuối cùng cũng bộc lộ bản chất là những giáo lý khoác áo khoa học, nên "Ý thức hệ trị" hay "Đảng trị" cũng không khác gì "Tôn giáo trị", đều nằm trong quỹ đạo "Đức trị", luôn có nguy cơ chuyển thành "cực trị" (autoritarisme). Tại sao vậy?

    Bởi nền cai trị dựa trên ý thức hệ hay dựa trên giáo lý tôn giáo đều có ba đặc điểm:

    - Là tiếng nói nhân ái nên chinh phục được lòng người.

    - Chỉ chấp nhận một tiếng nói chính thống đã "linh thiêng hoá" và "độc tôn hoá", không chấp nhận sự bất đồng chính kiến.

    - Những chuẩn mực căn bản đều nằm trong cõi tâm thức, không ai nhìn thấy, không kiểm chứng được.

    Một nền cai trị như thế sẽ đưa xã hội thành thiên đường lý tưởng ngay tức khắc nếu mọi người đều có cái TẤM, đều có ý thức, đều hỷ xả, đều sống vì mọi người, đều biết nghe lời. Nhưng chỉ cần lọt vào đấy một tên vị kỷ ma giáo là cả hệ thống vị tha ấy khó bề chống đỡ, và tất cả trở thành những vật tế thần. Kẻ gian chỉ cần thu mình cho lọt cái khuôn và khi đã lọt được rồi thì xã hội chỉ còn là con rối ngoan ngoãn trong tay hắn, ba đặc điểm nói trên của hệ thống đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện để hắn hành sự rồi.

    Không thấy mặt "tính bản bất thiện" luôn có sẵn trong con người cùng với mặt "tính bản thiện", đó là gốc rễ của lý thuyết cai trị duy tâm siêu hình này. Điều quái ác của tạo hoá là cả "đàn cừu" lẫn "con sói đội lốt cừu" đều "bỏ phiếu" cho phương án duy tâm này một cách đắc ý, đắc thắng. Cái ruột "phi nhân" sẽ phình ra, nằm vừa khít trong cái vỏ "nhân trị" như trong cái áo vốn may đo cho nó vậy. Sự đánh tráo ấy có thể là do sự tính toán từ đầu, nhưng cũng có thể chỉ là kết quả phát sinh tất yếu từ những kẽ hở trong nguyên lý, nhưng kết cục cũng không khác gì nhau. Kẻ thành công trong "sự nghiệp" đánh tráo này không ai hơn được Staline.

    Trả giá bao xương máu cho ảo tưởng "đức trị", con người mới nhận ra rằng: "Bất cứ ai có quyền cũng có xu hướng lạm quyền, họ cứ sử dụng quyền tới khi gặp phải giới hạn" (Montesquieu). Nền "pháp trị" đã ra đời và trưởng thành trong ánh sáng của nhận thức ấy. Cái khó là vừa phải chống độc tài vừa phải chống tự do vô chính phủ (mà công cụ chống tự do vô chính phủ tiện lợi nhất lại chính là độc tài!).

    Muốn vậy, trước hết những chuẩn mực phải được "luật hoá" hết, rõ ràng, cụ thể, không có chuẩn nào nằm trong tim trong óc cả. Luật chỉ nói cái cấm không được làm, ngoài ra ai muốn làm gì thì làm. Không ai được nhân danh bất cứ cái gì để can thiệp vào việc của người khác mà luật không cấm. Việc ấy chính là dọn sạch cái mặt bằng cho con người được tung tăng chạy nhảy và không còn bụi rậm cho sự độc tài ẩn nấp. Điều thứ hai là cơ quan quyền lực phải do dân bầu ra một cách tự do và trực tiếp, và định kỳ phải đem ra bầu lại. Song thế vẫn chưa đủ, quyền lực không thể đơn nguyên, tức là không thể từ một nguồn. Tùy từng nước mà phối hợp linh hoạt giữa chế độ lưỡng đảng, đa đảng với chế độ "tam quyền phân lập" để sao cho có sự bảo đảm rằng quyền lực vẫn được tập trung hữu hiệu mà sự sai trái của một cá nhân hay một bộ phận không có khả năng kéo sụp cả nền dân chủ công bằng tương đối mà xã hội đã thiết lập được...

    Sự tập trung, thống nhất của nền "pháp trị" là sự thống nhất lành mạnh bởi nó là kết quả đấu tranh của các mặt đối lập, thế là hợp quy luật biện chứng. Cái gì tốt đẹp trong lòng, trong ý thức phải được "vật chất hóa" thành các cơ chế, thế là duy vật. Trong quan hệ xã hội pháp trị, lòng tốt phải trở thành thừa. Dân cử ra chính quyền, nuôi chính quyền, nhưng yêu cầu chính quyền phải đứng tách ra, "đối lập" với dân, người dân sai là trừng trị thẳng tay. Thế mới là của dân, do dân và vì dân. Trong hệ thống pháp trị ấy các đảng phái, các tôn giáo cũng như các đoàn thể khác đều là những tập hợp của công dân, nằm ở phía dân, chỉ "lãnh đạo" trong nội bộ đoàn thể mình, không thể nằm ở phía "lãnh đạo" của xã hội được. Lãnh đạo của xã hội chỉ có thể là các cơ quan quyền lực do toàn dân bầu ra. Nhân dân không thể trao vận mệnh của mình cho một tổ chức mà nhân dân không khống chế được. Nếu một đảng nào đó được "hiến định" là lãnh đạo xã hội thì xã hội ấy không tài nào trở thành một xã hội pháp trị được, quanh quẩn rồi lại trở về với "văn minh đức trị" tức "văn minh nông nghiệp", về lâu dài không thích nghi được với công nghiệp hoá và kinh tế thị trường.

    Tóm lại Tự Do chẳng những là khát vọng của con người mà cũng là quy luật của tiến hoá, bởi tự do của các cá nhân và sự giảm tự do của quyền lực thống trị chính là điều kiện cho tính "có tổ chức" của xã hội, làm cho xã hội ổn định, ổn định nhưng không tĩnh mà phát triển.

    e) Nguyên tắc không thể tự do trước quy luật.

    Càng được tự do trong xã hội, càng phát triển nhận thức, con người càng hối hận rằng mình đã đối xử với quy luật qúa tự do. Quy luật là sự ràng buộc vô hình nhưng không cho ai trốn thoát (nên mới thành quy luật!), không cho ai "ăn gian". Một khi ta đã đi chệch quy luật, rẽ vào lối sai, thì sớm muộn gì cũng phải quay trở lại, giải đúng cái bài toán mà ta đã bỏ qua, dẫu sự bỏ qua ấy là cố ý hay chỉ do vô tình.

    Một học thuyết nếu đã có sai lầm ở nơi gốc rễ, ở tư duy chiến lược mà không chịu sửa đổi chính sai lầm ấy, lại tìm cách "bù trừ" bằng sự khôn khéo ở trên ngọn, bằng sự tài tình chiến thuật thì chẳng những sẽ mất công vô ích mà còn bị quy luật bắt phải trả giá, bởi tất cả những "bù trừ" ấy đều là "bù trừ không thích đáng".

    Một chân lý khi được phát hiện sẽ châm ngòi cho nhiều phát hiện khác kế tiếp nhau nẩy nở theo phản ứng dây truyền, nên chân lý bao giờ cũng đơn giản nhưng lại phong phú và nhất quán. Trái lại, một lý thuyết ngay từ đầu đã chệch thì càng suy luận, càng va chạm với thực tế sẽ càng bế tắc, mỗi lần bế tắc lại cần một kiến giải riêng cho thích hợp. Cuối cùng, khi tập hợp lại sẽ thành "thiên kinh vạn quyển" với đầy đủ mọi tình huống, không sót một kẽ hở nào, nhưng xem kỹ lại thì phần này phủ định phần kia, lúc nói xuôi, lúc nói ngược. Người nào áp dụng lý thuyết ấy sẽ mất tính tự chủ, lúc nào cũng phải mở cẩm nang ra tra cứu mà khi thất bại vẫn nghĩ là do mình không theo đúng cẩm nang chứ cẩm nang thì câu nào cũng nói rồi.

    Đã thuộc quy luật thì vấn đề gì chưa giải quyết nhất định nó vẫn quanh quẩn đâu đó thôi. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vốn là một tồn tại tự nhiên, nhưng chúng ta dùng quyền lực để thủ tiêu nó. Thế là nó chui vào ẩn ngay trong quyền lực, từ đó tỏa ra, ngấm ngầm chiếm lấy mọi thứ tư hữu khác. Sau mấy chục năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, cái tư hữu tưởng đã chết mục xương ai ngờ bây giờ "bầu đoàn thê tử" của nó từ đâu chui ra đông thế, mà đều mạnh khoẻ như thể vẫn được nuôi dưỡng trong lầu son vậy?

    Lại đến chuyện thời sự về nhà đất. Nghĩ rằng "giấy rách phải giữ lấy lề" nên ta phải giữ nếp của chủ nghĩa xã hội: đất phải là chung của quốc gia, ai bán sẽ nghiêm trị. Nhưng rồi chẳng ai thèm ngạc nhiên khi thấy hai ngôi nhà hệt như nhau mà giá bán hơn nhau tới chục lần, vì lẽ một mét đất ở mặt tiền thì đắt gấp mười mét đất ở trong hẻm. Thế là dân vẫn "chấp hành nghị quyết" mà vẫn bán được đất. Nếu có ai hoạch hoẹ gì thì người bán đất kia sẽ nhẹ nhàng đáp lại: Đất đai của vua Hùng để lại mà người ta mượn tiếng quốc doanh, người ta bán cả mấy quả đồi cho nước ngoài lấy "puộc boa" đút túi còn chưa phải chuyện to, chứ tôi có bán mấy chục mét đất của bố tôi để lại cũng chỉ là bán cho bà con trong phố...

    Cha ông chúng ta ngày xưa chắc ít khi nói đến chữ "quy luật" nhưng xem ra các cụ hiểu quy luật lắm.

    Một anh chồng nọ nói khoác với vợ về một con rắn khổng lồ mà anh ta đã đo được bề dài chừng ấy, bề rộng chừng ấy hẳn hoi. Chị vợ biết chồng nói khoác bèn cứ lấy cái lẽ của đời thường mà "tấn công" vào cái chiều dài vô lý của con rắn. Anh chồng buộc phải lùi một bước,..một bước, rồi...lại một bước nữa, lùi mãi để con rắn ngắn bớt dần đi cho đỡ chướng. Mỗi lần bị "tấn công" anh lại lùi một chút, và lại cố tình nói cứng như đinh đóng cột, với hy vọng vợ sẽ chấp nhận cho. Nhưng đâu có được, cái "lôgích của quy luật" cứ phải chạy tiếp cho tới khi con rắn nói khoác phải vuông chành chạnh mới hết chuyện được.

    Nghe chuyện Con rắn vuông ấy mẹ tôi, lúc còn sinh thời, chỉ bình một câu: Thật khổ cái anh chàng "cố đấm ăn xôi", biết vợ không tin rồi thì cứ nhận luôn một câu rằng : Ừ, thì tôi cũng nói khoác với u nó một tý" có phải yên chuyện không?

    Ôi, có phải cái tâm lý vừa lùi vừa cầm cự đến cùng trước quy luật kia lại cũng chính là một quy luật?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi